mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
1. Trong chơng trình THPT, môn Hình học là môn học có tầm quan
trọng rất lớn đối với học sinh. Riêng phần Hình học không gian gần nh chiếm
trọn chơng trình Hình học lớp 11 và 12. Điều này phần nào nói lên tầm quan
trọng của bộ môn này. Nó không những trang bị cho học sinh những kiến thức
cơ bản về hình học không gian mà còn là phơng tiện để học sinh rèn luyện các
phẩm chất, kỹ năng của t duy. Trong quá trình vận dụng kiến thức giải các bài
tập về chứng minh, dựng hình, quỹ tích học sinh có thể rèn luyện t duy logic,
t duy thuật toán và t duy biện chứng. Đặc biệt môn hình học không gian còn
giúp cho học sinh rèn luyện t duy phối cảnh trực quan phẩm chất t duy rất cần
thiết trong các ngành kỹ thuật, kiến trúc, xây dựng.
2. Lênin đã viết Từ trực quan sinh động đến t duy trừu tợng, rồi từ t
duy trừu tợng đến thực tiễn. Đó là con đờng biện chứng của sự nhận thức chân
lý, của sự nhận thức hiện thực khách quan[7, tr 6].
Chính vì vậy, để tăng tính trực quan trong dạy học nói chung và dạy học
toán nói riêng, xu hớng phổ biến hiện nay là xây dựng các phơng tiện trực
quan và chỉ dẫn phơng pháp sử dụng chúng một cách có hiệu quả, nhằm hình
thành ở học sinh các hình ảnh cảm tính của đối tợng nghiên cứu, gợi cho học
sinh các tình huống có vấn đề, tạo nên sự hứng thú trong các giờ học toán. Với
bộ môn Hình học không gian thì yếu tố trực quan lại càng quan trọng. Trong
quá trình giảng dạy để giúp học sinh nhận thức đúng và chính xác kiến thức
cũng nh rèn luyện t duy không gian phối cảnh ta cần phải đa ra các biểu tợng
trực quan phong phú, chân thực. Phù hợp với quan điểm lấy học sinh làm
trung tâm, hiện nay phơng pháp dạy học nêu vấn đề đang là xu thế tất yếu.
Việc dạy học hình học không gian cần đợc đặt trong bối cảnh đó.
3. Thực tiễn của việc dạy học Hình học không gian thờng gặp hiện nay
là thầy giáo chỉ thông qua hệ thống hình vẽ trên bảng để minh họa cho các
hình khối 3 chiều. Giáo viên cố gắng sử dụng hệ thống các nét liền, nét đứt
với mong muốn làm cho học sinh hiểu đợc các tính chất hình học 3 chiều.
Điều này là cả một vấn đề khó khăn bởi không phải học sinh nào cũng có thể
tôi nhận thấy Geometer's Sketchpad tỏ ra là một phần mềm có tính năng vợt
trội trong lĩnh vực dạy học hình học. Đây là một phần mềm có chức năng
chính là hỗ trợ cho việc dạy và học môn hình học phẳng, đại số và giải tích.
Ưu điểm nổi bật của phần mềm này là nó có thể làm cho các đối tợng chuyển
động. Khai thác u điểm này chúng tôi có ý tởng xây dựng nên một hệ trục toạ
độ không gian, trong đó ta có thể dựng nên các mô hình không gian mang tính
trực quan hơn rất nhiều so với hình vẽ phẳng thông thờng. Hơn thế nữa, với
2
tính năng động của nó, ta còn có thể xoay chuyển các mô hình dựng đợc theo
nhiều góc độ khác nhau làm tăng tính trực quan cho các mô hình.
Liên hệ điều này với các khó khăn đã nêu trong việc dạy học hình học
không gian chúng tôi nhận thấy việc sử dụng phần mềm có thể sẽ giúp cho
giáo viên trình bày các minh hoạ với chất lợng cao, giảm bớt thời gian làm
những công việc vụn vặt, thủ công, dễ nhầm lẫn. Nhờ đó, giáo viên có điều
kiện để đi sâu vào các vấn đề bản chất của bài giảng. Điều này sẽ góp phần
nâng cao hiệu quả của quá trình dạy học lên một cách rõ nét.
Xuất phát từ những lí do trên chúng tôi lựa chọn đề tài cho luận văn của
mình là:
Sử dụng phần mềm Geometer's Sketchpad làm phơng tiện trực quan
trong việc dạy học hình học không gian 11 (Thể hiện qua chơng III - Quan
hệ vuông góc).
2. Câu hỏi nghiên cứu
Luận văn có nhiệm vụ giải quyết các câu hỏi:
1. Trong dạy học hình học không gian 11 ta có thể sử dụng các dạng ph-
ơng tiện trực quan nào?
2. Phần mềm Geometer's Sketchpad có những u thế gì trong giảng dạy
hình học không gian so với những công cụ trực quan khác?
3. Làm thế nào để sử dụng phần mềm Geometer's Sketchpad vào việc
thiết kế bài giảng để dạy học phần hình học không gian 11 một cách có hiệu
quả?
Qua nghiên cứu các công cụ của phần mềm Geometer's Sketchpad,
chúng tôi cho rằng nếu đợc chỉ dẫn phơng pháp sử dụng phần mềm
Geometer's Sketchpad làm phơng tiện trực quan một cách hợp lý thì sẽ góp
phần giúp giáo viên nâng cao chất lợng dạy học hình học không gian 11.
6. Cấu trúc luận văn
Mở đầu.
1. Lý do chọn đề tài
2. Câu hỏi nghiên cứu
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
4. Phơng pháp nghiên cứu
5. Giả thuyết khoa học
4
6. Cấu trúc luận văn
Chơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn.
1.1 Khái niệm và tầm quan trọng của phơng tiện trực quan trong quá
trình dạy học.
1.2 Vai trò và chức năng của phơng tiện trực quan trong quá trình dạy
học.
1.3 Các yêu cầu của quá trình sử dụng phơng tiện trực quan vào trong
việc dạy học.
1.4 Mục đích, yêu cầu, nội dung và phơng pháp dạy học hình học
không gian ở trờng phổ thông.
1.5 Xác định các dạng phơng tiện trực quan trong dạy học hình học
không gian.
1.6 Những yêu cầu đối với một phần mềm dạy học.
1.7 Thực trạng của việc sử dụng dụng cụ trực quan trong giảng dạy hình
học không gian hiện nay ở các trờng THPT.
Chơng 2: Sử dụng phần mềm Geometer's Sketchpad làm phơng
tiện trực quan trong quá trình dạy học hình học không gian 11.
2.1 Các nguyên tắc của việc xây dựng và sử dụng các phơng tiện trực
lầm về phơng pháp luận nhng nó phần nào nói lên tầm quan trọng của phơng
tiện trực quan. Về bản chất, phần đầu của công thức thiên tài của Lênin về quá
trình nhận thức "Từ trực quan sinh động đến t duy trừu tợng, từ t duy trừu tợng
đến thực tế " đã đợc Komenxki và Pextalôxi nghĩ đến và đa vào làm nguyên
tắc tuyệt đối.
Trong cách hiểu của K.Đ. Usinxki còn đi xa hơn nữa, ông viết: "Trẻ em
suy nghĩ bằng hình vẽ, mầu sắc, âm thanh, bằng cảm giác nói chung, do đó
đối với trẻ em rất cần thiết việc dạy học trực quan dựa trên những hình ảnh cụ
thể, đợc các em cảm thụ trực tiếp chứ không phải dựa trên khái niệm và lời nói
trừu tợng"[22, tr 265]. Qua đó ông đa vào trực quan không chỉ là cái học sinh
trực tiếp ngắm nhìn thấy mà còn cả những truyện kể, giọng đọc nghệ thuật
nữa. Hay nói một cách khác Usinxki hiểu trực quan rộng hơn những ngời trớc
ông.
Các nhà giáo dục học và tâm lí học Nga đã có nhiều công trình nghiên
cứu lý thú về vấn đề trực quan và vai trò của nó trong quá trình dạy học. Đã có
nhiều định nghĩa về phơng tiện trực quan đợc đa ra. Tuy nhiên cha có một
khái niệm thỏa đáng.
Trong luận văn này, phơng tiện trực quan đợc hiểu hạn chế ở những
thiết bị có khả năng chuyển tải những thông tin về nội dung dạy học và về sự
điều khiển quá trình dạy học.
7
1.2 Vai trò và chức năng của phơng tiện trực quan trong quá
trình dạy học.
Nh chúng ta đã biết, con đờng biện chứng của t duy là đi từ trực quan
sinh động đến t duy trừu tợng sau đó trở lại thực tiễn kiểm chứng. Cho nên
quá trình dạy học ta không thể đi ngợc lại quy luật đó. Thực tiễn của quá trình
dạy học cho thấy học sinh thờng gặp khó khăn khi chuyển từ cụ thể lên trừu t-
ợng và khi đi từ cái trừu tợng lên cái cụ thể trong t duy. Điều này xuất phát từ
việc học sinh không biết phát hiện ra cái bản chất, cái chung ẩn nấp trong các
trờng hợp riêng cụ thể và ngợc lại, rất vụng về khi vận dụng các khái niệm,
niệm hình chóp.
+ Nếu học sinh đã biết nội dung của một khái niệm dới dạng lời nói,
văn tự hay kí hiệu còn phơng tiện trực quan chứa thông tin dới dạng hình ảnh
hay mô hình thì phơng tiện trực quan có chức năng minh họa khái niệm đã
biết (Lúc này nhận thức chuyển từ cài trừu tợng đến cái cụ thể).
+ Nếu mục đích đặt ra là giúp học sinh chuyển biểu tợng lên khái niệm
thì phơng tiện trực quan lại đóng vai trò diễn đạt khái niệm dới dạng lời nói,
văn tự hay kí hiệu. Nh vậy phơng tiện trực quan mang chức năng thiết lập cho
học sinh mẫu của sự biểu thị khoa học chính xác của khái niệm dới dạng lời
văn hoặc kí hiệu.
1.2.2 Chức năng rèn luyện kỹ năng:
+ Phơng tiện trực quan có thể hỗ trợ rèn luyện kĩ năng sử dụng một
công cụ, ví dụ nh video, máy vi tính
+ Phơng tiện trực quan cũng có thể giúp học sinh rèn luyện kĩ năng thực
hiện một hoạt động nào đó, chẳng hạn một mô hình không gian có thể hỗ trợ
cho học sinh rèn luyện kĩ năng quan sát, phân tích, so sánh
1.2.3 Chức năng phát triển hứng thú học tập:
+ Nhờ các hình thức thông tin nh âm thanh, màu sắc, hình ảnh động có
thể tạo cho học sinh cảm hứng thẩm mỹ, các tình huống có vấn đề, tạo ra sự
hứng thú toán học.
+ Phơng tiện trực quan có thể là sự mô phỏng nội dung các vấn đề
nghiên cứu trong dạng ngắn gọn, nhằm củng cố, ghi nhớ, áp dụng kiến thức.
1.2.4 Chức năng điều khiển quá trình dạy học:
+ Hớng dẫn phơng pháp trình bày chủ đề nghiên cứu cho giáo viên.
+ Nhanh chóng làm xuất hiện và không ngừng truyền thông tin học tập
trong hoạt động nhận thức, khi kiểm tra và đánh giá kết quả dạy học.
9
+ Bảo đảm thực hiện các hình thức học tập cá biệt và phân nhóm.
Trong dạy học toán vai trò và chức năng của phơng tiện trực quan là rất
quan trọng, ảnh hởng rất nhiều đến sự nhận thức, t duy của học sinh trong quá
1.4 Mục đích yêu cầu, nội dung và phơng pháp dạy học hình học
không gian ở trờng phổ thông.
Xuất phát từ mục tiêu đào tạo của trờng Trung học phổ thông chúng tôi
phân tích mục đích, yêu cầu, nội dung và phơng pháp dạy học hình học không
gian theo sách giáo khoa chỉnh lý hợp nhất năm 2000, nhằm xác định các
nhiệm vụ và yêu cầu s phạm của phơng tiện trực quan trong quá trình dạy và
học.
1.4.1 Mục đích yêu cầu dạy học hình học không gian ở trờng phổ
thông.
Môn hình học không gian đợc đa vào dạy ở trờng phổ thông nhằm
những mục đích yêu cầu nh sau:
+ Trang bị cho học sinh một số kiến thức và kỹ năng cơ bản của môn
hình học nhằm góp phần giải quyết các vấn đề thực tiễn và tiếp cận với việc
nghiên cứu hình học ở bậc đại học.
+ Phát triển cho học sinh các kỹ năng t duy, trí tởng tợng không gian.
Các kỹ năng t duy bao gồm: phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hoá, trừu
tợng hoá, tơng tự, kỹ năng huy động kiến thức, tách các trờng hợp riêng, quy
lạ về quen, nhận dạng và thể hiện, lật ngợc vấn đề. Đặc biệt môn hình học là
môi trờng tốt cho học sinh rèn luyện các phẩm chất của t duy biện chứng.
+ Thông qua dạy học hình học không gian trang bị cho học sinh các ph-
ơng pháp khác nhau để giải các bài toán hình học.
Dựa trên những mục đích yêu cầu đó các nhà khoa học soạn thảo sách
giáo khoa đã lựa chọn những nội dung thiết thực nhất để đa vào chơng trình.
Nội dung về hình học không gian ở trờng phổ thông chủ yếu xét 3 thể hiện
khác nhau của hình học Ơclit: thể hiện vật lý, thể hiện véctơ và thể hiện
Đềcác. Trang bị cho học sinh 3 phơng pháp cơ bản để giải toán hình học là ph-
ơng pháp tổng hợp, phơng pháp véctơ và phơng pháp toạ độ. Do đề tài đang
nghiên cứu về thể hiện trực quan của các mô hình cho nên xét bề ngoài là thể
hiện vật lý, nhng để xây dựng các mô hình thì lại phải dùng kỹ thuật xử lý
từng điểm ảnh, tức là nghiên cứu bằng công cụ Đềcác. Hơn nữa, các mô hình
+ Bằng các hình ảnh minh họa trực quan cần rèn luyện cho học sinh đạt
đợc những kỹ năng sau đây: biết lập luận có căn cứ, trình bày lời giải một
cách mạch lạc, biết vận dụng công thức một cách sáng tạo khi giải các bài
toán định tính, định lợng.
+ Việc giảng dạy quan hệ vuông góc cần coi trọng đặc biệt giai đoạn
đầu. Có thể giải quyết vấn đề này bằng việc sử dụng hợp lý các phơng tiện
trực quan, đồng thời làm chỗ dựa vững chắc cho việc hình thành các khái niệm
và tính chất, lập luận có căn cứ.
12
Tóm lại, bằng phơng pháp trực quan, các phơng tiện trực quan khi dạy
học phần quan hệ vuông góc có thể tạo điều kiện thuận lợi cho cho hoạt động
dạy học, kích thích quá trình học tập, cung cấp cho học sinh những kiến thức
bền vững, chính xác.
Sự phân tích các đặc điểm nêu trên cho phép kết luận rằng:
Yêu cầu s phạm của việc xây dựng và sử dụng phơng tiện trực quan
dùng cho việc dạy học phần quan hệ vuông góc phải góp phần:
- Tạo ra các hình ảnh ban đầu, các biểu tợng về đối tợng nghiên cứu
- Tái tạo lại nội dung các vấn đề nghiên cứu trong dạng ngắn gọn, nhằm
giúp học sinh củng cố ghi nhớ, áp dụng kiến thức.
- Hớng dẫn học sinh lập luận có căn cứ.
- Tạo điều kiện cho quá trình suy diễn trừu tợng phát triển thuận lợi.
1.5 Xác định các dạng phơng tiện trực quan trong dạy học hình
học không gian.
1.5.1 Các mô hình hình học
Các mô hình hình học có thể làm bằng nhựa hoặc làm bằng gỗ, bằng
các bìa cứng, bìa cát tông với yêu cầu đẹp, tơng thích với các hình hình học.
Chẳng hạn: mô hình hình chữ nhật, hình vuông, hình tam giác, hình thang
Các mô hình hình học có tác dụng trong việc hình thành biểu tợng đúng
đắn về các hình khối, giúp học sinh phát triển trí tởng tợng không gian một
cách vững chắc.
khác, nó còn tiết kiệm thời gian vẽ lại hình, chẳng hạn, sau khi chiếu hình hộp
lên bảng, yêu cầu học sinh vẽ tiếp các phần liên quan đến bài toán để giải
quyết nhiệm vụ đặt ra; sau khi hoàn thành ta chỉ cần xoá đi phần bảng mà học
sinh vẽ và học sinh tiếp theo lại dùng hình hộp ban đầu để tiếp tục xem xét bài
toán theo khía cạnh khác mà không cần vẽ lại hình.
Trong quá trình dạy giải bài tập, phim đèn chiếu cho phép đa lên màn
ảnh những dữ kiện của bài toán, nhờ đó giáo viên không phải vẽ những hình
phức tạp nên tiết kiệm thời gian, nhanh chóng tiến hành những chỉ dẫn cần
thiết và theo dõi học sinh làm việc.
1.5.4 Phần mềm dạy học.
Trong giai đoạn gần đây, với sự phát triển vợt bậc của ngành công nghệ
thông tin, các phần mềm dạy học đã ra đời và dần tỏ rõ tính năng u việt của
mình so với các phơng tiện trực quan khác trong dạy học nói chung và dạy
học hình học nói riêng.
14
Một phần mềm dạy học, với nhiều công cụ trình diễn, chúng ta có thể
thiết kế nên một bài giảng hoàn chỉnh theo đúng ý đồ riêng của mỗi giáo viên
một cách rõ ràng, sáng sủa với những hình ảnh sống động và màu sắc theo ý
muốn cho từng bài dạy. Nhờ đó giáo viên có thể hạn chế tối đa thời gian ghi
bảng thay vào đó là làm việc trực tiếp với học sinh.
Với kĩ thuật đồ họa tiên tiến, chúng ta có thể mô phỏng nhiều quá trình,
hiện tợng thực tế mà khó có thể đa ra cho học sinh thấy trong mỗi tiết học.
Trong dạy học hình học, để thể hiện đợc các yếu tố mang tính biến đổi nh quỹ
tích cho học sinh hiểu rõ không còn là một vấn đề quá khó với sự giúp đỡ của
các phần mềm dạy học. Ngay cả với môn hình học không gian cũng vậy,
chúng ta có thể tạo ra các mô hình không gian đồng thời cho các mô hình này
thể hiện dới nhiều góc độ khác nhau làm tăng tính trực quan của chúng lên
nhiều lần.
Qua việc xác định các phơng tiện trực quan trong dạy học hình học
không gian, ta thấy rõ u điểm vợt trội của phần mềm dạy học. Đây cũng là
nhiều mô hình để học sinh tiện lợi trong việc đối chiếu, so sánh. Cần sử dụng
khéo léo màu sắc, kích thớc mô hình, kích cỡ văn bản để định hớng và điều
khiển đợc sự chú ý quan sát của học sinh.
Phần mềm dạy học phải phù hợp với chức năng mà nó đảm nhận. Tốt
nhất là nên có phần hớng dẫn, gợi ý cách sử dụng. Có thể xây dựng phần mềm
dạy học phục vụ cho từng chức năng riêng rẽ. Tuy nhiên thông thờng các phần
mềm dạy học thờng đợc xây dựng để có thể dễ dàng lựa chọn các nội dung sử
dụng vào từng giai đoạn, từng mục đích cụ thể. Các nội dung này thờng đợc
thể hiện trên một hệ thống thực đơn (Menu) để giáo viên và học sinh dễ dàng
lựa chọn nhờ bàn phím và chuột.
Phần mềm dạy học phải đợc thiết kế phù hợp với trình độ Tin học của
giáo viên và học sinh. Cần khai thác tối đa các khả năng giao tiếp giữa ngời và
máy thông qua bàn phím, con chuột, các phím tắt (Hotkey), các biểu tợng
(Icon), thanh thực đơn, thanh công cụ (Tools). Cần loại bỏ các chi tiết rờm
rà, thiếu chọn lọc, kém hiệu quả. Các phần mềm dạy học nên có phần gợi ý
nhỏ (Hint) và bộ trợ giúp sử dụng (Help).
Trong chừng mực nhất định phần mềm không chỉ sử dụng cho giáo viên
mà có thể cả cho học sinh kích thích khả năng tự học, gợi ra những vấn đề để
học sinh tự khám phá.
Cuối cùng, phần mềm dạy học phải phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi,
bảo đảm vệ sinh học đờng. Muốn vậy, cần chú ý đến cờng độ ánh sáng trên
màn hình, màu sắc thể hiện cũng nh âm thanh.
16
* Yêu cầu về kỹ thuật.
Trớc hết là các yêu cầu về mặt lựa chọn công cụ. Một phần mềm dạy
học là sản phẩm của sự phối hợp khả năng lập trình tốt của nhà tin học với
những kiến thức về mặt s phạm của nhà nghiên cứu giáo dục. Tốt hơn hết là
sản phẩm của Hai con ngời trong một con ngời. Nếu ngời giáo viên có khả
năng lập trình trên máy vi tính để viết nên các phần mềm dạy học thì càng tốt.
Bởi vì khi đó ngời giáo viên sẽ chủ động thiết kế chơng trình theo đúng ý đồ
đại nhng các giáo viên cha quen hay thậm chí là không biết sử dụng. Trớc sự
thiếu thốn về thiết bị dạy học, nhiều thầy cô giáo tự tìm tòi chế tạo ra hay cho
học sinh tự làm những mô hình hình học không gian phục vụ cho quá trình
dạy học, nhờ vậy tiết dạy của giáo viên trở nên sinh động hơn, đỡ mất thời
gian hơn, học sinh tiếp thu kiến thức dễ dàng hơn. Tuy nhiên, việc tạo ra các
mô hình trực quan đó đòi hỏi rất nhiều công sức và chi phí nhng cũng chỉ có
thể tạo ra đợc những mô hình tĩnh, đơn giản, thiếu tính động. Hơn nữa, có rất
nhiều tình huống mà công cụ trực quan thông thờng không thể thể hiện đợc.
Trên địa bàn Thành phố Vinh hiện nay đã có nhiều trờng đợc trang bị
hệ thống phòng máy hiện đại nhng số tiết dạy có sử dụng máy tính còn rất ít,
không đáng kể. Sở dĩ nh vậy là do số giáo viên biết sử dụng máy tính còn hạn
chế và quá trình soạn ra một tiết dạy lại phải đầu t nhiều thời gian và công
sức.
Trớc thực trạng nh vậy, nhu cầu đa ra một công cụ tơng đối đơn giản,
giáo viên dễ thao tác và biên soạn bài giảng là một việc làm có ích và phù hợp
với thực tế hiện nay. Trong phần sau chúng tôi trình bày về một công cụ nh
vậy. Đó là sử dụng phần mềm Geometer's Sketchpad làm phơng tiện trực quan
trong dạy học hình học không gian lớp 11.
18
Chơng 2
Sử dụng phần mềm Geometer's Sketchpad
làm phơng tiện trực quan trong quá
trình dạy học hình học không gian 11.
2.1 Các yêu cầu s phạm của việc xây dựng và sử dụng các phơng
tiện trực quan trong quá trình dạy học.
Nh đã nhận xét ở phần trên, việc sử dụng các phơng tiện trực quan trong
quá trình dạy học là thật sự cần thiết. Tuy nhiên để đảm bảo tính khoa học và
tính hiệu quả của việc xây dựng và sử dụng các phơng tiện trực quan trong quá
trình dạy học nhất thiết phải đảm bảo các yêu cầu s phạm chủ yếu sau:
+ Yêu cầu s phạm thứ nhất: Việc xây dựng và sử dụng các phơng tiện
thực hiện thống nhất trong phạm vi toàn quốc trong nhiều năm và đợc điều
chỉnh nhiều lần cho phù hợp với thực tiễn giáo dục ở nớc ta.
Trong hệ thống các phơng tiện trực quan nói chung, sách giáo khoa toán
chiếm vị trí trung tâm, là hạt nhân. Vì vậy, dạy học theo hớng vận dụng các
phơng tiện trực quan phải phù hợp với chơng trình sách giáo khoa hiện hành;
khai thác triệt để những tình huống còn ẩn tàng trong sách giáo khoa sẽ thực
hiện đợc mục đích của giờ dạy toán.
+ Yêu cầu s phạm thứ ba: Việc xây dựng và sử dụng phơng tiện trực
quan phải dựa trên định hớng đổi mới phơng pháp dạy học hiện nay, trong đó
đáng chú ý là phải tạo cho học sinh một môi trờng hoạt động tích cực, tự giác.
Để rèn luyện cho học sinh khả năng sử dụng phơng tiện trực quan trớc
hết phải đổi mới nhận thức về vai trò, chức năng của ngời giáo viên trong quá
trình dạy học. Giáo viên phải là ngời hớng dẫn, tổ chức cho học sinh tự mình
khám phá kiến thức mới. Thông qua các phơng tiện trực quan dạy cho học
sinh không chỉ kiến thức mà cả phơng pháp học trong đó cốt lõi là phơng pháp
tự học. ở trờng THPT, thông qua dạy học toán cần quan tâm tới phơng pháp
trực quan nhằm tạo cho học sinh hứng thú tiến hành các hoạt động toán học,
tự giác tìm tòi kiến thức mới.
Định hớng quan trọng trong đổi mới phơng pháp dạy học hiện nay là:
Học tập trong hoạt động và bằng hoạt động. Định hớng này bao hàm một
loạt ý tởng lớn đặc trng cho phơng pháp dạy học hiện đại, đó là:
- Xác lập vị trí chủ thể của ngời học, đảm bảo tính tự giác tích cực là
chủ thể chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành thái độ chứ không
phải là nhân vật bị động hoàn toàn theo lệnh của thầy giáo.
20
- Dạy học dựa trên sự nghiên cứu tác động của những quan niệm và
kiến thức sẵn có của ngời học.
- Dạy việc học, dạy cách học thông qua toàn bộ quá trình dạy học.
- Dạy tự học trong quá trình dạy học.
- Xác định vai trò mới của ngời thầy với t cách ngời thiết kế, ủy thác,
đó học sinh mới thật sự hiểu thấu đáo vấn đề và làm chủ tri thức của mình.
Thông qua hình thức này năng lực của học sinh đợc bộc lộ toàn diện và quan
trọng hơn là sự bộc lộ này không cần những gợi ý hớng dẫn của giáo viên mà
hoàn toàn do sự tự huy động vốn tri thức của học sinh.
Để giúp học sinh vận dụng kiến thức tốt, giáo viên đa ra những vấn đề
vừa mang tính khái quát, vừa mang tính hấp dẫn gợi tò mò, hứng thú để học
sinh tự lực khai thác, suy nghĩ tìm tòi, phát hiện những vấn đề mới và tự mình
giải quyết vấn đề đó.
2.2 Sự hợp lý của việc sử dụng công nghệ thông tin vào quá
trình dạy học.
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng thì quá trình nhận
thức phải đi từ trực quan sinh động đến t duy trừu tợng sau đó trở lại thực tiễn
kiểm chứng. Chính vì vậy, trong tiến trình dạy học cần phải tăng cờng các yếu
tố thức tiễn. Hay nói một cách khác là phải có sự tơng quan hợp lý giữa các
tác động bằng lời nói của giáo viên với các phơng tiện trực quan. Chính các
phơng tiện trực quan sẽ giúp hình thành những biểu tợng cụ thể trong ký ức
của học sinh. Các khái niệm, các định lý thờng đợc hình thành trên cơ sở các
biểu tợng và chính các biểu tợng là điều dễ gợi nhớ nhất khi cần huy động
những kiến thức sẵn có.
Với sự phát triển của công nghệ thông tin hiện nay, máy vi tính đã trở
thành một công cụ lu trữ và xử lý thông tin tuyệt vời, với sự giúp đỡ của nó
chúng ta có thể làm đợc rất nhiều điều trong việc hỗ trợ giảng dạy hình học
không gian. Tuy nhiên nó có thể tác động vào tâm lý của học sinh ra sao còn
phụ thuộc vào việc chúng ta sử dụng máy vi tính nh thế nào để phù hợp với
các quá trình tâm lý của học sinh.
Trớc hết, máy tính điện tử giúp tạo động cơ học tập tích cực đối với học
sinh. Những mô hình sinh động cụ thể đợc phối hợp nhuần nhuyễn với âm
thanh, hình ảnh, màu sắc, văn bản, đồ hoạ sẽ có tác động tích cực vào các
giác quan của học sinh làm nâng cao tính trực quan trong giờ học, làm cơ sở
cho việc phát triển các năng lực t duy nh phân tích, tổng hợp, so sánh, khái
thức, các công trình của các nhà khoa học nghiên cứu về trí nhớ, tri giác cho
thấy: việc học tập với máy tính điện tử và các thiết bị đa phơng tiện
(MultiMedia) nh văn bản, hình vẽ, hình ảnh động đồ hoạ kết hợp âm thanh sẽ
làm tăng khả năng và chất lợng của việc ghi nhớ các kiến thức trong đầu học
sinh. Thông qua các phần mềm dạy học trên máy tính điện tử, thông qua quan
sát các mô hình làm cho học sinh cùng một lúc phải thực hiện nhiều thao tác
nghe, nhìn, đọc và t duy. Các mô hình trực quan sẽ góp phần phát triển khả
năng lĩnh hội và ghi nhớ kiến thức một cách chắc chắn. Để có đợc những u
23
điểm này, các mô hình cần thiết kế gắn liền với những kiến thức trọng tâm của
bài học, làm cho học sinh vừa ghi nhớ chắc chắn nội dung lại vừa nắm rõ biểu
tợng rất thuận tiện khi huy động kiến thức một cách tức thì.
Khi học, học sinh bị giới hạn bởi khuôn khổ lớp học, học sinh không
thấy đợc sự phản hồi của thực tiễn đối với các nhận định của các em. Chính
việc đa máy tính điện tử vào trình diễn là chúng ta đã đa cả thế giới khách
quan vào trớc mắt của học sinh. Các em có thể xem xét đa ra nhận định, các
em cũng có thể yêu cầu đợc có tác động vào các mô hình để nhìn các mô hình
trong sự vận động, lúc đó mới thấy rõ đợc các thuộc tính bản chất của các đối
tợng và chờ đợi sự phản hồi của các mô hình để khẳng định tính đúng đắn hay
phủ định để đa ra nhận định khác. Từ đó hình thành cho mình những vốn tri
thức hoàn toàn tin cậy chứ không theo sự áp đặt của thầy giáo nh từ trớc đến
nay chúng ta vẫn làm.
Việc sử dụng máy tính điện tử và các phơng tiện kỹ thuật hiện đại vào
hỗ trợ dạy học trong nhà trờng sẽ làm nâng cao uy tín của nhà trờng đối với
gia đình và xã hội. Điều đó có tác động tích cực đến tâm lý của học sinh, phụ
huynh và toàn xã hội. Việc giáo viên sử dụng tốt các phần mềm dạy học trên
máy tính điện tử sẽ đợc học sinh đánh giá cao, tạo niềm tin cho các em và từ
đó gây dựng đợc ở các em lòng say mê học tập, tình yêu đối với môn học và
sự gắn bó với nhà trờng. Dạy học với máy tính điện tử là chiếc cầu nối giúp
nhà trờng gắn liền với thực tiễn xã hội và trình độ phát triển của khoa học
Trớc tiên chúng ta sẽ làm quen với môi trờng làm việc của Sketchpad.
Sau khi mở chơng trình bằng cách Click vào biểu tợng của phần mềm
Geometer's Sketchpad trên màn hình sẽ xuất hiện giao diện làm việc nh sau:
25