thực trạng hoạt động bảo lãnh tại chi nhánh ngân hàng đầu tư và phát triển hải vân qua 3 năm 2008-2010 - Pdf 10

Chuyên đề tốt nghiệp GVHD:CN.Bùi Thị Hạnh Mỹ
LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay,quan hệ giữa khách hàng và ngân hàng là
một quan hệ gắn bó mật thiết,có tác động qua lại và hỗ trợ cho nhau trong quá trình
phát triển.Hoạt động của ngân hàng với rất nhiều dịch vụ đã phần nào đáp ứng được
nhu cầu của xã hội cũng như của khách hàng.Tuy nhiên,còn rất nhiều dịch vụ chưa
được khai thác hết.Mặt khác,các ngân hàng thương mại ở nước ta hiện nay đang trong
quá trình thực hiện chiến lược nâng cao khả năng cạnh tranh trước yêu cầu mở cửa thị
trường dịch vụ tài chính,hội nhập quốc tế,thực hiện các cam kết trong khuôn khổ
WTO.Trọng tâm của chiến lược này là hiện đại hóa công nghệ ,phát triển dịch vụ,nâng
cao trình độ quản lý theo chuẩn mực quốc tế…Bởi vậy phát triển và đa dạng hóa dịch
vụ ngân hàng trở thành vấn đề tất yếu khách quan,là vấn đề cấp bách đối với tất cả
ngân hàng thương mại trong nước.
Trong các dịch vụ đó thì bảo lãnh ngân hàng là một dịch vụ mới mẻ,là công cụ
phòng ngừa rủi ro của các ngân hàng với khả năng ứng dụng rộng rãi trong các loại
giao dịch(tài chính lẫn phi tài chính,thương mại lẫn phi thương mại).Bảo lãnh ngân
hàng ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển của nền kinh tế.
Sau thời gian thực tập tại chi nhánh ngân hàng đầu tư và phát triển Hải Vân,em
nhận thấy dịch vụ bảo lãnh của ngân hàng trong những năm qua đã phần nào đáp ứng
được nhu cầu của khách hàng và ngày càng phát triển tại ngân hàng.Với mong muốn
tìm hiểu về hoạt động bảo lãnh tại ngân hàng,nên em chọn đề tài:“Thực trạng hoạt
động bảo lãnh tại Chi nhánh Ngân Hàng Đầu Tư và Phát Triển Hải Vân qua 3
năm 2008-2010” cho chuyên đề thực tập của mình.
Mục đích của đề tài nghiên cứu này là thông qua hệ thống lý luận cơ bản về
chất lượng bảo lãnh Ngân hàng, tìm hiểu và phân tích chất lượng hoạt động bảo lãnh
tại BIDV Hải Vân, nêu bật được thành công cũng như các tồn tại và các nguyên nhân
của nó, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động bảo lãnh tại
BIDV Hải Vân .
Ngoài lời mở đầu và kết luận thì chuyên đề được chia thành 3 chương chư sau:
Chương 1: Những vấn đề chung về NHTM và hoạt động bảo lãnh của NHTM
Chương 2: Thực trạng hoạt động bảo lãnh tại BIDV Hải Vân

của ngân hàng thương mại.Ngân hàng là chiếc cầu nối giữa những chủ thể có tiền
nhưng chưa đem sử dụng và những chủ thể có nhu cầu tiền tệ thông qua việc đứng ra
tập trung những tiền tệ chưa sử dụng của các chủ thể trong nền kinh tế, trên cơ sở đó
cung cấp vốn cho những chủ thể có nhu cầu cần bổ sung tạm thời. Nói một cách khái
quát hơn, Ngân hàng vừa là người đi vay cũng đồng thời là người cho vay, có nghĩa là
nghiệp vụ chính của Ngân hàng thương mại là đi vay để cho vay.
Qúa trình thực hiện chức năng định chế tài chính trung gian đóng vai trò quan
trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, điều hòa lưu thông tiền tệ cũng như sự
phát triển của toàn bộ hệ thống ngân hàng.
1.1.2.2 Ngân hàng thương mại có chức năng tạo tiền
Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của ngân NHTM.
Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chính cho sự tồn tại và phát
triển của mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của mình đã
vô hình chung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế. Chức năng tạo tiền được
thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM là chức năng tín dụng và chức năng
thanh toán. Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy
SVTH: Phan Hữu Anh Tuấn Trang: 3
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD:CN.Bùi Thị Hạnh Mỹ
động được để cho vay, số tiền cho vay ra lại được khách hàng sử dụng để mua hàng
hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách
hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng để mua hàng
hóa, thanh toán dịch vụ… Với chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăng tổng
phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã
hội Khả năng tạo tiền phụ thuộc vào chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương,
trong đó “tỷ lệ dự trữ bắt buộc” là một công cụ quan trọng. Lượng tiền cung tăng lên
hay giảm xuống phù hợp với mục tiêu của nền kinh tế: tăng trưởng kinh tế, kiềm chế
lạm phát.
1.1.2.3 Ngân hàng thương mại là thủ quỹ của khách hàng
Sự phát triển về cung ứng hàng hoá dịch vụ phát sinh trong quá trình sản xuất
kinh doanh giữa các tổ chức kinh tế và cá nhân. Việc thanh toán trực tiếp lẫn nhau gặp

 Phát hành giấy tờ có giá: NHTM được quyền phát hành giấy tờ có giá (kì
phiếu ngân hàng, trái phiếu ngân hàng…) để huy động vốn có kì hạn và có mục đích
sử dụng.
 Các hình thức huy động vốn khác như vay vốn ở các NHTM khác, vay
vốn tại ngân hàng Nhà nước…
1.1.3.2. Nghiệp vụ cho vay.
Nghiệp vụ cho vay là hoạt động chính yếu và quan trọng nhất của bất kì một ngân
hàng thương mại nào. Nó quyết định đến khả năng tồn tại và hoạt động của ngân hàng
thương mại.
Cho vay là khoản mục tạo ra thu nhập chủ yếu cho ngân hàng nhưng cũng lại là
khoản mục mang tính rủi ro cao nhất và khả năng chuyển đổi thành tiền kém nhất .Vì
vậy, khi đầu tư vào khoản mục này ngân hàng phải tính để đạt lợi nhuận cao nhất với
mức độ rủi ro có thể chấp nhận được.Ngân hàng cần phải cân nhắc để lựa chọn hình
thức đầu tư, đối tượng khách hàng đầu tư.Khoản mục này hình thành khi ngân hàng
cho khách hàng vay.Danh mục này được phân thành nhiều loại theo nhiều tiêu thức
khác nhau như theo đối tượng khách hàng, theo thời hạn cho vay ,theo tính chất đảm
bảo, theo mục đích sử dụng vốn vay , theo cách trả nợ, theo tính chất lãi suất …
1.1.3.3 Các hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng
Các dịch vụ thanh toán thu, chi hộ cho khách hàng (chuyển tiền, thu hộ sec, dịch
vụ cung cấp thẻ tín dụng, thẻ thanh toán… )
• Bảo quản các tài sản quý giá, giấy tờ, chứng thư quan trọng của công
chúng.
SVTH: Phan Hữu Anh Tuấn Trang: 5
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD:CN.Bùi Thị Hạnh Mỹ
• Bảo quản, mua bán hộ chứng khoán theo ủy nhiệm của khách hàng.
• Kinh doanh mua bán ngoại tệ, vàng, bạc, đá quý.
• Góp vốn, mua cổ phần.
+ Góp vốn, mua cổ phần các doanh nghiệp.
+ Góp vốn, mua cổ phần các tổ chức tín dụng khác.
• Kinh doanh dịch vụ bảo hiểm.

đầu tư tại Việt Nam.
Bên nhận bảo lãnh là các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước có quyền thụ
hưởng các cam kết bảo lãnh của các tổ chức tín dụng. Quan hệ giữa các bên trong hợp
đồng bảo lãnh được mô tả bởi sơ đồ sau:
- Cam kết bảo lãnh là cam kết đơn phương bằng văn bản của các tổ chức tín dụng hoặc
văn bản thỏa thuận giữa tổ chức tín dụng, khách hàng được bảo lãnh với bên nhận bảo
lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi
khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ cam kết với bên nhận bảo lãnh
1.2.2 Đặc điểm,vai trò,chức năng của bảo lãnh ngân hàng
1.2.2.1 Đặc điểm của bảo lãnh
a. Bảo lãnh ngân hàng có mối quan hệ nhiều bên phụ thuộc lẫn nhau:
Trong nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng thường có sự kết hợp giữa 3 hợp đồng:
hợp đồng giữa bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh, hợp đồng giữa bên được bảo
lãnh và bên bảo lãnh, hợp đồng giữa bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh.
Bên bảo lãnh là người phát hành bảo lãnh như NHTM, TCTD thành lập và hoạt
động theo Luật các TCTD.
SVTH: Phan Hữu Anh Tuấn Trang: 7
Hợp đồng mua bán, dự thầu
(2)
Đơn xin bảo lãnh
(1)
Thư bảo lãnh
Bên được bảo lãnh Bên nhận bảo lãnh
Bên bảo lãnh
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD:CN.Bùi Thị Hạnh Mỹ
Bên được bảo lãnh là các khách hàng phải thực hiện nghĩa vụ chi trả bao gồm:
DNNN, công ty cổ phần, công ty TNHH, công ty hợp danh, doanh nghiệp của các tổ
chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước
ngoài…
Bên nhận bảo lãnh là các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước có quyền thụ

Người bị bảo lãnh luôn bị một áp lực của việc bồi hoàn toàn bảo lãnh.Do vậy bảo
lãnh có vai trò đốc thúc người được bảo lãnh thực hiện hoàn tất hợp đồng đã ký kết.
Tuy được bảo đảm sẽ nhận được khoản tiền bồi hoàn nhưng ngay cả người thụ hưởng
cũng hoàn toàn không muốn điều này xảy ra. Cái họ muốn là sự hoàn tất suôn sẻ của
hợp đồng. Bảo lãnh mang ý nghĩa ràng buộc đốc thúc người được bảo lãnh thực hiện
hợp đồng hơn là việc bồi hoàn.
1.2.2.3 Vai trò của bảo lãnh
a. Đối với doanh nghiệp:
Trong các quan hệ kinh tế không phải lúc nào các đối tác cũng tin tưởng nhau
do rất nhiều nguyên nhân. Vì thế, để đảm bảo an toàn quan hệ làm ăn, bên cung cấp
thường yêu cầu bên kia phải có bảo lãnh của ngân hàng thì giao dịch mới thực hiện.
Do đó bảo lãnh ngân hàng đôi khi là yêu cầu bắt buộc để bước đầu giúp cho doanh
nghiệp có cơ hội tiếp cận với hợp đồng. Ngoài ra, bảo lãnh giúp cho doanh nghiệp tiết
kiệm được khoản vay vốn đáng kể, có thêm nguồn tài trợ cho nhu cầu vốn luư động và
doanh nghiệp chỉ phải trả một khoản phí tương đối thấp.
b. Đối với ngân hàng
Đối với ngân hàng, bảo lãnh là một trong các dịch vụ mà ngân hàng cung cấp cho
nền kinh tế. Bảo lãnh đem lại lợi ích trực tiếp cho ngân hàng đó là phí bảo lãnh. Phí
bảo lãnh đóng góp vào lợi nhuận ngân hàng một khoản không nhỏ, chiếm tỷ lệ khá lớn
trong tổng phí dịch vụ của các ngân hàng hiện nay.
Không chỉ đóng góp vào lợi nhuận, bảo lãnh còn làm đa dạng hoá các loại hình
dịch vụ, giúp ngân hàng giảm thiểu rủi ro mất vốn.
c. Đối với nền kinh tế
Sự tồn tại bảo lãnh ngân hàng là một khách quan đối với nền kinh tế, đáp ứng yêu
cầu làm cho nền kinh tế ngày một phát triển. Nó có vai trò như một chất xúc tác làm
điều hoà, xúc tiến hàng loạt các quan hệ trong hợp đồng kinh tế. Nhờ có bảo lãnh mà
các bên có thể tin tưởng yên tâm tham gia ký kết các hợp đồng kinh tế và có trách
nhiệm với hợp đồng của mình đã ký kết.
SVTH: Phan Hữu Anh Tuấn Trang: 9
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD:CN.Bùi Thị Hạnh Mỹ

SVTH: Phan Hữu Anh Tuấn Trang: 10
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD:CN.Bùi Thị Hạnh Mỹ
 Bảo lãnh dự thầu là một bảo lãnh ngân hàng do tổ chức tín dụng phát hành
cho bên mời thầu để đảm bảo nghĩa vụ tham gia dự thầu của khách hàng.
 Trường hợp khách hàng bị phạt do vi phạm qui định dự thầu mà không nộp
hoặc nộp không đủ tiền phạt cho bên mời thầu thì tổ chức tín dụng thực hiện nghĩa vụ
bảo lãnh đã cam kết.
 Bảo lãnh thực hiện hợp đồng là một bảo lãnh ngân hàng do tổ chức tín dụng
phát hành cho bên nhận bảo lãnh đảm bảo việc thực hiện đúng, đầy đủ các nghĩa vụ
của khách hàng với bên nhận bảo lãnh theo hợp đồng đã kí kết. Trong trường hợp
khách hàng không thực hiện đúng và đầy đủ các nghĩa vụ trong hợp đồng, tổ chức tín
dụng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đã cam kết.
 Bảo lãnh bảo đảm chất lượng sản phẩm là một bảo lãnh ngân hàng do tổ
chức tín dụng phát hành cho bên nhận bảo lãnh đảm bảo khách hàng thực hiện đúng
các thỏa thuận về chất lượng của sản phẩm theo hợp đồng đã kí kết với bên nhận bảo
lãnh
 Bảo lãnh thanh toán là một bảo lãnh ngân hàng do tổ chức tín dụng phát
hành cho bên nhận bảo lãnh cam kết thanh toán thay cho khách hàng trong trường hợp
khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ của mình khi đến
hạn.
 Bảo lãnh hoàn thanh toán (hoàn trả tiền đặt cọc) là một bảo lãnh ngân hàng
do tổ chức tín dụng phát hành cho bên nhận bảo lãnh về việc đảm bảo nghĩa vụ hoàn
trả tiền ứng trước của khách hàng theo hợp đồng đã kí kết với bên nhận bảo lãnh.
Trong trường hợp khách hàng vi phạm các cam kết với bên nhận bảo lãnh và phải
hoàn trả tiền ứng trước cho bên nhận bảo lãnh thì tổ chức tín dụng sẽ hoàn trả tiền ứng
trước cho bên nhận bảo lãnh.
1.2.4 Các yếu tố trong bảo lãnh ngân hàng
1.2.4.1 Đối tượng,điều kiện được bảo lãnh
a) Đối tượng được bảo lãnh:
Khách hàng được tổ chức tín dụng bảo lãnh là các tổ chức và cá nhân trong nước

nước;
• Nghĩa vụ của khách hàng khi tham gia dự thầu;
• Nghĩa vụ của khách hàng khi tham gia quan hệ hợp đồng với bên nhận bảo
lãnh, như thực hiện hợp đồng, bảo đảm chất lượng sản phẩm, nhận và hoàn trả
tiền ứng trước;
SVTH: Phan Hữu Anh Tuấn Trang: 12
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD:CN.Bùi Thị Hạnh Mỹ
• Các nghĩa vụ hợp pháp khác do các bên thoả thuận
1.2.4.3 Giới hạn bảo lãnh
• Tổng số dư bảo lãnh của tổ chức tín dụng đối với một khách hàng không được
vượt quá 15% (mười lăm phần trăm) vốn tự có của tổ chức tín dụng. Tổng số
dư bảo lãnh của chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với một khách hàng
không vượt quá 15% vốn tự có của ngân hàng nước ngoài.
• Số dư bảo lãnh của tổ chức tín dụng cho một khách hàng quy định tại khoản 1
điều này bao gồm tổng số dư bảo lãnh và các cam kết phát hành theo hình thức
tín dụng chứng từ, ngoại trừ hình thức mở thư tín dụng trả ngay được khách
hàng ký quỹ đủ hoặc được cho vay 100% giá trị thanh toán.
1.2.4.4 Phí bảo lãnh
Công thức tính:
1.2.4.5 Hồ sơ và hợp đồng cấp bảo lãnh:
*Hồ sơ đề nghị bảo lãnh của khách hàng bao gồm đề nghị bảo lãnh và các tài
liệu có liên quan đến giao dịch bảo lãnh do tổ chức tín dụng quy định. Khách hàng
cung cấp đầy đủ, trung thực các thông tin, tài liệu liên quan đến việc bảo lãnh theo yêu
cầu của tổ chức tín dụng và chịu trách nhiệm về tính chính xác của các thông tin, tài
liệu này.
* Hợp đồng cấp bảo lãnh do bên bảo lãnh, khách hàng và các bên liên quan
(nếu có) thoả thuận bao gồm các nội dung sau đây:
• Tên, địa chỉ của bên bảo lãnh, khách hàng và thời gian ký hợp đồng;
• Số tiền, thời hạn bảo lãnh và phí bảo lãnh;
• Mục đích bảo lãnh;

phát tiền vay nhưng về thực chất mức độ trách nhiệm, nghĩa vụ ngân hàng trong
nghiệp vụ này cũng tương đương như nghiệp vụ tín dụng. Hoạt động bảo lãnh bảo
đảm hoàn trả vốn vay đặt ngân hàng trước cùng một rủi ro như rủi ro của các món cho
vay trực tiếp.
Rủi ro tín dụng là rủi ro lớn nhất trong kinh doanh của ngân hàng thương mại.
Nguyên nhân của rủi ro này là người vay cố tình dây dưa không trả nợ hoặc không có
khả năng trả nợ. Người vay tạm thơì có khó khăn về ngân quỹ hoặc do kinh doanh
không có hiệu quả hoặc bị rủi ro.
b)Rủi ro về lãi suất & rủi ro hoái đoái:
SVTH: Phan Hữu Anh Tuấn Trang: 14
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD:CN.Bùi Thị Hạnh Mỹ
Rủi ro về lãi suất và hoái đoái xãy ra khi khách hàng nhận nợ vay ngân hàng để
thực hiện nghĩa vụ với bên thụ hưởng(trường hợp này thường ít xãy ra).
c).Rủi ro mất khả năng thanh toán :
Căn cứ vào tỷ lệ trích quỹ bảolãnh là 5% giá trị bảo lãnh, nếu rủi ro thực tế lớn
hơn 5% giá trị bảo lãnh thì khả năng thanh toán trong nghiệp vụ bao lãnh sẽ không bảo
đảm, gây tác động xấu đối với khả năng thanh toán chung của ngân hàng. Ngược lại
khi khả năng thanh toán chung của ngân hàng không đảm bảo khả năng thanh toán
trong bảo lãnh cũng bị ảnh hưởng.
*Mức độ rủi ro trong bảo lãnh ngân hàng:
Như đã phân tích ở trên, thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh cũng luôn đối mặt với rủi
ro. Để đánh giá rủi ro trong các món bảo lãnh chúng ta hãy tìm hiểu mức độ rủi ro của
các tài sản có của ngân hàng. Người ta phân chia tài sản có của ngân hàng ra thành 7
loại. Mỗi loại có một hệ số rủi ro khác nhau phản ánh mức độ rủi ro tín dụng của từng
loại đó. Cụ thể là:
- Loại có hệ số rủi ro bằng 0% : Đó là tiền mặt tại quỹ, tiền gửi tại NHTƯ, tiền
cho chính phủ vay, các khoản vay có thế chấp bằng tiền.
- Loại có hệ số rủi ro bằng 10% : Đó là :
+Tiền mặt ngoại tệ tại quỹ
+ Tín dụng có bảo lãnh của NHNN và của chính phủ.

1.2.6.1 Nhân tố môi trường:
Môi truờng là nhân tố khách quan tác động tới hoạt động bảo lãnh của một ngân
hàng. Nhân tố môi trường ở đây bao gồm cả môi trường luật pháp và môi trường kinh
tế.
Luật pháp là một bộ phận không thể thiếu của một nền kinh tế có sự quản lý của
Nhà nước. Không có luật pháp hoặc luật pháp không phù hợp thì hoạt động của nền
kinh tế sẽ gặp nhiều khó khăn. Pháp luật tạo môi trường pháp lý cho mọi hoạt động
sản xuất kinh doanh tiến hành thuận lợi và có hiệu quả, là cơ sở để giải quyết các tranh
chấp, khiếu nại. Do vậy nhân tố pháp luật có vai trò rất lớn với các hoạt động ngân
hàng nói chung và hoạt động bảo lãnh nói riêng
Môi trường kinh tế cũng tác động tới bảo lãnh theo hai chiều. Một nền kinh tế ổn
định sẽ tạo điều kiện cho các khách hàng của ngân hàng trong quá trình kinh doanh.
Khi đó các doanh nghiệp không phải đối phó với các biến động bất ngờ, làm ăn có
hiệu quả, có khả năng chiếm lĩnh thị trường và đặc biệt có khả năng thực hiện đúng
các nghĩa vụ hợp đồng đã thoả thuận với bên yêu cầu bảo lãnh Nó sẽ tránh được các
SVTH: Phan Hữu Anh Tuấn Trang: 16
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD:CN.Bùi Thị Hạnh Mỹ
rủi ro trong kinh doanh cho cả ngân hàng và khách hàng. Còn khi tình hình kinh tế tài
chính bất ổn, các doanh nghiệp phải hứng chịu tình hình ngược lại và như vậy các thoả
thuận với bên yêu cầu bảo lãnh khó được thực hiện. Tình hình này làm tăng khả năng
ngân hàng phải trả thay cho khách hàng.
1.2.6.2 Nhân tố khách hàng.
Khách hàng là nhân tố tác động tương đối nhiều tới hoạt động bảo lãnh của ngân
hàng bởi chính ngân hàng tiến hành hoạt động này là để thoả mãn nhu cầu của khách
hàng. Khách hàng tác động tới cả quy mô và chất lượng nghiệp vụ bảo lãnh của ngân
hàng. Quy mô bảo lãnh của ngân hàng phụ thuộc vào nhu cầu của khách hàng, không
có nhu cầu của khách hàng thì không có nghiệp vụ bảo lãnh. Còn nếu khách hàng xin
bảo lãnh làm tốt các yêu cầu của ngân hàng như cung cấp thông tin đầy đủ, trung thực,
có trách nhiệm trong việc thực hiện những cam kết đã thoả thuận với bên yêu cầu bảo
lãnh sẽ giúp ngân hàng rất nhiều trong tiến hành bảo lãnh.

Chuyên đề tốt nghiệp GVHD:CN.Bùi Thị Hạnh Mỹ
SVTH: Phan Hữu Anh Tuấn Trang: 19
PHÓ GIÁM ĐỐC
PHÓ GIÁM ĐỐC
KHỐI
QUAN HỆ
KHÁCH HÀNG
KHỐI
TRỰC THUỘC
KHỐI
QUẢN LÝ RỦI
RO
KHỐI
QUẢN LÝ NỘI BỘ
KHỐI
TÁC NGHIỆP
PHÒNG QHKH
DN
PHÒNG QHKH CN
PHÒNG GDT.KHÊ
PHÒNG GD NGÃ
BA HUẾ
PHÒNG QLRR
PHÒNG TCKT
PHÒNG TTKQ
PHÒNG TCHC
(và V. PHÒNG)
PHÒNG KHTH
(và CTĐT)
PHÒNG GD KH

các chứng từ giao dịch và bảo mật hoạt động giao dịch, quản lý hồ sơ thông tin.
SVTH: Phan Hữu Anh Tuấn Trang: 20
Chú Thích: Quan hệ trực tuyến
Quan hệ chức năng
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD:CN.Bùi Thị Hạnh Mỹ
_ Phòng tổ chức hành chính: Tổ chức hoạt động nhân sự, đảm nhận công tác quản lý
(quản lý nhân sự, quản lý tiền lương…), tổ chức đào tạo bồi dưỡng cán bộ, thực hiện
hoạt động phụ trợ về văn thư hành chính, tạo điều kiện cho các phòng nghiệp vụ thực
hiện tốt nhiệm vụ.
_ Phòng giao dịch: Marketing cho khách hàng, trực tiếp bán sản phẩm dịch vụ tiền
gửi, chăm sóc khách hàng,tiếp nhận và xử lý đồng thời phản hồi ý kiến của khách
hàng, tư vấn khách hàng, hướng dẫn khách hàng, thực hiện huy động vốn, tín dụng,
cung cấp các dịch vụ ngân hàng (thanh toán, chuyển khoản, thu mua và đổi ngọai
tệ…)
_ Phòng kế hoạch tổng hợp: quản lý về kế hoạch kinh doanh,thông báo lãi suất, tình
hình nguồn vốn, thực hiện các nghiệp vụ mua bán ngoại tệ, báo cáo thống kê tổng hợp
hoạt động kinh doanh của chi nhánh…
_ Phòng Tiền tệ va quản lý kho quỹ: có chức năng như một quỹ mẹ, quản lý các
khoản thu,chi tiền mặt giao dịch, tình hình thu chi của ngân hàng, quản lý hồ sơ tài sản
thế chấp,cầm cố của khách hàng…
2.1.4 Tình hình hoạt động kinh doanh qua 3 năm 2008-2010:
2.1.4.1 Tình hình huy động vốn:
Để những ý tưởng, những sáng kiến trở thành hiện thực thì trước hết chúng ta
phải có vốn. Dù ý tưởng hay những sáng kiến có hay, có thực tế đi chăng nữa nhưng
nếu không có vốn thì điều đó không thể thực hiện được. Điều này chứng tỏ vốn đóng
vài trò hết sức quan trọng để có thể đầu tư, kinh doanh…Chính vì thế vốn là yếu tố
quan trọng hàng đầu của bất kì một tổ chức kinh tế nào, nhờ có vốn mà chúng ta có thể
mở rộng quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh từ đó quyết định hiệu quả kinh doanh.
Do vậy nguồn vốn của Ngân hàng là nguồn hình thành nên tài sản Có để đầu tư vào
hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.

tiền
tỷ lệ
1.Tổng NV HĐ theo kỳ hạn 626 100.0 720 100.0 94 15.0 850 100.0 130 18.1
Ngắn hạn 400 63.9 493 68.5 93 23.3 614 72.2 121 24.5
Trung và dài hạn 134 21.4 160 22.2 26 19.4 176 20.7 16 10.0
Không kỳ hạn 92 14.7 67 9.3 -25 -27.2 61 7.2 -6 -9.0
2.Tổng NV HĐ theo đối tượng 626 100.0 720 100.0 94 15.0 850 100.0 130 18.1
Huy động từ dân cư 230 36.7 368 51.1 138 60.0 442 52.0 74 20.1
HĐ từ các TCKT và HĐ khác 396 63.3 352 48.9 -44 -11.1 408 48.0 56 15.9
(Nguồn: Phòng nguồn vốn kinh doanh)
Qua bảng số liệu ta thấy vốn huy động của chi nhánh ngân hàng ĐT & PT Hải
Vân trong những năm qua có mức tăng trưởng cao đã đưa vốn huy động của ngân
hàng từ 626 tỷ đồng năm 2008 lên 720 tỷ đồng năm 2009 vời tốc độ tăng 15%.Từ 720
tỷ đồng năm 2009 lên 850 tỷ đồng vào năm 2010 tăng 130 tỷ đồng với tốc độ tăng
18,1%.Cụ thể :
Trong cơ cấu vốn phân theo kỳ hạn thì tiền gửi ngắn hạn năm 2009 đạt 493 tỷ
đồng chiếm tỷ trọng 68.5% trong tổng nguồn vốn,tăng 93 tỷ đồng so với năm 2008 với
tốc độ tăng 23.3%.Tiền gởi ngắn hạn năm 2010 đạt 614 tỷ đồng,chiếm tỷ trọng cao
nhất, chiếm 72,2% trong tổng nguồn vốn,tăng 121,1 tỷ đồng so với năm 2009 với tốc
độ tăng khá nhanh 24,5% .Đối với tiền gửi trung dài hạn năm 2009 đạt 160 tỷ đồng
chiếm tỷ trọng 22.2% trong tổng nguồn vốn tăng 26 tỷ đồng so với năm 2008,với tốc
độ tăng 19.4%.Tiền gửi trung và dài hạn năm 2010 đạt 176 tỷ đồng chiếm tỷ trọng
20,7% trong tổng nguồn vốn,tăng 16 tỷ đồng so với năm 2009 tương đương với tốc độ
tăng là 10%.Lượng tiền gửi trung và dài hạn chiếm tỷ trọng thấp sẽ gây khó khăn
trong hoạt động cho vay, nhất là cho vay các dự án đầu tư phát triển vốn là thế mạnh
của ngân hàng BIDV Hải Vân.Còn tiền gửi không kỳ hạn năm 2009 chỉ đạt 67 tỷ đồng
chiếm tỷ trọng thấp nhất trong tổng nguồn vốn(chiếm 9.3%),so với năm 2008 thì giảm
25 tỷ đồng với tốc độ giảm là 27.2%. Năm 2010 chỉ đạt 61 tỷ đồng cũng chiếm tỷ
trọng thấp nhất trong tổng nguồn vốn (chiếm 7,2%),so với năm 2009 thi giảm 6 tỷ
SVTH: Phan Hữu Anh Tuấn Trang: 22

SVTH: Phan Hữu Anh Tuấn Trang: 23
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD:CN.Bùi Thị Hạnh Mỹ
Bảng 2.2 : Hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng
ĐVT: tỷ đồng,%
Chỉ tiêu
Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010
Số
tiền
Tỷ
trọng
Số
tiền
Tỷ
trọng
2009/2008
Số
tiền
Tỷ
trọng
2010/2009
Số
tiền
tỷ
lệ
Số
tiền
tỷ lệ
1.DSCV 1239 100.0 1921 100.0 682 55.0 2110 100.0 189 9.8
Ngắn hạn 976 78.8 1400 72.9 424 43.4 1480 70.1 80 5.7
Trung dài hạn 263 21.2 521 27.1 258 98.1 630 29.9 109 20.9

SVTH: Phan Hữu Anh Tuấn Trang: 24
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD:CN.Bùi Thị Hạnh Mỹ
2008 tương ứng với tốc độ tăng trưởng là 15%.
doanh số thu nợ năm 2010 đạt 1331 tỷ đồng, tăng 181so với năm 2009 tương ứng với
tốc độ tăng trưởng là 15,7% .Tuy nhiên tốc độ tăng trưởng như vậy chưa phải là
cao,nguyên nhân là do nợ quá hạn và nợ khó đòi của thành phần khách hàng còn
chiếm tỷ trọng cao, nhất là thành phần kinh tế quốc doanh.
Cùng với sụ gia tăng của doanh số cho vay, dư nợ cuối kỳ năm 2009 đạt 1671 tỷ
đồng ,tăng 721 tỷ đồng so với năm 2008 với tốc độ tăng trưởng là 85.7%, một tốc độ
tăng trưởng cao.Dư nợ CK năm 2010 đạt 2450 tỷ đồng ,tăng 779 tỷ đồng so với năm
2009 với tốc độ tăng trưởng là 46.6%.
Trong cơ cấu kinh doanh tín dụng thể hiện ở bảng thì hoạt động tín dụng ngắn
hạn là hoạt động chiếm tỷ trọng chủ yếu. Trong năm 2009 doanh số cho vay ngắn hạn
đạt 1400 tỷ đồng, tăng 72.9 tỷ đồng so với năm 2008 tương ứng tốc độ tăng là 43.4%.
Bên cạnh đó mức dư nợ ngắn hạn cuối kỳ tăng 75.3% tương ứng với 280 tỷ đồng,
doanh số thu nợ ngắn hạn tăng 14.3% tương ứng với 140 tỷ đồng.Trong năm 2010
doanh số cho vay ngắn hạn đạt 1480 tỷ đồng, tăng 80 tỷ đồng so với năm 2009 tương
ứng tốc độ tăng là 5,7%. Bên cạnh đó mức dư nợ ngắn hạn CK tăng 30.7% tương ứng
với 200 tỷ đồng, doanh số thu nợ ngắn hạn tăng 14.3% tương ứng với 160 tỷ đồng.
Song song với hoạt động tín dụng ngắn hạn, thì hoạt động tín dụng trung và dài
hạn tại chi nhánh ngày càng được cải thiện và chú trọng hơn, tốc độ tăng trưởng mức
dư nợ CK trung và dài hạn tăng cao hơn so với tốc độ tăng của mức dư nợ CK ngắn
hạn. Doanh số cho vay trung và dài hạn năm 2009 đạt 521 tỷ đồng, tăng 258 tỷ so với
năm 2008 với tốc độ tăng là 98.1%.Dư nợ CK trung và dài hạn tăng 491 tỷ đồng với
tốc độ 93% .Doanh số thu nợ trung và dài hạn năm 2009 tăng 10 tỷ so với năm 2008
tương ứng với tốc độ là 150%, dư nợ CK trung và dài hạn năm 2009 đạt 1019 tỷ đồng
trong khi đó doanh số cho vay trung dài hạn 521 tỷ đồng, còn doanh số thu nợ trung
dài hạn trong năm chỉ đạt 30 tỷ đồng. Do doanh số thu nợ thấp nên đây cũng là nguyên
nhân làm dư nợ CK trung dài hạn tăng rất cao với tốc độ tăng là 93% tương ứng với
491tỷ đồng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status