phân tích tình hình xuất khẩu cá tra, cá ba sa ở đbscl trong giai đoạn 2009-2010 - Pdf 10

GVHD: Lê Trần Thiên Ý
PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Miền Tây Nam Bộ hay còn gọi là vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long là một
bộ phận của sông Mê Kông, có vị trí như một bán đảo với 3 mặt Đông, Nam và
Tây Nam giáp biển, có đường bờ biển dài 700km, thuận lợi cho phát triển kinh tế
biển, du lịch, hàng hải và thương mại.
Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) bao gồm 13 tỉnh thành (An Giang,
Bến Tre, Bạc Liêu, Cà Mau, Thành phố Cần Thơ, Đồng Tháp, Hậu Giang, Kiên
Giang, Long An, Sóc Trăng, Tiền Giang, Trà Vinh, Vĩnh Long) với gần 4 triệu
ha đất tự nhiên. ĐBSCL là vùng đất phù sa màu mỡ, có diện tích mặt nước rộng
lớn và đa dạng về hệ sinh thái. Là vùng kinh tế nông nghiệp trọng điểm, có vựa
lúa lớn nhất cả nước, đóng góp trên 50% sản lượng lúa, 90-95% lượng gạo xuất
khẩu hàng năm. Hàng năm cung cấp 70% lượng trái cây cho cả nước (Theo Báo
điện tử Kinh tế nông thôn).
Khai thác và nuôi trồng thủy sản cũng là một lợi thế mạnh ở ĐBSCL với
gần 824.000 ha diện tích nuôi thủy sản năm 2009, sản lượng đạt trên 1,9 triệu tấn
vào năm 2009, chiếm gần 75% diện tích nuôi và 70% sản lượng thủy sản nuôi
của cả nước, đồng thời chiếm 89% diện tích và 93% sản lượng ở các tỉnh phía
Nam. Trong đó ngành nuôi trồng và xuất khẩu cá tra và cá basa chiếm tỷ lệ cao,
với diện tích nuôi khoảng hơn 400.000 ha, tổng sản lượng trung bình hàng năm
trên dưới 1 triệu tấn, chiếm gần 49% diện tích nuôi và khoảng 53% sản lượng
thủy sản của ĐBSCL (Theo thông tin Thương mại). Năm 2010 diện tích nuôi
thủy sản tại Đồng bằng sông Cửu Long đạt 830.000ha, sản lượng đạt 2,97 triệu
tấn.
Ngày 11/1/2007 Việt Nam chính thức trở thành thành viên 150 của tổ chức
Thương mại thế giới (WTO). Gia nhập WTO, Việt Nam có thể mở rộng thị
trường xuất khẩu, đồng thời được cạnh tranh bình đẳng trên thị trường thế giới.
Tuy nhiên, Việt Nam cũng sẽ chịu sự cạnh tranh khốc liệt hơn từ các đối thủ
SVTH: Võ Thúy Ngân
1

2
GVHD: Lê Trần Thiên Ý
2.2. Mục tiêu cụ thể :
• Phân tích thực trạng nuôi trồng và xuất khẩu cá tra, cá basa ở ĐBSCL.
• Phân tích những khó khăn và thuận lợi của hoạt động xuất khẩu cá tra, cá ba
sa ở ĐBSCL.
• Đề xuất một số giải pháp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu cá tra, cá ba sa ở
ĐBSCL.
3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
 Thời gian của số liệu được lấy: Chủ yếu từ năm 2009-2010.
 Nội dung nghiên cứu: Tình hình xuất khẩu cá tra, cá ba sa tại vùng ĐBSCL
từ năm 2009-2010.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1. Phương pháp thu thập số liệu:
Thu thập số liệu thứ cấp từ báo cáo của niên giám thống kê, từ sách, báo, tạp
chí chuyên ngành (kinh tế nông nghiệp), Internet và các phương tiện truyền thông
để phân tích tình hình xuất khẩu cá tra, cá ba sa ở ĐBSCL.
4.2. Phương pháp phân tích số liệu:
Sử dụng chủ yếu phương pháp thống kê mô tả thông qua số tương đối (số
tương đối động thái, số tương đối so sánh, số tương đối kết cấu) và số tuyệt đối
cùng với việc phân tích đánh giá nhằm tìm hiểu tình hình xuất khẩu cá tra, basa ở
khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long.
SVTH: Võ Thúy Ngân
3
GVHD: Lê Trần Thiên Ý
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1:
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG NUÔI VÀ XUẤT KHẨU CÁ TRA, CÁ
BASA Ở ĐBSCL HAI NĂM 2009 - 2010
1.1. Thực trạng nuôi trồng và vùng sản xuất trọng điểm cá tra, cá basa ở

Những tháng đầu năm 2009, toàn vùng ĐBSCL khoảng 30% diện tích nuôi
cá tra, cá basa bị “treo hầm” do ảnh hưởng của đợt thua lỗ vào cuối năm 2008,
người nuôi không đủ điều kiện về tài chính để tái đầu tư. Tuy nhiên những dự báo
về nguồn cung thị trường sụt giảm, cầu tăng đã làm cho người nuôi đặt niềm tin
trở lại vào con cá tra, cá basa.
Tình hình nuôi cá tra, cá basa tại ĐBSCL trong năm 2009 tương đối ổn định,
diện tích thả nuôi đạt gần 6.756 ha. Diện tích nuôi cá tra, basa cao nhất tại một số
tỉnh như sau:
BIỂU ĐỒ 1.1:TỶ TRỌNG NUÔI CÁ TRA, BASA Ở ĐỒNG THÁP,
CẦN THƠ, AN GIANG NĂM 2009
(Nguồn:Theo thống kê của Cục Nuôi trồng thủy sản)
SVTH: Võ Thúy Ngân
5
GVHD: Lê Trần Thiên Ý
Qua biểu đồ 1.1 thể hiện tỷ trọng nuôi cá tra, basa của của các tỉnh trọng điểm
của vùng ĐBSCL năm 2009 và cụ thể là Đồng Tháp, Cần Thơ và An Giang chiếm
tỷ trọng rất lớn 70,3% trong tổng diện tích nuôi trồng loại thủy sản đặc trưng này.
Trong đó, Đồng Tháp là tỉnh có diện tích nuôi trồng cá tra, basa cao nhất vùng do
có điều kiện tự nhiên và vị trí thuận lợi. Đặc biệt là tỉnh Đồng Tháp có hai nhánh
sông Cửu Long (sông Tiền và sông Hậu) chảy qua, rất thích hợp cho nuôi trồng
thủy sản nói chung và cá tra, basa nói riêng. Và không thua kém về điều kiện thuận
lợi trong việc nuôi trồng cá tra, basa so với tỉnh Đồng Tháp nhiều thì Cần Thơ và
An Giang cũng có diện tích nuôi trồng cá tra, basa cao so với các tỉnh còn lại trong
khu vực: Cần Thơ chiếm 21,5% và An Giang chiếm 19,9%.
Tính đến hết tháng 12 năm 2010 diện tích cá tra ở ĐBSCL đạt gần 5.400 ha
(nguồn Vasep), sản lượng là 1,1triệu (đạt 95% kế hoạch năm 2010), năng suất
trung bình đạt gần 270 tấn/ha/vụ.
BẢNG 1.1: DIỆN TÍCH NUÔI CÁ TRA, BASA Ở MỘT SỐ TỈNH Ở
ĐBSCL
2009 2010

chế biến chưa tốt, một số nhà máy chế biến có vùng nguyên liệu khi giá cá nguyên liệu
trên thị trường tăng cao đã không thu mua cá của dân hoặc cố tình “làm giá” để ép
người nuôi, chậm thanh toán nợ so với hợp đồng mua bán nên người nuôi mất lòng tin
vào DN cũng là những nguyên nhân khiến diện tích nuôi không nhiều bằng năm
trước. So với các năm trước, năm 2010 không có tình trạng dư thừa cá nguyên liệu,
song mối lo thiếu nguyên liệu là bài toán khó đối với các DN chế biến xuất khẩu.
Theo thống kê của Cục Nuôi trồng thủy sản, 10 tỉnh ĐBSCL đã thả gần 1,7
triệu con giống cá tra, cá basa trên diện tích hơn 5.500 ha, đạt 83% kế hoạch thả
nuôi năm 2009. Trong đó, 1.133 ha diện tích cá tra, cá basa thu hoạch, bằng 22,1%
diện tích thả nuôi, với sản lượng đạt 312.337 tấn. Năng suất bình quân trên 240
tấn/ha. Trong đó một số tỉnh có năng suất cao, cụ thể là:
SVTH: Võ Thúy Ngân
7
GVHD: Lê Trần Thiên Ý
BẢNG 1.2: NĂNG SUẤT CÁ TRA, BASA CỦA MỘT SỐ TỈNH Ở
ĐBSCL NĂM 2009
Tên tỉnh
Năng suất (tấn/ha)
Tiền Giang
312
Đồng Tháp
302
Vĩnh Long
300
Cần Thơ
224
Hậu Giang
230
Trà Vinh
267

Thống kê của Bộ NN-PTNT, 7 tháng đầu năm 2010 xuất khẩu cá tra tăng 8,23% so
cùng kỳ năm 2009.
Pagasius Việt Nam (cá tra Việt Nam) đã đem lại niềm tự hào cho người dân
vùng Đồng bằng Sông Cửu Long khi đã không phụ lòng mong mỏi của người dân
nơi đây, mặc dù xuất khẩu cá tra, ba sa vẫn chưa phát huy hết được tiềm năng thực
sụ của mình nhưng đã bơi xa ra thị trường thế giới, với hơn 136 quốc gia với tên
gọi thật đáng tự hào Pagasius Việt Nam.
Với giá trị dinh dưỡng cao, giá cả cạnh tranh, chất lượng đáp ứng yêu cầu
nhiều thị trường khó tính. Cá tra, basa vùng ĐBSCL chiếm tỷ trọng ngày càng cao
trong kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam. Tham khảo hình sau:
SVTH: Võ Thúy Ngân
9
GVHD: Lê Trần Thiên Ý
BIỂU ĐỒ 1.2: THỂ HIỆN SẢN LƯỢNG VÀ KIM NGẠCH XUẤT KHẨU
CÁ TRA, BASA Ở ĐBSCL
(Nguồn: Vasep Viet Nam)
Nhận xét: Nếu chỉ xét về các con số đạt được của vùng ĐBSCL cho hoạt
động xuất khẩu cá tra, ta thấy sản lượng cũng như kim ngạch đạt được đều tăng
mạnh ở các năm 2006, 2007 và 2008, giảm nhẹ vào năm 2009 và tăng nhẹ trở lại
vào năm 2010. Cụ thể như sau:
Năm 2006 đã mở rộng đến 65 nước với sản lượng xuất khẩu đạt trên 250
nghìn tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt 661 triệu USD do nhu cầu tăng mạnh ở thị
trường EU ( chiếm gần 50% sản lượng xuất khẩu), góp phần đưa thủy sản chiếm vị
trí thứ 4 trong nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu đạt trên một tỷ USD.
Năm 2007, sản lượng và kim ngạch xuất khẩu cá tra, ba sa tiếp tục tăng mạnh
do nguyên nhân bên trong là việc mở rộng diện tích nuôi trong vùng, còn thị trường
xuất khẩu vừa giữ được thị trường truyền thống, vừa mở rộng, phát triển các thị
trường mới như Nga, Ukraine, Nam Mỹ, Đông Âu, Nam Âu, Châu Phi Việc gia
tăng sản lượng xuất khẩu đã đưa sản lượng xuất khẩu cá tra, basa ĐBSCL trong năm
đạt 383,2 nghìn tấn với kim ngạch đạt 974,12 triệu USD ( trong tổng kim ngạch xuất

SVTH: Võ Thúy Ngân
11
GVHD: Lê Trần Thiên Ý
khả quan khi sản lượng xuất khẩu vẫn tăng 8,5% đạt 659.400 tấn, kim ngạch xuất
khẩu tăng 2% đạt 1.427 triệu USD
BẢNG 1.3: Kim ngạch xuất khẩu cá tra, basa của ĐBSCL
giai đoạn 2008-2010
Năm 2008 2009 2010
Kim ngạch (triệu USD)
1.536 1.397 1.427
( Nguồn : Vasep Viet Nam)
Nhận xét: Kim ngạch xuất khẩu cá tra, cá basa của Việt Nam qua ba năm tăng
giảm không đồng đều. Năm 2009, kim ngạch xuất khẩu giảm so với năm 2008, giảm
139 triệu USD (giảm 9,05%) tuy nhiên xuất khẩu cá tra vẫn đứng đầu trong kim
ngạch xuất khẩu thủy sản cả nước. Năm 2010, kim ngạch xuất khẩu cá tra vẫn tiếp
tục giữ vững vị trí đứng đầu và tăng 30 triệu USD (tăng 2,0%) so với năm 2009.
Nguyên nhân là do nhu cầu xuất khẩu sang thị trường EU luôn ổn định do cá tra,
basa của Việt Nam trở thành mặt hàng được người tiêu dùng lựa chọn bởi đáp ứng
được những tiêu chí về khẩu vị thơm ngon và có hàm lượng dinh dưỡng cao. Bên
cạnh đó, nền kinh tế nước ta và thế giới đang dần hồi phục sau cuộc khủng hoảng
kinh tế toàn cầu. Hơn thế nữa, Việt Nam đã gia nhập WTO hơn 4 năm nên tình hình
ngoại thương chuyển biến tốt, Việt Nam có cơ hội hội nhập với thế giới về thương
mại trong đó có xuất khẩu cá tra, cá basa. Gia nhập WTO, rào cản thuế quan dần
dần được giảm thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu cá tra, cá basa.
Năm 2011, do gặp khó khăn về nguồn nguyên liệu nên VASEP chỉ đặt mục
tiêu xuất khẩu khoảng 360.000 tấn, giảm 299.400 tấn với giá trị thu về khoảng 1 tỉ
USD, giảm khoảng 400 triệu USD so với năm 2010.
1.2.2. Giá xuất khẩu:
SVTH: Võ Thúy Ngân
12

GVHD: Lê Trần Thiên Ý
vì sợ lỗ do giá thức ăn và các chi phí khác tăng cao. Giá thức ăn nuôi cá từ đầu năm
2010 đến nay đã tăng 4,5 lần.
Năm 2010, trong khi giá cá tra, basa nguyên liệu không ngừng tăng thì đơn
giá đơn giá xuất khẩu trung bình có chiều hướng suy giảm với năm 2009. Số liệu
tính đến hết tháng 11/2010, đơn giá xuất khẩu cá tra, basa trung bình trong 11
tháng đạt khoảng 2,19 USD/kg, giảm khoảng 3% so với cùng kỳ năm trước. Và hầu
như đơn giá xuất khẩu cá tra, basa sang toàn bộ khoảng 140 thị trường đều ghi nhận
mức tăng trưởng âm so với cùng kỳ. Qua đó ta thấy được Việt Nam chưa thể kiểm
soát được giá cá xuất khẩu theo hướng có lợi cho cả DN và người nông dân. Nguyên
nhân chính của tình trạng này xuất phát từ sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các
danh nghiệp xuất khẩu xuất khẩu cá tra, basa Việt Nam bằng cách hạ thấp giá chào
bán, giảm chất lượng, tăng khối lượng mạ băng … diễn ra tràn lan, gây ảnh hưởng
lớn tới thương hiệu cá tra, basa Việt Nam.
SVTH: Võ Thúy Ngân
14
GVHD: Lê Trần Thiên Ý
Nguồn: Agromonitor tính toán từ số liệu Tổng cục Hải quan
BIỂU ĐỒ 1.3: ĐƠN GIÁ XUẤT KHẨU CÁ TRA, BASA TRUNG BÌNH ĐẾN
MỘT SỐ THỊ TRƯỜNG QUAN TRỌNG
THÁNG 11 NĂM 2009 – THÁNG 11 NĂM 2010 (USD/kg)
Nhận xét: Qua đồ thị 1.2 trên ta thấy Mỹ vẫn là thị trường có đơn giá xuất
khẩu khẩu cao nhất của Việt Nam, đạt mức 3,47 USD/kg, giảm 1,9% so với cùng kỳ
2009. Tiếp đến là Anh với đơn giá đạt 2,91 USD/kg; Úc là 2,83 USD/kg…. Bên
cạnh đó, có khá nhiều thị trường như Ba Lan, Ảrập Xêút, Hong Kong, Ucraina,
Rumani… giá cá tra xuất khẩu trung bình chỉ dao động từ 1,3 – 1,9 USD/kg. Sở dĩ
Mỹ là thị trường có đơn giá xuất khẩu khẩu cao nhất của Việt Nam là vì cá da trơn ở
Mỹ được bán rất đắt, trên 25 USD/kg. Năm 2002 trở về trước, cá tra, cá basa vào thị
trường Mỹ, được thương lái Mỹ gắn nhãn cá da trơn, nhưng giá bán lại rẻ hơn nhiều.
Bên cạch đó người dân Mỹ rất ưa chuộng sản phẩm cá tra, basa của Việt Nam vì

Để có được thị trường rông lớn như EU, các nhà nuôi trồng và doanh
nghiệp xuất khẩu cá tra, basa không ngừng cố gắng tìm mọi cách để áp dụng tiêu
chuẩn mang tính luật và bắt buộc do EU đặt ra. Cụ thể là: để nhập khẩu vào các
nước thuộc EU, trước hết doanh nghiệp phải tuân theo code (mã) quy định của liên
minh này và một tiêu chí theo kiểu “luật bất thành văn” để được dễ dàng chấp nhập
tại các siêu thị, hệ thống bán lẻ tại đây, đó là tiêu chuẩn thực hành sản xuất nông
nghiệp tốt toàn cầu (Global GAP). Ngoài ra còn có SQF (bao gồm SQF 2000 CM và
SQF 1000 CM): Tiêu chuẩn an toàn thực phẩm xác định các yêu cầu cần thiết trong
hệ thống quản lý chất lượng nhằm nhận diện các mối nguy đối với an toàn thực
phẩm và chất lượng cũng như thẩm tra/giám sát các phương thức kiểm soát.
 Thị trường Mỹ:
Mặc dù chịu ảnh hưởng mạnh của cuộc khủng hoảng kinh tế nhưng
bốn tháng đầu năm 2009, cá tra, basa Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Mỹ vẫn
tăng cả về lượng và kim ngạch. Cụ thể, sản lượng xuất khẩu đạt 11.430 tấn, tăng
77,6%, kim ngạch đạt trên 36,4 triệu USD, tăng 81,7% so với cùng kỳ 2008. Hai
SVTH: Võ Thúy Ngân
16
GVHD: Lê Trần Thiên Ý
tháng sau, xuất khẩu cá tra, basa sang nước này đã đạt 45,97 triệu USD, tăng
59,98% so với cùng kỳ năm 2008. Theo thống kê của Vasep, trong 5 tháng đầu năm
2010 Mỹ là thị trường nhập khẩu cá tra, basa lớn sau EU với kim ngạch trên 52 triệu
USD. Với số liệu ấn tượng đó ta thấy Mỹ là thị trường xuất khẩu quan trọng của cá
tra, basa Việt Nam.
Tuy nhiên, Mỹ là thị trường rất khó tính, đòi hỏi nhiều tiêu chuẩn và
đạt ra nhiều tiêu chuẩn đối với các măt hàng mà họ nhập khẩu. Cá tra, basa của Việt
Nam cũng không ngoại lệ. Doanh nghiệp thủy sản muốn được xuất khẩu vào Mỹ thì
điều bắt buộc đầu tiên là phải có HACCP (Hazard Analysis & Critical Control Point
– Phân tích các mối nguy và kiểm soát các điểm tới hạn - do FAO/WHO ban hành).
Bên cạnh những rào cản về kỹ thuật thì rào cản thương mại của thị trường Mỹ đối
với cá tra, basa Việt Nam gây không ít khó khăn cho các doanh nghiệp xuất khẩu

mất uy tín thương hiệu cho con cá tra của VN. Khó khăn nữa là khi Nga thắt chặt
kiểm soát chất lượng hàng nhập khẩu trong nỗ lực bảo hộ sản xuất trong nước. Khó
khăn là thế, nhưng các nhà máy chế biến cá tra, basa của VN cũng phải chuẩn bị cơ
sở và điều kiện sản xuất tốt, chứng minh được mình có vùng nuôi an toàn, có chứng
chỉ hệ thống quản lý theo tiêu chuẩn HACCP để Nga là thị trường lớn của mặt hàng
xuất khẩu chủ lực - cá tra, basa Việt Nam lâu dài.
 Thị trường Mehico:
Năm 2010, Mêhicô được đánh giá là thị trường nhập khẩu lớn,
ổn định và tiềm năng của cá tra, basa Việt Nam. Đây là thị trường tiêu thụ cá tra,
basa lớn nhất khu vực Trung và Nam Mỹ. Tính đến cuối tháng 6/2010, đất nước có
nền kinh tế lớn thứ hai tại Châu Mỹ Latinh này đã là thị trường nhập khẩu cá tra,
basa lớn thứ 5 của Việt Nam sau Mỹ, Tây Ban Nha, Đức và Hà Lan. Ngược lại với
tình hình xuất khẩu tôm, năm 2010, xuất khẩu cá tra, basa sang Mêhicô liên tục tăng
trưởng. 6 tháng đầu năm 2010, Mêhicô đã nhập khẩu trên 17 nghìn tấn cá tra tương
đương 37,33 triệu USD từ Việt Nam. Hơn nữa, hiện nay, việc kiểm tra chất lượng
sản phẩm tại quốc gia này cũng không quá phức tạp như tại một số thị trường nhập
khẩu khác như Mỹ và EU nên có nhiều doanh nghiệp tham gia xuất khẩu cá tra, basa
SVTH: Võ Thúy Ngân
18
GVHD: Lê Trần Thiên Ý
sang thị trường này. Nếu như trong năm 2004 chỉ có 24 doanh nghiệp xuất khẩu
sang Mêhicô thì đến năm 2009, con số này đã tăng lên hơn gấp đôi với tổng số 54
đơn vị tham gia vào thị trường này.
Đồ thị 1.3 thể hiện một số thị trường lớn nhập khẩu cá tra, basa của
Việt Nam, xuất khẩu cá tra VN tính đến ngày 15 tháng 8 năm 2010. Mỹ là thị
trường tiêu thụ cá tra lớn thứ hai của VN, đạt 27.817 tấn, kim ngạch 86,6 triệu USD
sau EU.(Nguồn: VASEP)

càng đông đảo, người dân rất ham thích nuôi trồng thủy sản, nhiều người đã có
nhiều kinh nghiệm về nuôi trồng thủy sản.
Việc gia nhập WTO sẽ mang lại cơ hội cho sản phẩm cá tra, cá basa Việt
Nam trong việc thâm nhập thị trường thế giới, sự ưu đãi hơn về thuế quan, xuất
xứ hàng hoá, hàng rào phi thuế quan, được đối xử bình đẳng, công bằng sẽ tạo
điều kiện để cá tra, cá basa Việt Nam có khả năng cạnh tranh trên thị trường thế
giới.
Hiện nay sản phẩm cá tra, cá basa Việt Nam đã có mặt trên 163 quốc gia và
vùng lãnh thổ trên thế giới. Cá tra, cá basa Việt Nam cũng đã có thương hiệu
trên thị trường thế giới “ Top-Quality Pangasius from Vietnam” ( tạm hiểu là
Pangasius chất lượng hành đầu Việt Nam ). Pangasius nghĩa là cá tra,
“Pangasius” đang được sử dụng rộng rãi ở các nước Châu Âu- thị trường chính
của Việt Nam. Bộ Thủy sản đã quyết định lất đó làm Thương hiệu Quốc gia và
xây dựng hệ thống tiêu chuẩn chất lượng dựa trên những tiêu chí chất lượng về
sinh an toàn thực phẩm của Quốc tế để có thể chen chân vào các thị trường khó
tính với tên “ tiêu chuẩn TQP” ( chữ viết tắt từ thương hiệu Top-Quality
Pangasius from Vietnam ).
2.2. Khó khăn và hạn chế của hoạt động xuất khẩu cá tra cá basa ở ĐBSCL:
Mặc dù có lợi thế về điều kiện tự nhiên về phát triển công nghiệp chế biến cá
tra, cá basa, tuy nhiên cũng có những hạn chế làm giảm năng lực cạnh tranh của
ngành như cơ sở hạ tầng kỹ thuật của vùng ĐBSCL còn yếu và thiếu. Hệ thống
cầu đường còn nhỏ hẹp, chất lượng yếu, không đáp ứng yêu cầu tải trọng lớn đối
với xe chuyên dụng.
SVTH: Võ Thúy Ngân
21
GVHD: Lê Trần Thiên Ý
Chất lượng nguồn nhân lực thấp, lao động quản lý chưa được đào tạo chính
quy, lao động trực tiếp kỹ năng lao động cũng như kỷ luật lao động, tác phong
công nghiệp còn kém.
Việc quy hoạch nuôi trồng và chế biến cá tra, cá basa chưa mang tính vĩ mô,

thuốc thú y trong nuôi cá tra “có vấn đề”. Sau khi WWF đã đạt được bản thỏa
thuận với các cơ quan chức năng và các tổ chức Hội nghề Thủy sản Việt Nam về
việc áp dụng một tiêu chí cho ngành cá tra, basa là đến năm 2015, có khoảng
50% sản lượng cá tra xuất khẩu của Việt Nam sẽ đạt tiêu chuẩn của Hội đồng
Quản lý nuôi trồng thủy sản (ASC) và số còn lại sẽ theo các tiêu chuẩn khác như
Global GAP thì cá tra, basa Việt Nam được đưa ra khỏi danh mục này. Mặt dù
vậy, nhưng điều đó đã làm ảnh hưởng tiêu cực ít, nhiều đến tâm lý của người tiêu
dùng. Điều đó dẫn đến sản lượng xuất khẩu của mặt hàng này giảm. Cần có một
khoảng thời gian để Viêt Nam chứng minh cho người tiêu dùng thấy sản phẩm cá
tra, basa là ngon, có giá trị dinh dưỡng cao và chất lương cao. Để đươc như thế,
người nuôi trồng và chế biến cần phải nổ lực rất nhiều.
Yêu cầu về các tiêu chuẩn và đặt ra các rào cản thương mại và kỹ thuật của
thị trường thế giới ngày càng cao và phức tạp, đó là thử thách lớn mà nghề nuôi
và chế biến cá tra, basa trong cả nước và đặc biệt là ở khu vực ĐBSCL.
SVTH: Võ Thúy Ngân
23
GVHD: Lê Trần Thiên Ý
CHƯƠNG 3:
ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG XUẤT
KHẨU CÁ TRA, CÁ BASA Ở ĐBSCL
3.1. Đối với chính phủ:
- Chính phủ, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần xem xét đầu tư mở rộng và
nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng và hệ thống cầu đường.
- Thường xuyên mở các buổi tập huấn về kỹ thuật nuôi trồng cá tra, cá basa
cho các hộ nuôi tại địa phương.
- Tổ chức lại các hộ nuôi cá theo mô hình quản lý cộng đồng như nhóm hộ,
Hiệp hội nuôi cá tra; đồng thời phát triển các hình thức tổ chức sản xuất kinh tế tập
thể như Hợp tác xã, Tổ hợp tác,v.v
- Các cơ quan chức trách cần chú trọng hơn đến vấn đề ô nhiễm môi trường.
Nghiêm khắc trừng phạt và xử lý triệt để các trường hợp vi phạm ô nhiễm môi

25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status