GVHD : Th.s Trần Thanh Sơn
Quản trị bán lẻ
LỜI MỞ ĐẦU
o0o
Trong những năm gần đây thị trường bán lẻ ở Việt Nam luôn được xếp vào top
những thị trường tiềm năng nhất thế giới, thị trường bán lẻ nội địa vốn đã sáng giá lại càng
trở nên hấp dẫn hơn. Các thương hiệu bán lẻ quốc tế xuất hiện ngày càng nhiều, đồng thời
các kế hoạch mở rộng địa bàn hoạt động của các nhà thương mại trong và ngoài nước liên
tiếp được công bố. Điều này càng tạo sự phân hóa giữa các hình thức phân phối hàng hóa:
truyền thống và hiện đại.
Sau hơn một thập kỷ phát triển, bất chấp tỷ trọng trong tổng doanh thu bán lẻ còn
thấp, siêu thị vẫn là nỗi ám ảnh đối với các chợ truyền thống, nhất là ở khu vực đô thị, vì tốc
độ phát triển của chúng. Trên thực tế, các siêu thị đang ngày càng chăm chút hơn về sản
phẩm, dịch vụ, ngay cả với khâu bán thực phẩm tươi sống. Điều này cho thấy siêu thị không
chỉ mong muốn thu hút người đi mua sắm hàng tuần mà còn cả những người đi chợ hàng
ngày.
Trong khi đó hoạt động kinh doanh ở chợ đang ngày càng chịu một sức ép nặng nề
hơn, tuy sức mua của người tiêu dùng tăng nhưng doanh số của kênh phân phối ở chợ lại
giảm mạnh. Một vấn đề lớn cần đặt ra là mạng lưới chợ từ nhiều năm qua đã phát triển khá
sâu rộng và văn hóa chợ đã trở nên hết sức gần gũi, ăn sâu vào đời sống văn hóa, tập quán
tiêu dùng của người dân, chưa kể nếu biết khai thác, chợ còn là “khẩu vị lạ, độc đáo” đối với
khách du lịch quốc tế.
Vậy trong cuộc chiến giữa chợ truyền thống và siêu thị hiện đại, ai sẽ dành phần
thắng? Phải chăng chợ truyền thống sẽ bị diệt vong hoàn toàn? Để trả lời những câu hỏi trên
nhóm đã đi vào nghiên cứu thị trường bán lẻ ở Việt Nam nói chung, ở TP HCM nói riêng
thông qua hai định chế bán lẻ cơ bản là siêu thị và chợ truyền thống
Vì thời gian có hạn và tầm hiểu biết còn hạn chế, bài nghiên cứu không tránh phải
những sai sót, rất mong nhận được sự góp ý của Th.S Phan Thanh Sơn để bài nghiên cứu
hoàn thiện hơn
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
3
Chính số lượng bán hàng mỗi ngày, nhu cầu của người tiêu dùng ra sao thông qua
doanh số thu mua từng mặt hàng trong các hệ thống phân phối bán lẻ giúp nhà sản xuất nắm
bắt được sở thích, thị hiếu khách hàng của mình. Từ đó giúp họ đưa ra các chiến lược sản
phẩm sao cho phù hợp thị trường.
Thông qua hệ thống bán lẻ hàng hóa, mà người tiêu dùng được tiếp cận trực tiếp với
sản phẩm, được tận tay sờ, chạm vào sản phẩm nên dễ dàng bỏ tiền để có sản phẩm đó. Nếu
4
GVHD : Th.s Trần Thanh Sơn
Quản trị bán lẻ
nhà sản xuất không có hệ thống bán lẻ, chỉ thông qua quảng cáo thì người tiêu dùng khó
chấp nhận sản phẩm của họ. Có thể nói bán lẻ đã giúp cho nhu cầu thị trường được thỏa
mãn.
1.2.3. Chia lẻ.
Là việc nhà bán buôn phải thông qua nhà bán lẻ để bán hàng hoá và dịch vụ của minh.
Do đó từ một khối lượng hàng hoá ban đầu mà nhà bán buốn có thể chia lẻ ra cho nhiều nhà
bán lẻ để họ mang đến cho người tiêu dùng. Như vậy các nhà bán lẻ sẽ thông qua khu vực
bán hàng của mình mà cung cấp sản phẩm một lượng sản phẩm chứ không bán lớn như nhà
bán buôn hay nhà sản xuất.
1.2.4. Dự trữ.
Có những mặt hàng khi sản xuất ra thì kho dự trữ hàng hóa là điều làm cho các nhà
sản xuất lo lắng nhất. Như một công ty sản xuất xe hơi hàng đầu ở Nhật, bình quân một
ngày cho xuất xưởng 1000 chiếc xe hơi, họ sẽ làm gì với sản lượng hàng hóa khổng lồ của
mình nếu không có hệ thống bán lẻ cả nước “ giữ hộ”.
Ngoài ra, bán lẻ là hệ thống dự trữ tài chính của các nhà sản xuất. Bởi hiện nay không
phải lúc nào các nhà phân phối cũng giao tiền ngay sau khi nhận hàng từ nhà sản xuất, mà
phải sau một thời gian bán hàng, luân chuyển tiền, thì đồng vốn mới quay trở lại vào tay nhà
sản xuất.
1.3. Các định chế bán lẻ ở Việt Nam.
1.3.1. Specialty store – Cửa hàng chuyên doanh.
Cửa hàng chuyên kinh doanh là một loại cửa hàng chuyên kinh doanh mộtnhóm mặt
Ở đây các hàng hóa hóa được bán với giá cố định kèm theo các dịch vụ ưu đãi như là khách
hàng có thể đổi hoặc trả lại hàng hoá trong khoảng thới gian xác định.
Đến nay Department store có thể được xem là 1 loại hình bán lẻ thịnh hành nhất ở hầu
hết các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước phát triển. Sự phát triển không chỉ dừng
lại ở 1 cửa hàng, ở 1 khu vực mà nó đã phát triển lên thành các chuỗi ở nhiều khu vực, nhiều
quốc gia trên thế giới như David Jones (Úc), Marcy (Mỹ), Sears(Mỹ), Pillars (Mỹ),
1.3.3. Chain store – Chuỗi cửa hàng.
Là một hệ thống các cửa hàng giống nhau về mặt hàng hóa kinh doanh (90% hàng hóa
buôn bán là giống nhau, còn khoảng 10% là các mặt hàng khác do mỗi cửa hàng tự quyết
định và về sở hữu, quản lý thì thống nhất từ một công ty mẹ. Cũng có một khái niệm khác
định nghĩa chuỗi cửa hàng như là một chuỗi bán lẻ gồm hệ thống các cửa hàng bán lẻ giống
nhau ( về hình thức, cơ cấu tổ chức,quản lý…) và thuộc quyền sở hữu của cùng một công ty
mẹ, hoặc thuộc sở hữu của một cá nhân hay công ty khác hoạt động dưới hình thức nhượng
quyền(franchising) hay hợp đồng (contract)với công ty mẹ.
Với số lượng cửa hàng mà nhỏ hơn 10 được xem là chuỗi nhỏ, lớn hơn 10 được xem
là chuỗi lớn. Một hệ thống các cửa hàng giống nhau từ hàng hóa đến cách bài trí sẽ rất dễ đi
vào lòng người tiêu dùng.
Lợi thế của chuỗi cửa hàng:
- Lợi thế quy mô: càng bán nhiều thì càng giảm được chi phí, gồm : phí vận chuyển
giảm, discount lớn, được hưởng các khoản xúc tiến (promotion) từ nhà sản xuất.
- Hưởng được lợi từ một chính sách Marketing chung của công ty mẹ.
6
GVHD : Th.s Trần Thanh Sơn
Quản trị bán lẻ
- Phân tán được rủi ro ở các thị trường khác nhau.
- Hình ảnh cửa hàng được người tiêu dùng chấp nhận.
- Sức mạnh của cửa hàng đối với các đối tác có khuynh hướng tăng lên
Các hình thức của chuỗi cửa hàng:
- Business chains: Là hệ thống các cơ sở (địa điểm) kinh doanh giống nhau, cung
cấp cùng một loại sản phẩm hoặc dịch vụ, sự thống nhất về quản lý, nguồn cung cấp,
Quản trị bán lẻ
sau đã có khoảng 150 siêu thị đang hoạt động tại 25 tỉnh thành. Tốc độ tăng trưởng hàng
năm của kênh phân phối hiện đại này khoảng15%-20%. Từ chỗ chỉ chiếm dưới 3% thị phần
bán lẻ, siêu thị đã tăng lên khoảng trên 20% và tốc độ này vẫn chưa dừng lại. Người tiêu
dùng Việt Nam đã có xu hướng chuyển từ mua sắm tại chợ truyền thống sang mua sắm tại
siêu thị. Ở Tp.Hồ Chí Minh và Hà Nội hiện nay có trên 80% hộ gia đình có thói quen đi chợ
hảng ngày. Chỉ hơn 10% hộ thích đi siêu thị thay cho đi chợ hàng tuần nhưng nếu chỉ đi 1
lần/tháng thì con số tăng lên tới hơn 60%. Một số siêu thị mà người dân đến như Maximak,
Big C, Metro, Citimart,… mỗi siêu thị có những đặc trưng và ưu điểm riêng.
1.3.5. Dollar Store – Cửa hàng một đô.
-Khái niệm: Cửa hàng một đô là loại cửa hàng chỉ bán những món hàng có giá trị thấp
từ một USD trở xuống.
- Sản phẩm kinh doanh (thường thấy trong các cửa hàng một đô).
* Dụng cụ làm sạch: bọt biển, bình xịt, giẻ lau, dụng cụ hốt rác…
* Dụng cụ nhỏ: tua-vít, cờ-lê,đèn pin, móc khóa, dây thừng.
* Dụng cụ nhà bếp: dao, đồ bóc vỏ, chén, đĩa….
* Dụng cụvăn phòng nhỏ: bút, giấy, kẹp giấy, tẩy
* Dụng cụ trang trí trong các ngày lễ:đồ trang trí lễ giáng sinh, trứg phục sinh…
* Dụng cụ làm vườn; kéo tỉa hoa….
* Và nhiều mặt hàng thông dụng có giá trị nhỏ khác như xà bông, đèn pin
- Khách hàng:
* Khách hàng của cửa hàng một đô là mọi thành phần trong xã hội, nhưng đa phần
họ có thu nhập không cao có thể cho rằng là thấp.
* Họ cũng chỉ mua sản phẩm khi họ cần, hoặc sản phẩm hết bất ngờ, không có yếu
tố mua nhiều để giảm giá hay mua dự trữ.
* Độ tuổi của họ cũng rất khác biệt ( ví dụ một em nhỏ thì có thể mua tập vở, một
người nội trợ thì có thể mua chén đĩa…)
* Họ có thể ở thành thị, nhưng thường cửa hàng loại này phù hợp với người dân vùng
nông thôn hơn.
8
khoảng 65% dân số trong độ tuổi lao động, trên 55% dân số dưới 45 tuổi, hơn một nửa dân
số có độ tuổi dưới 30 và thu nhập của người dân ngày càng cao, tốc độ tăng trưởng hàng
năm cao, và dự báo con số tương ứng năm 2018 là 95 triệu (70 triệu dân thành thị). Người
thành thị VN dẫn đầu về tiêu dùng hàng Hi-tech. Việt Nam có mức tăng trưởng GDP cao và
ổn định, theo đó nhu cầu tiêu dùng cũng ngày một tăng lên. Năm ngoái, tăng trưởng GDP là
8,4% và tiêu dùng thông qua thương mại hơn 45 tỷ USD. Số liệu thống kê gần đây nhất cho
thấy, tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ và doanh thu dịch vụ 6 tháng đầu năm 2008 ước
9
GVHD : Th.s Trần Thanh Sơn
Quản trị bán lẻ
tính đạt 447,3 nghìn tỷ đồng, tăng 30% so với cùng kỳ năm trước. Qua đó cho thấy, tiềm
năng phát triển hệ thống phân phối ở nước ta là rất lớn.
Mặt khác sức hấp dẫn của thị trường bán lẻ VN còn do áp lực cạnh tranh giữa các hệ
thống bán lẻ chưa nhiều và VN có đến 65% dân số là người tiêu dùng trẻ, chi tiêu mạnh tay.
Tầng lớp trung lưu với thu nhập 250USD/tháng trở lên đang tăng nhanh. Riêng tầng lớp
trung lưu thu nhập trên 500USD/tháng chiếm trên 1/3 số hộ gia đình ở thành thị. Chính vì
thế, sức hút của thị trường bán lẻ VN tăng nhanh khi năm 2007, VN xếp hạng 2 trên thế giới
sau Ấn Độ, nhưng tháng 6.2008 - theo xếp hạng của Cty tư vấn Mỹ A.T.Keaney (Tổ chức
Nghiên cứu thị trường hàng đầu tại Hoa Kỳ), về chỉ số phát triển kinh doanh bán lẻ toàn cầu
thì Việt Nam đã đứng số 1, được coi là thị trường đầu tư bán lẻ hấp dẫn nhất trong số 30
nước thuộc nhóm thị trường đang nổi lên. Trong danh sách Top 10 thị trường bán lẻ hấp dẫn
nhất, sau Việt Nam là Ấn Độ, giữ vị trí thứ ba là Nga và thứ tư là Trung Quốc; tiếp đến là Ai
Cập, Morocco, Ả-rập Saudi, Chile, Brazil và Thổ Nhĩ Kỳ. Trong các nước ASEAN,
Malaysia đứng thứ 13, Indonesia ở vị trí 15, Thái Lan là 24 và Philippines xếp thứ 26.
Theo các chuyên gia của A.T. Kearney, Việt Nam đạt được bước tiến ấn tượng trong
năm nay là nhờ kinh tế tăng trưởng mạnh, thể chế chính sách đang cải tiến theo hướng thân
thiện với nhà đầu tư nước ngoài và đặc biệt là nhu cầu của người tiêu dùng về những mô
hình bán lẻ hiện đại.
Theo Mike Moriarty, trưởng bộ phận nghiên cứu về tiêu dùng và bán lẻ của A.T.
Kearney, quy mô thị trường bản lẻ ở Việt Nam còn nhỏ, song vẫn rất hấp dẫn bởi áp lực
Số lượng các DN nước ngoài và DN mới tham gia vào thị trường bán lẻ đã và sẽ tăng
lên: có cơ hội hợp tác, chia sẻ công nghệ, thông tin, kinh nghiệm.
Khi phát triển song song hai mô hình bán lẻ truyền thống và hiện đại:
Tiềm năng phát triển mạnh mẽ của bán lẻ hiện đại: phong cách sống mới; thu
nhập và tiêu dùng tăng lên; người tiêu dùng Việt Nam trong thời đại hội nhập;
đa dạng các loại hình bán lẻ hiện đại (từ siêu thị, đại siêu thị, chuỗi cửa hàng
chuyên doanh, tiện lợi… đến trung tâm thương mại tổng hợp) vv …
Sức sống và sự thu hút của bán lẻ truyền thống ở Việt Nam: nét văn hoá riêng,
phong cách “cổ điển”, sản phẩm tươi mới và giá cả cạnh tranh, người tiêu
dùng ở khu vực nông thôn vv …
Hội nhập kinh tế quốc tế: Ứng dụng công nghệ thông tin; Thương mại điện tử;
Các phương thức bán hàng qua điện thoại, qua mạng…
2.1.2. Thách thức của thị trường bán lẻ Việt Nam
Bà Vũ Thị Nga, Trưởng ban Bảo vệ người tiêu dùng, cho biết: “Nhiều doanh nghiệp
kinh doanh hàng nhập lậu, không rõ nguồn gốc nên không thực hiện nghĩa vụ bảo hành. Một
số doanh nghiệp lại thực hiện nghĩa vụ bảo hành không đầy đủ như, vi phạm thời gian sửa
chữa, bắt người tiêu dùng phải chịu chi phí sửa chữa, vận chuyển…”
Thị trường kinh doanh bán lẻ dù đang phát triển nhanh chóng nhưng phần lớn vẫn chỉ
tập trung ở khu vực thành thị. Loại hình kinh doanh bán lẻ hiện đại vẫn chưa đến được
nhiều với người tiêu dùng Việt Nam.
Tác dụng hỗ trợ nông dân, các cơ sở sản xuất và các doanh nghiệp sản xuất lớn thay
đổi cung cách sản xuất theo hướng bài bản chỉ là một phần nhỏ, mà bên cạnh đó, việc các hệ
thống siêu thị của nước ngoài đang và sẽ “làm mưa làm gió” trên thị trường tiêu dùng trong
nước là một điều hết sức nguy hại.
11
GVHD : Th.s Trần Thanh Sơn
Quản trị bán lẻ
Thay mặt Hiệp hội bán lẻ Việt Nam, bà Loan khẳng định: “Trong thời gian tới, phân
phối bán lẻ truyền thống sẽ thu dần phạm vi hoạt động, vẫn tồn tại chợ truyền thống, cửa
hiệu tạp hóa, nhưng số lượng sẽ ít đi. Đồng thời phát triển các loại hình kinh doanh mới
trạng suy thoái kinh tế sẽ còn tiếp tục suy sụp, nhưng những quyết định thương mại sẽ là
“một công cụ tiềm năng” để phục hồi, tổng giám đốc WTO, Pascal Lamy nhận định: Đây là
lần suy giảm thương mại lớn nhất kể từ Chiến tranh thế giới thứ hai, đồng thời ông kêu gọi
các nhà lãnh đạo toàn thế giới đấu tranh chống lại chủ nghĩa bảo hộ.
Thương mại là một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu được thảo luận tại cuộc
họp của các quan chức chính phủ các nước G20 tại London vào ngày 2.3 vừa qua. Ngài
12
GVHD : Th.s Trần Thanh Sơn
Quản trị bán lẻ
Lamy cảnh báo rằng việc sử dụng biện pháp bảo hộ đã tăng lên, với những hậu quả nguy
hiểm: “ hàng nghìn việc làm liên quan đến thương mại đã bị mất. Chính phủ phải tránh để
đưa tình trạng này trở nên tồi tệ hơn khi trở lại với phương pháp bảo hộ, một phương pháp
không thật sự bảo vệ được quốc gia nào và đe dọa nghiêm trọng hơn tới việc làm”
2.2. Thực tế thị trường bán lẻ Việt Nam
2.2.1. Nhận định về các doanh nghiệp bán lẻ trong nước
Việt Nam mới chỉ có một số đơn vị có phương thức kinh doanh và phân phối tương
đối chuyên nghiệp như: Tổng công ty Thương mại Sài Gòn Satra với 40 doanh nghiệp (DN)
trực thuộc, Tổng công ty thương mại Hà Nội, chuỗi siêu thị Citimax, Fivimart, hệ thống
Maxi Mart, CoopMart
Thực tế cho thấy các đơn vị bán lẻ trong nước còn chưa nhiều, lại thiếu tính chuyên
nghiệp và vốn ít; hệ thống hậu cần như kho bãi, xe chuyên dùng, nguồn hàng rời rạc, thiếu
đồng bộ và chưa đạt chuẩn; hạ tầng giao thông kém Hầu hết các nhà phân phối bán lẻ đều
ở quy mô nhỏ, yếu về năng lực, hạn chế về mặt hàng phục vụ, nguồn nhân lực chưa được
đào tạo cơ bản Vì thế, việc mở thị trường bán lẻ cho các doanh nghiệp nước ngoài với trình
độ văn minh thương mại cao là một thách thức rất lớn để tồn tại và phát triển.
Bên cạnh đó, Chính phủ hầu như chưa phát huy được vai trò của mình trong việc
định hướng cũng như giúp đỡ các doanh nghiệp trong nước. Điển hình là việc cấp giấy phép
hoạt động cho các doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài nhìn lại ta sẽ thấy hầu hết những siêu thị,
trung tâm thương mại nước ngoài đều chọn được những vị trí đẹp nhất, gần vị trí trung tâm,
nơi tập trung dân cư, giao thông thuận tiện, mặt bằng rộng.
nhận rủi ro. Ngoài ra, các nhà phân phối và bán lẻ này sở hữu 3 chữ E rất quan trọng đó là
sự thông thạo (expertise), vốn (equity) và kinh nghiệm toàn cầu (experience) trong lãnh vực
phân phối và bán lẻ. Các nhà phân phối và bán lẻ Việt Nam chỉ phân phối và bán lẻ trong
lãnh thổ Việt Nam do vậy thiếu sự thông thạo về các mô hình phân phối và bán lẻ đã và
đang áp dụng trên thế giới. Cùng với sự thiếu thông thạo là sự thiếu hiểu biết về thông tin
của các nhà phân phối và bán lẻ nước ngoài. So với các đồng nghiệp nước ngoài, các nhà
phân phối và bán lẻ Việt Nam không có tiềm lực tài chính đủ mạnh vì chỉ tham gia phân
phối và bán lẻ tại thị trường Việt Nam. Mặc khác, họ lại hoạt động độc lập và thiếu sự liên
kết do vậy không huy động được nguồn tài chính đủ mạnh để cạnh tranh. Cuối cùng đó là
thiếu kinh nghiệm trong quản lý phân phối và bán lẻ cũng như trình độ nhân lực phục vụ
cho ngành phân phối và bán lẻ còn yếu kém.
Nhìn bề ngoài ta có thể nhận thấy sự bùng nổ của các nhà phân phối và bán lẻ Việt
Nam với sự gia tăng với tốc độ chóng mặt về số lượng các cửa hiệu (stores) của CoopMart,
Vinatex, Hapro, G7, Citimart, v.v. nhằm chiếm lĩnh những mặt bằng tốt chuẩn bị đón đầu
với làn sóng của các nhà phân phối và bán lẻ nước ngoài tuy nhiên sẽ là chưa đủ và không
hiệu quả nếu các doanh nghiệp này không hoàn thiện thực chất các yếu tố 3E kể trên.
Nếu không nhìn vào tên, có lẽ chẳng ai nhận ra sự khác biệt giữa các siêu thị Co.op
Mart, Big C hoặc Citimart…Nhỏ hơn một chút là các hệ thống: Hapro, Maximark… Tuy
nhiên, những hệ thống này cũng chưa cho thấy lý do để thuyết phục khách hàng đến với họ
mà không phải là những siêu thị khác. Dường như những siêu thị của Việt Nam chỉ đơn
thuần tạo nên nơi mua sắm có gắn máy lạnh, nhiều hàng hoá và… phải xếp hàng khi thanh
toán. Thấp hơn một chút nữa là các cửa hàng tiện dụng. Tại Việt Nam, chúng ta biết đến
các hệ thống như Shop & Go, Fresh Mart (Tập đoàn CP, Thái Lan), G7 Mart… Ngoài ra,
tại thị trường Việt Nam tồn tại những mô hình bán lẻ theo kiểu chuyên biệt: Nguyễn Kim,
Best Caring, Viễn Thông A…Đây có thể là một xu hướng khả dĩ để đương đầu với sự cạnh
tranh khốc liệt. Bởi chính độ chuyên biệt đã xác định rõ nhóm khách hàng. Chẳng hạn, tới
14
GVHD : Th.s Trần Thanh Sơn
Quản trị bán lẻ
Nguyễn Kim nghĩa là khách hàng muốn mua hàng điện máy gia dụng. Sự chuyên biệt hoá sẽ
thiết lập mạng internet 3 chiều, khởi động mạng internet 3D, kinh doanh ảo EBO và các môi
trường ảo khác.
Theo đó, ban đầu chỉ có vài DN gia nhập thế giới ảo như Sony, Reebok, Nissan…
nhưng đến nay đã có rất nhiều hãng áp dụng thành công công nghệ ảo hóa vào kinh doanh
bán lẻ, tăng cao lợi nhuận như Sears, Adidas, American Apparel, Apple và Samsung. Tại
VN, theo khảo sát của IBM, các hệ thống bán lẻ lớn như Metro CashCary, Big C, Parkson…
đã vận hành các giải pháp công nghệ tiến tiến dành cho ngành bán lẻ, còn các DN VN hiện
chỉ có một số tiến hành dùng thí điểm. Riêng đối với việc gia nhập kinh doanh trong thế giới
ảo thì vẫn còn xa lạ tại thị trường VN.
15
GVHD : Th.s Trần Thanh Sơn
Quản trị bán lẻ
“Chúng tôi cho rằng đây là thời điểm để DN bán lẻ VN đánh giá lại thị trường, xác
định rõ đối thủ cạnh tranh của mình là ai để kịp thời chọn các giải pháp kinh doanh theo xu
hướng bán lẻ hiện đại” - ông Andrew Ma nói.
“Đây là cơ hội đồng thời cũng là thách thức mới của DN, bởi đối thủ cạnh tranh bây
giờ có thể là bất kỳ ai, ở bất cứ nơi đâu. Khách hàng ngày càng có nhiều thông tin, đòi hỏi
cao hơn và có sức mạnh lớn hơn” - ông Andrew Ma cho biết thêm.
Bên cạnh đó, IBM cho rằng sự xuất hiện các chuỗi cửa hàng chuyên biệt và sự có
mặt của các tập đoàn bán lẻ toàn cầu tại thị trường VN cũng góp phần thay đổi diện mạo thị
trường. Các cửa hàng VN muốn cạnh tranh buộc phải cải tiến dây chuyền cung ứng, cải tiến
qui trình kinh doanh để nâng cao năng suất, hiệu quả.
DN bán lẻ nước ngoài có tính chuyên nghiệp rất cao. Họ sử dụng công nghệ hiện đại,
có tiềm lực về tài chính mạnh, có hệ thống hỗ trợ tốt
2.2.2. Thuận lợi và khó khăn của nghành bán lẻ Việt Nam.
Thuận lợi.
Hiện kênh phân phối truyền thống đang chiếm khoảng trên 85% lưu chuyển hàng hóa
bán lẻ.
Về dài hạn, tỷ lệ này giảm dần nhưng về tuyệt đối sẽ tăng lên. Đây là dư địa cho các
doanh nghiệp, hộ kinh doanh Việt Nam vì các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chủ
giản vì phân bổ đất đai cho hạ tầng thương mại của Việt Nam còn chật hẹp, giá thuê lại quá
cao . Tại các tòa nhà thương mại cao cấp ở trung tâm với giá thuê dao động 65 - 150
USD/m2/tháng, tại các vị trí không trung tâm có giá thuê khoảng 25 - 60 USD/m2/tháng.
Phát triển của thị trường bán lẻ Việt Nam
Một loạt sự kiện trong nước và thế giới đang diễn ra khẳng định một điều: người bán
lẻ, người tiêu dùng Việt Nam đang là tâm điểm của thế giới kinh doanh hiện nay. Nhiều nhà
đầu tư đang nhắm đến Việt Nam…
Ngày 01.01.2009 là thời điểm mà Việt Nam mở cửa thị trường bán lẻ theo lộ trình
cam kết khi gia nhập WTO của Việt Nam. Dư luận "đồn đoán" nhiều về số phận của các
doanh nghiệp phân phối, bán lẻ trong nước sẽ bị ảnh hưởng, khi các doanh nghiệp 100%
vốn nước ngoài được tham gia vào lĩnh vực này. Tuy nhiên, theo phân tích của các chuyên
gia thương mại trong và ngoài nước cho thấy sẽ không có biến động lớn trên thị trường ngay
sau ngày mở cửa.
Các doanh nghiệp phân phối, bán lẻ trong nước nói chung, có lợi thế rất lớn về "sân
nhà" với sự thông thuộc, am hiểu một cách sâu sắc văn hóa, thói quen tiêu dùng của người
địa phương, trong khi "nhập gia tùy tục" không phải là chuyện đơn giản mà những "vị khách
lạ" có thể làm tốt trong ngày một ngày hai; ngoài ra các doanh nghiệp phân phối, bán lẻ Việt
Nam còn rất nhiều không gian để phát triển khi mà các đại gia bán lẻ nước ngoài chỉ tập
trung vào những tỉnh, thành phố lớn. Vì vậy, nếu biết tận dụng thế mạnh này, liên tục tiếp
cận, nắm bắt nhu cầu ngày càng cao và khắt khe của khách hàng, tiến hành đồng bộ các giải
pháp để trang bị những điều kiện cần thiết có thể thỏa mãn được những nhu cầu đó, thì các
doanh nghiệp phân phối, bán lẻ Việt Nam hoàn toàn có cơ hội và khả năng thích ứng.
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp phân phối, bán lẻ Việt Nam có lợi thế vượt trội khi
phát triển mô hình cửa hàng tiện lợi; còn các doanh nghiệp nước ngoài khó có khả năng thao
túng phân khúc thị trường này do có nhiều hạn chế từ hiểu biết về tập quán, về thị hiếu, thu
nhập đến thời gian đầu tư và thu hồi vốn, địa điểm bán lẻ, trong khi các doanh nghiệp
phân phối, bán lẻ Việt Nam lại rất dễ thực hiện thông qua việc cải tạo, mua đứt, thuê hoặc
sáp nhập cửa hàng, kể cả các bà buôn thúng, bán mẹt, chỉ cần cải tạo các cơ sở đó thành
17
GVHD : Th.s Trần Thanh Sơn
động cũng như quản lý.
Tính chuyên nghiệp: Kinh doanh bán lẻ hiện đại đòi hỏi nhà quản lý có những công
cụ hỗ trợ để đưa ra các quyết định. Đối với một hệ thống siêu thị, bộ phận mua hàng đóng
vai trò khá quan trọng. Chuyên viên mua hàng chuyên nghiệp có thể điều đình với nhà cung
cấp trên tất cả mọi phương diện từ giá cả, số lượng, thời gian giao nhận hàng, các chương
trình tiếp thị, khuyến mãi, quy cách bao bì, đóng gói Thậm chí họ có thể tư vấn lại cho nhà
cung cấp nên sản xuất hàng như thế nào, tiếp thị, quảng bá ra sao Tuy nhiên, ở khâu này,
dường như các chuyên viên mua hàng của các nhà bán lẻ nước ngoài tỏ ra lấn lướt. Giám
đốc một doanh nghiệp dệt may kể rằng ông chào hàng ở Metro, bộ phận mua hàng ở đây
18
GVHD : Th.s Trần Thanh Sơn
Quản trị bán lẻ
trình bày cho ông xem tất cả những quy chuẩn của ngành hàng, mẫu mã, màu sắc, kích cỡ,
phần trăm cho tiếp thị quảng cáo, những điều khoản hỗ trợ của bên mua và những yêu cầu
với nhà cung cấp Tất cả được vi tính hóa, cập nhật và trình bày rõ ràng, minh bạch cho
nhà cung cấp tham khảo. Trong khi đó, khi ông làm việc với các siêu thị Việt Nam, quá
trình thương lượng diễn ra rất sơ sài. Cho nên khi bộ phận mua hàng từ chối bán hàng của
doanh nghiệp, ông hoàn toàn cảm thấy không thể nào “tâm phục, khẩu phục”.
Từ ba điểm yếu lớn nhất này của hệ thống bán lẻ Việt Nam, có thể thấy trong một
tương lai không xa, việc doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam bị chi phối và mất dần thị phần về
tay các nhà bán lẻ nước ngoài là điều khó tránh khỏi.
Sự đổ bộ của các doanh nghiệp nước ngoài:
Tập đoàn Best Denki, một trong 5 “đại gia” bán lẻ điện máy lớn nhất Nhật Bản đã
“tăm tia” thị trường Việt Nam. Best Denki hiện sở hữu 570 chuỗi siêu thị tại Nhật và 40 siêu
thị ở Singapore, Malaysia, Hồng Kông (Trung Quốc), Indonesia, Với kinh nghiệm 55 năm
thành lập và gần hai năm hoạt động theo phương thức nhượng quyền thương mại với một
DN Việt Nam, Best Denki đã sẵn sàng liên doanh để trực tiếp tham gia thị trường này. Ông
C.J. Raij, Giám đốc bộ phận kinh doanh tiếp thị và phát triển thị trường nước ngoài của Best
Denki cho biết, với mong muốn trực tiếp đầu tư và được tham gia kinh doanh tại thị trường
bán lẻ điện máy ở Việt Nam, Best Denki và các đối tác vừa kết thúc giai đoạn đàm phán và
hiện đang sở hữu 47 siêu thị bao gồm 22 siêu thị tại TP.HCM và và 25 siêu thị tại các tỉnh,
thành phố lớn khác trong cả nước. Các siêu thị Co.opMart có đặc điểm chung là thân thiện,
gần gũi với khách hàng, mang đến cho khách hàng sự tiện lợi và nhiều dịch vụ tăng thêm.
Có thể ví Saigon Co-op và chuỗi siêu thị Co.opMart như một cô gái được mến thương,
không vì nhan sắc lộng lẫy, gia tài kết sù, học vấn siêu hạng, nhưng là nét bình dị, duyên
dáng, đảm đang, ân cần, đầy tình người, đượm phong cách VN, Thương hiệu Co.opMart
đã trở thành một trong những thương hiệu có tên tuổi trên thị trường hệ thống bán lẻ bởi
việc luôn cố gắng hoàn thiện để đem đến sự phục vụ tốt hơn cho khách hàng. Với gam màu
xanh đỏ trắng (Mart màu đỏ, nhỏ nổi bật trên nền màu xanh của chữ Co.op, hai chữ ấy kết
hợp hài hòa trên nền màu trắng) tạo nên một phong cách riêng,độcđáo cho thương hiệu.
Ngoài ra, với slogan (khẩu hiệu): “Bạn của mọi nhà" và "Nơi mua sắm đáng tin cậy" nó đã
trở nên có sức sống thật sự, tồn tại trong "bộ nhớ" của người tiêu dùng chứ không chỉ trên
băng rôn, tờ bướm quảng cáo hay các bản tin hàng hoá thông thường.
3.1.2. Sản phẩm kinh doanh
Hệ thống siêu thị Co.op Mart kinh doanh gần 30.000 mặt hàng, bao gồm: Thực
phẩm tươi sống tươi ngon, thực phẩm công nghệ đa dạng, đồ dùng phong phú với nhiều
mẫu mã mới, hàng may mặc thời trang, chất lượng, giá phải chăng, cùng với dịch vụ khách
hàng phong phú, tiện lợi và sự thân thiện của nhân viên Co.opMart là lý do Co.opMart trở
thành “Nơi mua sắm đáng tin cậy, bạn của mọi nhà” là kênh thông tin phản hồi nhanh diễn
biến giá cả thị trường cho các cơ quan điều hành thành phố, trở thành nhà bán lẻ chuyên
nghiệp nhất trong hệ thống bán lẻ Việt Nam. Các siêu thị của Co.opMart đều mang đặc
điểm chung là thân thiện, gần gũi với khách hàng, mang đến cho khách hàng sự tiện lợi và
nhiều dịch vụ tăng thêm. Với phương châm “Hàng hóa chất lượng, giá cả phải chăng, phục
vụ ân cần”,Co.opMart đã thâm nhập thị trường cả nước bằng phong cách Saigon kết hợp với
từng nét đặc thù của địa phương, tập hợp giữa tập trung và sự linh hoạt, sáng tạo và cải tiến
không ngừng của mỗi đơn vị, mỗi cá nhân. Thế nên, càng ngày Co.opMart càng được nhiều
khách hàng chọn lựa để đến mua sắm và thư giãn cùng gia đình mỗi ngày.
http://www.daithanh.net.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=107&Itemid=56&lang=vi
Trung bình mỗi siêu thị nước ngoài ở VN hiện kinh doanh 40.000-50.000 mặt hàng
khác nhau, trong khi tại các siêu thị trong nước con số này chỉ 25.000-30.000 mặt hàng. Sự
• Trái cây.
Các nguồn hàng mà Co.opMart lựa chọn kỹ để bán cho quý khách được thu mua
trực tiếp từ chợ cá Phan Thiết, rau an toàn Đà Lạt, Rau ấp Đình Củ Chi, rau Hưng Phát, rau
Sao Việt việc hợp tác giữa nông dân, ngư dân và hệ thống Co.opMart đem lại lợi thế cạnh
tranh lớn cho các mặt hàng kinh doanh tại hệ thống với giá tốt nhất và sản phẩm có chất
lượng đảm bảo.
Trái cây được mua từ nhiều nguồn khác nhau, từ những quả nho tươi, cam vàng
nhập từ Mỹ, Uc hay đến những trái cây từ các vùng miền của Việt Nam như : ổi, sari, sầu
riêng, xoài cát Hòa Lộc, …phong phú và đa dạng trong từng chủng loại.
Hàng hóa được trưng bày tại khu vực dành riêng trong các tủ lạnh, tủ mát và tủ cấp
đông ở nhiệt độ luôn ổn định để đảm bảo cho hàng hóa luôn tươi ngon và bắt mắt. Bên cạnh
đó, hàng hóa luôn được nhân viên chăm sóc thường xuyên và sẵn sàng tư vấn cho khách
21
GVHD : Th.s Trần Thanh Sơn
Quản trị bán lẻ
hàng lựa chọn những thực phẩm ngon, cách nấu các món ăn phục vụ cho thực đơn hàng
ngày.
- Thực phẩm công nghệ: Co.opmart có những nhà cung cấp và các đối tác chiến
lược như Bibica, Vissan, Pepsi Co, Dầu Tường An, Đồ Hộp Hạ Long,… Đó là Bánh kẹo
Kinh Đô, Bột ngọt Ajinomoto, Đường Biên Hòa, Nước suối Lavie, Dầu ăn Neptune, Nước
ngọt Pepsi, Sữa Vinamilk, Sữa Cô gái hà Lan, Thực phẩm đóng hộp Vissan…Hệ thống
Co.opMart luôn đảm bảo cung cấp những mặt hàng thiết yếu phục vụ cho nhu cầu hàng
ngày của quý khách hàng.
Quy trình mua hàng và kiểm soát chất lượng hàng hóa luôn được chú trọng, với các
hàng hóa thuộc nhóm thực phẩm, việc đảm bảo hạn sử dụng, nhãn hàng hóa và thông tin
hướng dẫn sử dụng luôn được quan tâm.
- Hóa phẩm: Nhiều chủng loại hàng hóa từ những nhà cung cấp hàng đầu như
Unilever, P&G, Mỹ phẩm Saigon, Mỹ Hảo… luôn đem lại những mặt hàng thiết yếu phục
vụ hàng ngày cho ngừơi tiêu dùng. Các sản phẩm như Bột giặt, nước xả, dầu gội, sữa tắm,
xà bông, nước rửa chén …. hàng tuần đều có các chương trình khuyến mãi dành riêng cho
mua sắm và lựa chọn cho căn bếp của gia đình. Các bà nội trợ thích trang trí còn có thể tìm
thấy nhiều sản phẩm xinh xắn, kiểu dáng lạ, đẹp, bắt mắt để chăm chút cho căn nhà của
mình như: tô, dĩa, chén kiểu bằng gốm sứ, thủy tinh, phalê, bình hoa, bộ ly, các loại đồ kiểu
độc đáo với mẫu mã đa dạng phong phú, thường xuyên cập nhật hàng mới sẽ làm cho buổi
mua sắm của quý khách thêm thú vị. Các sản phẩm phục vụ cho việc trang trí căn nhà của
người tiêu dùng : các sản phẩm phale, hoa trưng bày.
-Nhãn hàng Co.opMart: Việc xây dựng hơn 300 sản phẩm dưới nhãn hiệu Coop
Mart (7/2010) cũng góp phần tạo nên dấu ấn thương hiệu.Việc cung cấp các mặt hàng thực
phẩm tươi sống và chế biến của các nhà cung cấp đạt tiêu chuẩn và đồng thời tạo ra hàng
trăm mặt hàng riêng, mang thương hiệu Co.opMart, như canh chua gà lá giang, cá rô, lóc
kho tộ, mướp đắng, cà chua nhồi thịt, cá bống, cá diêu hồng, lươn om thời trang SGC và
mạnh nhất là các mặt hàng thực phẩm khô, đông lạnh và chế biến sẵn nhãn hiệu Co.opMart
luôn thỏa mãn, đáp ứng nhu cầu mua sắm đa dạng của người tiêu dùng, phù hợp bữa ăn gia
đình trong tuần và cuối tuần, được các bà nội trợ ưa thích. (http://daidoanket.vn/index.aspx?
Menu=1368&Chitiet=13498&Style=1)
Saigon Co.op đã xây dựng hình ảnh Co.opMart là một siêu thị hiện đại văn minh
của phương thức bán hàng tự chọn, vừa có nét giản dị gần gũi trong kinh doanh và các dịch
vụ đi kèm. Sự khác biệt mà các nhà bán lẻ Việt Nam nói chung và Co.opMart nói riêng đã
khai thác khá thành công là: Mô hình kết hợp giữa tự chọn và có phục vụ, sự có mặt của
nhân viên mậu dịch giúp đỡ, tư vấn cho khách hàng chọn lựa sản phẩm phù hợp, điều này
không có tại các cửa hàng tự chọn các nước khác; Phục vụ tận nhà cũng được xem như một
ưu việt của các siêu thị; Lựa chọn mặt hàng kinh doanh phù hợp với thị hiếu, khẩu vị từng
vùng với giá cả hợp lý phù hợp với khả năng thanh toán của đa số người dân cũng là sự
khác biệt cơ bản của siêu thị.
3.1.3. Thị trường mục tiêu
Theo bà Loan, hàng hóa đến tay người tiêu dùng chủ yếu vẫn qua hệ thống chợ
(khoảng 40%) và qua hệ thống các cửa hàng bán lẻ độc lập (khoảng 44%). Hàng hóa qua hệ
thống phân phối hiện đại như siêu thị, cửa hàng tiện lợi… chỉ mới chiếm khoảng 10% vì
phần lớn hệ thống phân phối còn rất non trẻ, còn lại là 6% là do nhà sản xuất trực tiếp bán
thẳng. Như vậy, kênh mua sắm truyền thống vẫn tiếp tục đóng vai trò then chốt trong đời
o Họ là những người không thích sự ồn ào náo nhiệt của việc mua sắm ngoài
chợ
o Họ không thích trả giá
o Họ là những người mua sắm bốc đồng, vì có thể họ đến siêu thị là đi cùng với
bạn bè, hoặc chỉ để ngắm nhưng có thể một mặt hàng nàođó khiến họ không thể
kiềm lại cái cảm giác thích mua sắm bốc đồng của mình.
o Họ là những người bận rộn.
o Họ là những người quan tâm đến vệ sinh an toàn thực phẩm.
o Họ thường ở khu vực thành phố.
Dẫn lời bà Nguyễn Thị Hạnh: hiện nay doanh số kinh doanh hàng Việt Nam của
chúng tôi ngày càng tăng, có nghĩa là chúng tôi đã xác định đối tượng phục vụ chủ yếu của
hệ thống siêu thị Co.op Mart là những người có thu nhập trung bình – khá. Đây là đối tượng
tiêu dùng vừa quan tâm đến chất lượng hàng hoá, vừa đòi hỏi hàng hoá phải có giá cả hợp
lý. Chúng tôi đánh giá hiện nay hàng sản xuất trong nước có chất lượng tốt và giá cả có thể
24
GVHD : Th.s Trần Thanh Sơn
Quản trị bán lẻ
đáp ứng được khả năng chi tiêu của đa số người tiêu dùng Việt Nam. Đó là chiến lược kinh
doanh chính của chúng tôi. Vì vậy, khi triển khai chương trình “Người Việt Nam ưu tiên
dùng hàng Việt Nam”, thì chúng tôi nhận thấy rất phù hợp với tiêu chí kinh doanh của hệ
thống siêu thị Co.op Mart từ khi thành lập đến nay. Và chúng tôi tin rằng điều này sẽ không
ảnh hưởng nhiều đến doanh số. Điều mà chúng tôi quan tâm nhất là luôn nhắc nhở, và đồng
thời cũng yêu cầu nhà cung cấp cam kết, đảm bảo ổn định chất lượng, mặt khác cũng cần
phải thường xuyên cải tiến mẫu mã hàng hoá, có giá cả hợp lý để giữ vững được niềm tin
của người tiêu dùng. Để từ đó người tiêu dùng Việt Nam sẽ ngày càng sử dụng hàng sản
xuất trong nước nhiều hơn.
Cũng theo bà Hạnh:” Việc các tập đoàn bán lẻ hàng đầu thâm nhập vào thị trường
Việt Nam tạo ra sự cạnh tranh có thể nói là rất gay gắt đối với các doanh nghiệp bán lẻ trong
nước, trong đó có SaiGon Co.op. Chính vì vậy mà ngay từ rất lâu rồi chúng tôi đã chuẩn bị
một chiến lược cho mình. Một trong những điều mà chúng tôi nghĩ rằng nó là lợi thế và thế
xuất trong nước có chất lượng tốt và giá cả có thể đáp ứng được khả năng chi tiêu của đa số
người tiêu dùng Việt Nam. Thế nên chiến lược của Co.opMart là đưa hàng Việt vào trong
siêu thị, khuyến khích ngưởi Việt dùng hàng Việt. Phù hợp với nhu cầu của khách hàng
trong thị trường mục tiêu là vừa quan tâm đến chất lượng hàng hoá, vừa đòi hỏi hàng hoá
phải có giá cả hợp lý. Co.opMart hướng đến đa phần là các khách hàng đã lập gia đình và
các khách hàng trẻ, bận rộn với công việc. Vì vậy, bên cạnh các sản phẩm truyền thống của
1 siêu thị, Co.op Mart còn mở rộng hệ thống nhà ăn ngay tại siêu thị của mình, cũng như
cung cấp các món ăn đã làm sẵn hoặc đã qua chế biến khá đa dạng và phong phú, mang đến
sự lựa chọn thỏa mái cho các bà nội trợ cũng như các khách hàng không có nhiều thời gian
nấu nướng cho bữa ăn của gia đình.
Thủ tục đưa hàng vào bán tại Co.opMart rất rõ ràng và từng chủng loại hàng hóa
như thực phẩm tươi sống, thực phẩm khô, hàng đồ chơi, vải sợi phải thỏa mãn các điều
kiện: Hàng hóa hợp thị hiếu người tiêu dùng, đầy đủ quy định về chất lượng, vệ sinh an toàn
thực phẩm, nhãn mác, bao bì, hàng hóa đủ để đáp ứng nhu cầu, có thể giao hàng nhiều tỉnh
thành.
Ðể đa dạng hóa nguồn hàng, mặt hàng, trong đó chú trọng kinh doanh các sản
phẩm do các nhà sản xuất trong nước làm ra, Co.opMart đã chọn lọc 1.000 nhà cung cấp,
trong tổng số 2.000 nhà mua hàng theo các dạng sỉ, lẻ, gối đầu, ứng trước, gia công, tùy
khách mà có chế độ khuyến mãi với giá cả linh hoạt Bộ phận mua hàng và nghiệp vụ mua
hàng được chuẩn hóa theo chức năng và chuyên nghiệp trong chọn lọc, xét duyệt chủng loại
hàng hóa, tổ chức thu mua tận gốc và tiếp nhận hàng hóa từ các tỉnh, các nhà cung cấp.
Thực hiện tốt chính sách kinh doanh, trong đó ưu tiên mua hàng của doanh nghiệp trong
nước, Co.opMart thường xuyên có 500 nhà cung cấp cho năm ngành hàng: hóa phẩm, thực
phẩm chế biến công nghệ, đồ dùng gia đình, may mặc, như HTX rau Anh Ðào (Ðà Lạt),
thủy hải sản Sài Gòn, Agifish, Vissan, Trường An, Happy Cook, Việt Tiến, Nhà Bè, Thành
Công, Vinamilk, Kinh Ðô, P/S, v.v. Các nhà cung cấp sẵn sàng hạ giá từ 5 đến 10%, theo
yêu cầu của Co.opMart. Ngoài ra Co.opMart còn triển khai và thực hiện có hiệu quả chiến
lược giá, chiến lược hàng hóa và mua hàng cùng với việc xây dựng các tiêu chí đầu tư xây
dựng các Co.opMart. Co.opMart còn ưu tiên những DN có chính sách kinh doanh năng
động, có chính sách giá tốt cho khách hàng, ưu tiên hàng sản xuất địa phương
2. Saigon Co.op luôn ưu tiên chọn những sản phẩm của nhà sản xuất có chứng
chỉ ISO-9000 hoặc một hệ thống quản lý chất lượng tương đương, tối thiểu là nhà sản xuất
có hàng Việt Nam chất lượng cao do người tiêu dùng bình chọn.
3. Saigon Co.op là mái nhà thân yêu của toàn thể cán bộ nhân viên. Mọi hoạt động của
Co.opmart luôn hướng đến cộng đồng xã hội.
Nhằm nâng cao chất lượng phục vụ quản lý, xây dựng hình ảnh Coop Mart nơi mua
sắm tiện lợi an toàn và thân thiện thông qua việc không ngừng cải tiến đầu tư, đổi mới trang
thiết bị phục vụ kinh doanh như hệ thống thang máy, thang cuốn, tủ đông, tủ lạnh, kho mát,
cổng từ chống trộm, thiết bị chống sét lan truyền, camera quan sát, cải tạo và lắp đặt mới hệ
thống đèn tiết kiệm năng lượng, hệ thống tủ trữ thực phẩm. Tổng kinh phí đầu tư mỗi năm
lên đến hàng trăm tỷ đồng.
Để đảm bảo vệ sinh an toản thực phẩm, hệ thống Co.opMart thiết lập một bộ phận
kiểm soát xuyên suốt từ trước, trong và sau bán hàng. Bên cạnh đó, định kỳ Hệ thống
Co.opMart còn ký hợp đồng tư vấn và dịch vụ với các cơ quan chức năng như Chi cục Tiêu
chuẩn đo lường chất lượng , Trung tâm y tế dự phòng và Trung tâm dịch vụ phân tích thí
nghiệm tiến hành lấy mẫu hàng hóa phân tích các chỉ tiêu lý tính, hóa tính và vi sinh. Với hệ
thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001 : 2000, chứng chỉ HACCP công tác đảm
bảo chất lượng và VSATTP , Co.opMart luôn hướng đến mục tiêu bảo vệ sức khỏe và đem
lại bữa ăn ngon cho người tiêu dùng.
27