Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Minh Tùng
MỘT SỐ KÝ HIỆU VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
BL:Bảo lãnh
BLDT:Bảo lãnh dự thầu
BLVV:Bảo lãnh vay vốn
BTHHĐ:Bảo lãnh thực hiện hợp đồng
DNNN(DNQD):Doanh nghiệpnhà nước(Doanh nghiệp quốc doanh)
DNNQD:Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
GTBL:Giá trị bảo lãnh
GTBLBQ:Giá trịbảo lãnh bình quân
NH:Ngân hàng
NHTM:Ngân hàng thương mại
NHNo&PTNT:Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
NHNN:Ngân hàng nhà nước
TGĐ:Tổng giám đốc
TCHC:Tổ chức hành chính
SD:Số dư
SPS:Số phát sinh
Khoa Tài Chính - Tín Dụng - Trang 1- Phan Thị Thanh Hương
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Minh Tùng
LỜI MỞ ĐẦU.
Dưói ánh sáng tư tưởng đổi mới sâu sắc và toàn diện do Đảng ta khởi xướng
và lãnh đạo nhằm chuyển đổi nền kinh tế nước ta sang cơ chế thị trường, với sự
điều tiết của nhà nước….đã từng bước xác lập vị thế của nước ta trong quá trình
tham gia và hoà nhập vào nền kinh tế rộng lớn của thế giới và khu vực đang diễn ra
một cách đa dạng năng động và sâu sắc.
Trong bối cảnh đó thì các hoạt động kinh tế cũng diễn ra hết sức sôi nổi,và
rủi ro ngày xuất hiện càng nhiều . Để hạn chế bớt rủi ro thì một trong những công
cụ an toàn và có hiệu quả đó là bảo lãnh ngân hàng.Với chức năng của mình,hiện
nay bảo lãnh ngân hàng được sử dụng khá rộng rãi trên nhiều lĩnh vực khác
nhau.Nó hỗ trợ cho tất cả các dịch vụ bao gồm các dịch vụ không mang tính tài
sự phát triển của kinh tế hàng hoá .Sự phát triển hệ thống ngân hàng thương mại đã
có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá,
ngược lại nền kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất của nó
kinh tế thị trường thì ngân hàng thương mại cũng ngày càng được hoàn thiện và trở
thành định chế tài chính không thể thiếu được.Vậy ngân hàng thương mại là gì?
Chúng ta tìm hiểu qua cá khái niệm sau:
Theo đạo luật ngân hàng của Pháp ban hành năm 1941 thì:”Ngân hàng
thương mại là những xí nghiệphay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền
gửi của công chúng dưới hình thức ký thác hoặc dưới hình thức khác và sử dụng tài
nguyên đó cho họ trong các nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”.
Theo điều 1 pháp lệnh ngân hàng ngày 23/5/1990 của hội đồng bộ trưởng thì
khái niệm đó được hiểu như sau:”Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền
tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi từ khách hàng với trách
nhiệmhoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay , thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và
làm phưong tiện thanh toán:.
Đến luật các tổ chức tín dụng năm1998,tại điều 20 ghi:”Ngân hàng là loại
hình tổ chức tín dụng đựơc thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động
kinh doanh khác có liên quan”trong đó:”Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được
thành lập theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt
động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử
dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các hoạt động thanh toán”. Định nghĩa này
có sự xác định rõ ràng hơn về bản chất và hoạt động của ngân hàng so với pháp
lệnh ngân hàng năm 1990.
Tuy mỗi nước có cách định nghĩa khác nhau,nhưng nhìn chung Ngân hàng
thương mại nào cũng có 3 chức năng sau:chức năng trung gian tài chính , chức năng
tạo tiền,chức năng thủ quỹ của khách hàng.
II Chức năng của ngân hàng thương mại:
1.Chức năng trung gian tài chính:
Quan hệ tín dụng trực tiếp giữa chủ thể có tiền tạm thời nhàn rỗi và chủ thể
có nhu cầu tiền tệ bổ sung gặp phải nhiều hạn chế vì người có nhu cầu khó tìm được
Hoạt động bảo lãnh nó xuất hiện từ rất lâu đời,nó tồn tại ngay trong cuộc
sống đời thường mà chúng ta không nhận ra nó.Một sự bảo đảm nào đó ,một sự cam
kết bằng miệng cũng có thể là một hình thức của bảo lãnh.Bởi vậy, trên thực tế
chưa có quyển sách nào nói chính xác về thời gian và sửa đổi của bảo lãnh. Có rất
nhiều khái niệm về bảo lãnh và chúng ta xem xét các khái niệm sau để nhận biết
thêm bảo lãnh:
Công ước liên hợp quốc về bảo lãnh độc lập và tín dụng dự phòng(Công ước
Uncital) định nghĩa:”Bảo lãnh hay cam kết là lời hứa độc lập, được biết trong thực
tiễn quốc tế như là một bảo lãnh độc lập hay là một tín dụng thư dự phòng do ngân
hàng hoặc tổ chức hay cá nhân ( người bảo lãnh/người phát hành) thanh toán cho.
Còn phòng thương mại quốc tế thì-ICC thì định nghĩa:Bảo lãnh độc lập hay
bất cứ bảo lãnh,cam kết hay cam kết thanh toán dù được gọi hay miêu tả như thế
nào, của ngân hàng công ty bảo hiểm hay pháp nhân hoặc thể nhân bằng văn bản
thanh toán một số tiền khi đựơc cam kết,bản đòi tiền và các chứng từ khác…
Bộ luật dân sự nước CHXHCN Việt Nam,tại điều 366 có định nghĩa về bảo
lãnh như sau:”Bảo lãnh là việc người thứ ba( gọi là người bảo lãnh)cam kết với bên
có quyền(gọi là người nhận bảo lãnh)sẽ thực hiện thay cho bên có nghĩa vụ(gọi là
người đựoc bảo lãnh)nếu khi đến hạn mà người được bảo lãnh không thực hiện
hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ”.
Luật tổ chức tín dụng, điều 20 có định nghĩa cụ thể về bảo lãnh ngân hàng
như sau:”Bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn bản của tổ chức tín dụng với bên
có quyền về thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng
không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết:khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho
các tổ chức tín dụng số tiền đã được trả thay”
Trong đó:
Khoa Tài Chính - Tín Dụng - Trang 4- Phan Thị Thanh Hương
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Minh Tùng
-Bên bảo lãnh là các tổ chức tín dụng được quy định bao gồm:
+NHTM nhà nước,NHTM cổ phần, ngân hàng đầu tư ngân hàng phát triển
,ngân hàng chính sách,ngân hàng liên doanh,chi nhánh ngân hàng nứoc ngoài tại
phép người bảo lãnh không phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh trong trường hợp
người nhận bảo lãnh có thể bù trừ với nghĩa vụ với người được bảo lãnh.
2.Sự cần thiết khách quan của nghiệp vụ bảo lãnh
Như chúng ta đã biết, hoạt động bảo lãnh tồn tại ngay trong cuộc sống đời
thường và cũng không ai biết chính xác thời điểm xuất hiện hoạt động bảo
lãnh.Song theo thống kê thì bảo lãnh ngân hàng được bắt đầu sử dụng rộng rãi từ
đầu thập niên 70 khi mà nền công nghiệp dầu mỏ lớn mạnh làm tăng cường mối
quan hệ ngoại giao giữa nước Trung Đông và Tây Âu.Những hợp đồng khai thác
dầu khí, mua bán sản phẩm khí đốt ,dự án xây dựng cơ sở hạ tầng…giữa phương
tây và các nước xuất khẩu dầu lửa đòi hỏi sự đảm bảo của các ngân hàng trong tài
trợ và thực hiện nghĩa vụ của các bên
Ngày nay,với sự bùng nổ của hoạt động thương mại quốc tế hoạt động mà có
nhiều điểm mới đó là:Các giao dịch này càng gia tăng về số lượng,giá trị của các
Khoa Tài Chính - Tín Dụng - Trang 5- Phan Thị Thanh Hương
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Minh Tùng
giao dịch này càng lớn,các dự án đầu tư ngày càng mang tính phức tạp về mặt kỹ
thuật công nghệ và phạm vi ngày càng mở rộng.một đặc tính quan trọng của thương
mại ngày nay là không chỉ diễn ra ở phạm vi trong nước mà còn trên phạm vi quốc
tế.Do tầm cỡ và sự phức tạp đó và việc thực hiện của nhiều nghiệp vụ cần có một
khoảng thời gian đáng kể kết hợp với nhiều sự kiện mới hoàn tất được.Từ đó cho
thấy rủi ro trong thương mại quốc tế ngày càng tăng,xuất hiện dưới nhiều dạng khác
nhau.Như vậy vấn đề đặt ra là làm thế nào để hạn chế được những những rủi ro và
từ đó đặt ra nhu cầu bảo lãnh.
Hiện nay, việc sử dụng bảo lãnh đang ngày càng phát triển,doanh số của nó
đang ngày càng gia tăng nhiều loại hình bảo lãnh đang lần lượt ra đời để đáp ứng
nhu cầu bảo lãnh của nền kinh tế.Sự tăng trưởng này một phần là do bảo lãnh ngân
hàng được dùng để hỗ trợ cho tất cả các dịch vụ bao gồm cả dịch vụ tài chính lẫn
dịch vụ phi tài chính như hợp đồng thương mại, hợp đồng xây dựng…và những
cam kết tài chính khác.
Với ý nghĩa tích cực của hoạt động bảo lãnh và xu hướng phát triển của nền
đồng thương mại,xây dựng,các giao dịch hàng hoá trong nước và quốc tế được ký
Khoa Tài Chính - Tín Dụng - Trang 6- Phan Thị Thanh Hương
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Minh Tùng
kết một cách thuận lợi.Mặt khác,do chịu trách nhiệm thực hiện cam kết,nên ngân
hàng phát hành cũng thường xuyên kiểm tra giám sát tạo nên một áp lực thực hiện
tốt hợp đồng ,giảm thiểu vi phạm về phía người được bảo lãnh.
2.2Bảo lãnh là công cụ tài trợ
Bảo lãnh không chỉ là công cụ đảm bảo đối với người thụ hưởng,bảo lãnh
còn là công cụ tài trợ thực sự về mặt tài chính cho người được bảo lãnh.Trong rất
nhiều trường hợp,thông qua bảo lãnh khách hàng(người được bảo lãnh),không phải
xuất quỹ, được thu hồi vốn nhanh chóng được vay nợ hoặc được kéo dài thời gian
thanh toán tiền hàng hoá,dịch vụ,tiền nộp thuế…Vì vậy,mặc dù không trực tiếp cấp
vốn nhưng với việc phất hành bảo lãnh ngân hàng đã giúp cho khách hàng của họ
được hưởng những thuận lợi về ngân quỹ như khi được cho vay thực sự.Với ý nghĩa
này bảo lãnh ngân hàng được coi là một trong những dịch vụ ngân hàng có ý nghĩa
đặc biệt quan trọng, đáp ứng kịp thời các yêu cầu phát triển và mở rộng sản xuất
kinh doanh,làm giảm bớt sự căng thẳng về nguồn vốn hoạt động của doanh nghiệp.
2.3 Bảo lãnh là công cụ đôn đốc hoàn thành hợp đồng:
Người thụ hưởng sẽ yêu cầu thanh toán bảo lãnh khi người được bảo lãnh vi
phạm hợp đồng.Người được bảo lãnh luôn bị một áp lực bồi hoàn bảo lãnh. Như
vậy,bảo lãnh đốc thúc người được bảo lãnh thực hiện hoàn tất hợp đồng đã ký
kết.Tuy nhiên,khi ký hợp đồng và thụ hưởng bảo lãnh,người thụ hưởng vẫn mong
muốn người được bảo lãnh thực hiện hợp đồng chứ không mong chờ ở khoản bồi
hoàn tài chính từ bảo lãnh.
Trong ba chức năng trên của bảo lãnh, chức năng thứ nhất và thứ ba có mối
liên hệ chặt chẽ với nhau vì người được bảo lãnh luôn có một sự thúc ép thực hiện
hợp đồng nên điều này càng làm tăng thêm tính bảo đảm cho người thụ hưởng.
III.Phân loại bảo lãnh ngân hàng:
1.Sơ đồ nhiệp vụ bảo lãnh của ngân hàng:
Ngân hàng bảo lãnh (4)
được sử dụng thay cho ký quỹ mà một bên đề nghị(người thụ hưởng)với bên ký hợp
đồng(bên được bảo lãnh).
c.Bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước:
Là loại bảo lãnh chủ yếu phát hành cho các chủ nợ khi ký hợp đồng có giá trị
lớn,thông thường người bán yêu cầu người mua ứng trước một lần nhằm tài trợ cho
người bán hực hiện hợp đồng.Việc ứng trước này phải có bảo lãnh hoàn thanh toán
giá trị tương đương đảm bảo.Ngoài ra nó còn áp dụng trong lĩnh vực xây dựng
Là bảo lãnh ngân hàng do TCTD phát hành cho bên nhận bảo lãnh về việc
đảm bảo nghĩa vụ hoàn trả tiền ứng trước của khách hàng theo hợp đồng đã ký kết
với bên nhận bảo lãnh.Trong trường hợp khách hàng vi phạm cam kết với bên nhận
và phải hoàn trả tiền ứng trước nhưng không hoàn trả hoặc hoàn trả không đầy đủ
cho bên nhận bảo lãnh.
d.Bảo lãnh thanh toán
Là một bảo lãnh ngân hàng do TCTD phát hành cho bên nhận bảo lãnh cam
kết sẽ thanh toán thay cho khách hàng trong trường hợp khách hàng không thực
hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ của mình khi đến hạn.
Bảo lãnh thanh toán có thể được sử dụng như một phương tiện bảo đảm thanh
toán trong hợp đồng mua bán,hợp đồng thuê mua tài chính,hợp đồng đại lý, hợp
đồng xây dựng…
e.Bảo lãnh đảm bảo chất lượng sản phẩm theo hợp đồng:
Là một loại đảm bảo ngân hàng do TCTD phát hành cho bên nhận bảo lãnh,
đảm bảo khách hàng thực hiện đúng các thoả thuận về chất lượng sản phẩm theo
hợp đồng đã ký kết với bên nhận bảo lãnh.Trong trường hợp khách hàng bị phạt
tiền do không thực hiện đúng các thoả thuận trong hợp đồng về chất lượng sản
phẩm với bên nhận bảo lãnh,TCTD thực hiện nghĩa vụ đã cam kết.
f.Bảo lãnh vay vốn:
Là một bảo lãnh ngân hàng do TCTD phát hành cho bên nhận bảo lãnh,về việc
cam kết trả nợ thay cho khách hàng trong trường hợp khách hàng không trả nợ đầy
đủ đúng hạn.
Khoa Tài Chính - Tín Dụng - Trang 8- Phan Thị Thanh Hương
c. Đồng bảo lãnh:
Trong một số dự án có giá trị lớn, để giảm thiểu rủi ro cho các ngân hàng có
thể trực hiện hợp đồng bảo lãnh.Trường hợp này một số ngân hàng đóng vai trò đầu
mối phát hành bảo lãnh nhưng có sự tham gia của các ngân hàng đồng minh khác.
d.Bảo lãnh khác:
Như bảo lãnh giáp lưng,xác nhận bảo lãnh.
2.3 Phân theo bản chất hay tính chất bảo lãnh:
a.Bảo lãnh theo yêu cầu:
Là loại bảo lãnh mà điều kiện thanh toán của nó là người thụ hưởng bảo lãnh
chỉ cần xuất trình yêu cầu thanh toán cho ngân hàng phát hành.Yêu cầu thanh toán
có thể là một trong hai dạng sau:
*Văn bản yêu cầu thanh toán.
*Văn bản yêu cầu thanh toán kèm theo với tờ trình về sự vi phạm hợp đồng
của người đượcbảo lãnh.
Các văn bản trên đều do người thụ hưởng đơn phương lập,không cần có sự xác
nhận của người được bảo lãnh hoặc bên thứ ba nào khác.
Khoa Tài Chính - Tín Dụng - Trang 9- Phan Thị Thanh Hương
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Minh Tùng
b.Bảo lãnh kèm chứng từ:
Đây là loại bảo lãnh mà điều kiện thanh toán là phải có chứng từ xác nhận của
bên thứ ba(thường là một bên độc lập đủ tư cách chuyên môn để xác nhận)
Bảo lãnh kèm theo chứng từ bảo vệ quyền lợi của người bảo lãnh tốt hơn so
với bảo lãnh theo yêu cầu nhưng như vậy có nghĩa là ưu quyền của người thụ hưởng
sẽ giảm đi. Đứng về phía ngân hàng phát hành thì bảo lãnh này đòi hỏi trách nhiệm
kiểm tra chứng từ trước khi thanh toán khá phức tạp,bởi vì chúng rất đa dạng và
không theo một tiêu chuẩn thống nhất nào.
c.Bảo lãnh kèm phán quyết của trọng tài hoặc toà án:
Điều kiện thanh toán ở đây là người thụ hưởng phải cung cấp một phán quyết
của toà án hoặc trọng tài khẳng định việc vi phạm nghĩa vụ của người được bảo
lãnh và trách nhiệm bồi hoàn đối với người thụ hưởng.Trên thực tế loại bảo lãnh
lãnh, xác định tỷ lệ bảo lãnh cho khách hàng.
5.Nhu cầu bảo lãnh:
Trong bối cảnh của đất nước đang ngày càng hoà nhập chung vào mạng lưới
thương mại khu vực tiến tới hoà nhập chung vào mạng lưới thương mại quốc tế.Từ
Khoa Tài Chính - Tín Dụng - Trang 10- Phan Thị Thanh Hương
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Minh Tùng
đó đòi hỏi sự linh hoạt, nhanh nhạy,giữ vững thị trường của các doanh nghiệp. Để
làm được điều đó thì các doanh nghiệp phải tìm hiểu nhu cầu của khách hàng,mở
rộng quy mô kinh doanh,giảm chi phí,chiếm lĩnh thị trường…Chỉ có làm như vậy
doanh nghiệp mới có khả năng tồn tại và phát triển.Thế nhưng các doanh nghiệp
hiện nay hoạt động trong một môi trường đầy biến động làm cho nguy cơ rủi ro là
rất lớn,do đó việc tìm kiếm một công cụ nhằm hạn chế rủi ro là một điều cần thiết
và bảo lãnh ngân hàng cũng là một trong các phương cách tốt nhất mà các doanh
nghiệp lựa chọn.
Hơn nữa ,khi ngân hàng đứng ra bảo lãnh thì giúp doanh nghiệp giảm một
khoản tài chính đáng kể mà đáng lẽ doanh nghiệp phải nộp cho khách hàng để đảm
bảo.
Mặt khác trong nền kinh tế hiện nay khi hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp phát triển cả chiều rộng và chiều sâu với nhiều thương vụ làm ăn có giá trị
lớn thì việc ngân hàng dùng uy tín và khả năng tài chính đứng ra làm trung gian cho
những thương vụ kinh doanh của doanh nghiệp là hết sức cần thiết.Như vậy,có thể
nói nhu cầu bảo lãnh của khách hàng hiện nay là rất lớn trong tất cả các lĩnh vực
của nền kinh tế. Đây là nhân tố ảnh hưởng khá mạnh đến khả năng hoạt động bảo
lãnh của ngân hàng.
Khoa Tài Chính - Tín Dụng - Trang 11- Phan Thị Thanh Hương
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Minh Tùng
PHẦN II: PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH BẢO LÃNH
TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN
NÔNG THÔN QUẬN HẢI CHÂU(NHNO&PTNT)
A Khái quát về NHNo&PTNT quận Hải Châu:
Nam.Lúc này trên địa bàn tỉnh có 14 chi nhánh thành phố,huyện,thị trực thuộc
NHNo tỉnh QNĐN với chức năng ,nhiệm vụ khác nhau.
Chi nhánh NHNo thành phố Đà Nẵng (và sau này gọi là chi nhánh
NHNo&PTNT quận Hải Châu).Với nhiệm vụ kinh doanh trên địa bàn thành phố Đà
Nẵngvà các địa bàn lân cận,lĩnh vực hoạt động chủ yếu là nông nghiệp
Sở giao dịch III-NHNo tại Đà Nẵng với nhiệm vụ kiểm tra việc chấp hành chủ
trương chính sách của ngân hàng nhà nước và NHNo Việt Nam trên phạm vi 11
tỉnh miền trung,tổ chức điều hoà vốn trong khu vực.
+Ngày19/10/1992 NHNo Việt Nam quyết định sáp nhập chi nhánh NHNo
tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng vào sở giao dịch III-NHNo Việt Nam thành sở giao dịch
III NHNo Việt Nam tại thành phố Đà Nẵng theo quyết định số 267/QĐ-HĐQT.
Khoa Tài Chính - Tín Dụng - Trang 12- Phan Thị Thanh Hương
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Minh Tùng
+Ngày 15/11/1996 được thủ tướng chính phủ uỷ quyền,thống đốc Ngân
Hàng Nhà Nước Việt Nam ký quyết định số 280/QĐ NHNN đổi tên NHNo VIệt
Nam thành NHNo&PTN Việt Nam.Do đó sở giao dịch III-NHNoViệt Nam tại Đà
Nẵng đổi tên thành sở giao dịch III-NHNo&PTNT Việt Nam tại Đà Nẵng.
+Thực hiện chủ trương địa giới hành chính của tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng
thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam của chính phủ.Ngày 16/12/1996 ngân hàng
nông nghiệp và phát triển nông thôn tại Việt Nam tại thành phố Đà Nẵng được đổi
tên thành chi nhánh NHNo&PTNT quận Hải Châu trực thuộc sở giao dịch III.
+Ngày 26/3/1999 Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam
tách một chi nhánh ngân hàng nông nghiệp &phát triển nông thôn quận Hải Châu
khỏi sở giao dịch III và nâng cấp thành chi nhánh ngân hàng nông nghiệp&phát
triển nông thôn thành phố Đà Nẵng theo quyết định số 208/QĐ/HĐQT-02
+Ngày 26/10/2001 Sở giao dịch III-ngân hàng nông nghiệp&phát triển nông
thôn thành phố Đà Nẵng theo quyết định số 424/QĐ/HĐQT-TCCB của chủ tịch hội
đồng quản trị ngân hàng nông nghiệp& phát triển nông thôn Việt Nam.Và chi
nhánh ngân hàng nông nghiệp &phát triển nông thôn thành phố Đà Nẵng tiếp tục
hoạt động cho đến nay.Cơ cấu và mạng lưới của các chi nhánh trực thuộc bao gồm:
nhận cất giữ,chiết khấu các loại giấy tờ có giá,nhận uỷ thác cho vay và các dịch vụ
khác được ngân hàng nhà nước và NHNo cho phép.
4.Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý:
Chi nhánh ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn quận Hải Châu là đơn
vị hạch toán phụ thuộc của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt
Nam,có đội ngũ cán bộ công nhân viên gồm 50 người.Ban giám đốc gồm 3
người,có 03 phòng và 01 phòng giao dịch:Kế toán ngân quỹ,Kế hoạch kinh
doanh,Tổ chức hành chính và phòng giao dịch Hoà Cường Khuê Trung.
Sơ đồ cơ cấu tổ chức chi nhánh NHNo&PTNt Quận Hải Châu.
Giám Đốc
Phó giám đốc Phó giám đốc
Kế hoạch Kế toán Tổ chức Kiểm soát
kinh doanh ngân quỹ hành chính viên
Phòng giao dịch Hoà
Cường,Khuê Trung
Quan hệ trực tuyến
Quan hệ chức năng
Chức năng,nhiệm vụ của ban giám đốc và các phòng ban:
+Chức năng của ban giám đốc:
-Giám đốc phụ trách chung và phụ trách công tác kế hoạch kinh doanh, kiểm
tra kiểm toán nội bộ và tổ chức cán bộ.
-Phó giám đốc phụ trách kế toán kho quỹ và thanh toán quốc tế.
-Phó giám đốc phụ trách công tác tín dụng.
+Nhiêm vụ của các phòng ban:
-Phòng kế hoạch kinh doanh:Lập kế hoạch cân đối nguồn vốn,theo dõi thực
hiện các phương án kinh doanh,thanh toán quốc tế và kinh doanh ngoại hối,cho vay
các thành phần kinh tế.Thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh,thanh toán quốc tế, mua bán
ngoại tệ,tài trợ xuất nhập khẩu, cho vay ngắn,trung,dài hạn đối với các doanh
nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu.
-Kiểm tra viên:giám sát ,kiểm tra, kiểm soát toàn bộ các hoạt động nghiệp vụ
ngày càng tăng cho XDCB cũng như chi thường xuyên.Năm 2004, đời sống nhân
dân thành phố Đà Nẵng đã có những chuyển biến rõ rệt cùng với sự phát triển,
chỉnh trang thành phố,mở rộng sản xuất kinh doanh, thu hút sức đầu tư và lao
động,thành phố tiếp tục giải quyết việclàm,xoá nhà tạm,thực hiện tốt chủ trương
xoá đói giảm nghèo cho nhân dân nên góp phần nâng cao điều kiện sống thu nhập
và phát triển ,giảm bớt nghèo và phân hoá giàu nghèo trong toàn xã hội.Cụ thể như
sau:
Về công nghiệp:Giá trị sản xuất công nghiệp thành phố tháng 12 ước đạt
534,54 tỷ đồng,tăng 23,45% so với cùng kỳ năm ngoái.So với tháng 12 năm
ngoái,tháng 12 năm nay kinh tế trung ương ước đạt tăng 37,65%,kinh tế địa phương
tăng 4%(kinh tế quốc doanh giảm 8,58%và ngoài quốc doanh tăng 15,94%)kinh tế
có vốn đầu tư nước ngoài tăng 20,47%
Năm nay,ngoài việc đầu tư tăng thêm công suất,nâng cao chất lượng sản
phẩm thì còn nhiều nhà máy mới được đưa vào sản xuất ,sản xuất ra các sản phẩm
như:dệt thân áo Len,sản xuất phụ tùng xe máy,sứ vệ sinh, dây cáp điện.
Nhìn chung ngành sản xuất công nghiệp trên thành phố Đà Nẵng năm nay
tăng khá, phần lớn các ngành chủ lực,các thành phần kinh tế đều tăng.Sự phát triển
mạnh của ngành công nghiệp là một trong những điều kiện thuận lợi tạo cơ hội cho
sự phát triển trong lĩnh vực công nghiệp.
Năm 2004 vốn đầu tư trên địabàn ước thực hiện3267,46 tỷ đồng tăng 14,65%
so với năm 2003,trong đó vốn đầu tư xây dựng và sửa chữa lớn là 2701 tỷ đồng
Khoa Tài Chính - Tín Dụng - Trang 15- Phan Thị Thanh Hương
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Minh Tùng
tăng 13,38%.Chính điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các loại hình
bảo lãnh với lĩnh vực xây dựng cơ bản.
Ngoài ra sự phát triển mạnh của ngành công nghiệp dịch vụ,hoạt động xuất
nhập khẩu. Đã tác động mạnh đến hoạt động bảo lãnh thanh toán, đó là những cơ
hội để các ngân hàng phát triển mạnh hoạt động bảo lãnh.
Năm 2004 là năm đầy những khó khăn thử thách đối với nền kinh tế Việt
Nam nói chung và kinh tế thành phố Đà Nẵng nói riêng.Tình hình giá cả hàng tiêu
STT Chỉ tiêu Thực hiện Tăng ,giảm so với
2003
31/12/2003 31/12/2004 số tiền %
1 Tổng nguồn vốn 393,268 485,516 92,348 19
2 Cơ cấu nguồn vốn theo đồng
tiền
393,268 485,516 92,348 19
- Nguồn vốn nội tệ 214,058 254,831 40,773 16
- Nguồn vốn ngoại tệ quy đổi
VND
179,210 230,685 51,475 22.31
Khoa Tài Chính - Tín Dụng - Trang 16- Phan Thị Thanh Hương
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Minh Tùng
3 Cơ cấu nguồn vốn theo kì hạn 393,268 485,516 92,248 19
- Nguồn vốn không kì hạn 50,559 86,132 35,573 41.3
- Nguồn vốn có kì hạn < 12
tháng
194,748 155,798 38,950 -25
- Nguồn vốn có kì hạn từ 12
tháng trở lên
147,961 243,586 95,625 39.26
4 Phân loại theo nguồn vốn 393,268 485,516 92,248 19
- Tiền gửi dân cư 155,430 172,700 17,270 10
- Trong đó :ngoại tệ quy VND 11,242 13,512 27,270 16.8
- Tiền gửi TCKT , TCXH 33,251 77,507 44,256 57.1
- Trong đó : ngoại tệ quy đổi
VND
770 1,362 592 43.5
- Tiền gửi khác ( TCTD ) 204,587 235,309 30,722 13.06
Như trên đã trình bày, là một chi nhánh được đánh giá là có qui mô hoạt
ĐVT:triệu đồng
Chỉ tiêu Năm 2003 Năm 2004 Chênh lệch
Số tiền % Số tiền % Số tiền %
1.Doanh số cho vay 946114 100 1171200 100 225086 24
2.Doanh số thu nợ 768476 100 999893 100 231417 30,11
3.Dư nợ bình quân 442800 100 539323 100 96523 22
4.Nợ quá hạn 6137 100 17873 100 11736 191,23
5.Tỉ lệ NQH/DNBQ 1,4 3,31 1,91
Trong năm qua nhu cầu vay vốn tại chi nhánh khá cao,tuy nhiên với chủ
trương tập trung giải quyết nợ quá hạn,nâng cao chất lượng tín dụng nên kết quả là
doanh số cho vay,doanh số thu nợ,dư nợ bình quân đều tăng lên so với năm trước
nhưng tốc độ tăng không quá cao,cụ thể:
Doanh số cho vay đạt 1171200 triệu đồng tăng lên 245086 triệu đồng so với
năm 2003 tốc độ tăng là 24% sở dĩ mức tăng khiêm tốn như vậy là vì chi nhánh bỏ
qua một số nhu cầu vay vốn của khách hàng để tập trung làm rõ chất lượng tín
dụng.Và vì vậy tốc độ tăng của doanh số thu nợ cao hơn so với tốc độ tăng của
doanh số cho vay và dư nợ bình quân;doanh số thu nợ trong năm đạt 999893 triệu
đồng tăng so với năm 2003 là 317103 triệu đồng tương ứng với độ tăng trưởng là
30,11%.Tuy nhiên tốc độ tăng trưởng như vậy chưa phải là cao,nguyên nhân là do
nợ quá hạn và nợ khó đòi của thành phần khách hàng còn chiếm tỷ trọng cao,nhất là
thành phần kinh tế quốc doanh.
Cùng với sự gia tăng của doanh số cho vay,dư nợ bình quân.năm 2004 đạt
539323 triệu đồng tăng 96523 triệu đồng so với năm 2003,tốc độ tăng trưởng là
22%.
Không phải là do nhu cầu vay không lớn mà do chủ trương tập trung rà soát
chất lượng tín dụng của chi nhánh, đẩy mạnh thu hồi nợ đã quá hạn,nợ đã trích xử
lý rủi ro để cải thiện tình hình tài chính.Bên cạnh quy mô nguồn vốn huy động còn
hạn chế nên cũng tác động không nhỏ đến công tác cấp tín dụng.
Về tình hình thu nợ, năm 2003 thu nợ kém hiệu quả ,mứac dư nợ quá hạn
chiếm bình quân trong năm là 1,4% trên tổng dư nợ bình quân.Vì vậy mà năm 2004
39692 tăng 10% tương ứng vơí mức tăng 12013 triệu đồng ,thu dịch vụ tăng 19%,
thu khác bị giảm đi ,tốc độ giảm tương đối cao là :-18,56%,phải có biện pháp khắc
phục điều này,với mức tăng như vậy đã làm cho thu nhập của chi nhánh trong năm
qua là rất cao.
Bên cạnh mức thu nhập cao thì chi phí bỏ ra cho năm 2004 cũng tăng với mức
tăng rất cao là 111%, do có chi phí trích dự phòng rủi ro quá lớn.
Từ cả hai nhân tố trên đã làm cho tổng lợi nhuận của chi nhánh giảm đi rất mạnh
do lợi nhuận năm 2004 bị âm.
Nhìn chung kết quả đạt được trên là chưa tốt vì hoạt động kinh doanh chứa đựng
rủi ro lớn,chi nhánh cần thực hiện tốt hơn để kinh doanh có hiệu quả.
B.Phân tích hoạt động bảo lãnh tại chi nhánh NHNo&PTNT quận Hải
Châu
I.Quy trình nghiệp vụ bảo lãnh áp dụng tại chi nhánh:
Cũng như mọi nghiệp vụ khác,nghiệp vụ bảo lãnh tại chi nhánh cũng tuân theo
một quy trình nhất định.Quy trình được áp dụng tại chi nhánh thể hiện qua sơ đồ
sau:
(2)
Khách hàng
(1)
(4) (5)
Chi nhánh NHNo&PTNT Các phòng ban
NHNo&PTNT Viêt Nam chức năng
(6)
Bên nhận
bảo lãnh (3)
Khoa Tài Chính - Tín Dụng - Trang 19- Phan Thị Thanh Hương
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Minh Tùng
(1): Khách hàng gửi đơn và hồ sơ đề nghị ngân hàng bảo lãnh.
(2): Ngân hàng xem xét thẩm định đề nghị của khách hàng.Nếu đủ điều kiện ngân
hàng tiến hành ký kết bảo lãnh với khách hàng.
NHNNVN.
*Hợp đồng vay vốn(bản gốc là phù hợp với thông lệ,tập quán thương mại
quốc tế và pháp lệnh hợp đồng kinh tế).
Hồ sơ khác:
+Văn bản đề nghị bảo lãnh(mẫu số 01/BL)
+Hồ sơ bảo đảm cho bảo lãnh.
2.Ngân hàng xem xét thẩm định đề nghị của khách hàng:
-Tính đầy đủ,hợp lệ của hồ sơ bảo lãnh.
-Năng lực pháp lý của khách hàng xin bảo lãnh.
-Việc chuyển tiền ký quỹ vào tài khoản để thực hiện bảo lãnh.
-Tình hình tài chính và năng lực kinh doanh của khách hàng.
-Tính khả thi và khả năng trả nợ của dự án.
Khoa Tài Chính - Tín Dụng - Trang 20- Phan Thị Thanh Hương
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Minh Tùng
-Đánh giá khả năng rủi ro tiềm ẩn:Thẩm định về tài sản và các biện pháp
đảm bảo tài sản cho nghĩa vụ được bảo lãnh.
3.Ngân hàng phát hành bảo lãnh cho bên nhận bảo lãnh:
Cán bộ thẩm định lập tờ trình về hoạt động thẩm định trình trưởng phòng tín
dụng kiểm soát và trình lãnh đạo duyệt.Tờ trình sau đó sẽ được gửi lên ban giám
đốc để duyệt bảo lãnh.Sau khi có quyết định phê duyệt chấp nhận bảo lãnh của lãnh
đạo chi nhánh.Cán bộ thực hiện bảo lãnh yêu cầu khách hàng thực hiện các biện
pháp bảo đảm đã ký kết cho nghĩa vụ được bảo lãnh như thế chấp,cầm cố,ký quỹ.
Sau đó cán bộ tín dụng tiến hành soạn thảo hợp đồng bảo lãnh theo mẫu,trưởng
phòng thực hiện bảo lãnh kiểm tra để trình lãnh đạo ký phát hành bảo lãnh và gởi
cho khách hàng.Thư bảo lãnh đượclàm theo quy định sẵn của ngân hàng.
4.Trường hợp bảo lãnh thuộc thẩm quyền xử lý của TGĐ:
Ban(phòng) chức năng, nhận và tái thẩm định hồ sơ bảo lãnh trước khi hội
đồng tín dụng tại trung tâm điều hành(đối với bảo lãnh cho vay nướcc ngoài có thời
hạn trên 12 tháng và số tiền bảo lãnh thuộc quyền phán quyết của giám đốc chi
nhánh NHNo thì không phải trình hội đồng tín dụng tại trung tâm điều hành) hoặc
Khoa Tài Chính - Tín Dụng - Trang 21- Phan Thị Thanh Hương
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Minh Tùng
qua,chi nhánh NHNo&PTNT quận Hải Châu thực hiện thường xuyên 3 loại bảo
lãnh sau đây:
-Bảo lãnh dự thầu.
-Bảo lãnh thực hiện hợp đồng
-Bảo lãnh thanh toán
Ngoài ra chi nhánh thực hiện:Bảo lãnh vay vốn,bảo lãnh bảo hành công
trình,bảo lãnh chất lượng sản phẩm,nhưng nó không thường xuyên và chiếm tỷ
trọng thấp,biến động không đều.
Giá trị bảo lãnh trong 3 năm qua được thể hiện qua bảng số liệu sau:
Bảng 4:Tình hình chung về hoạt động bảo lãnh tại chi nhánh
ĐVT:Triệu đồng
Loại bảo
lãnh
Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004 Chênh lệch
Số
tiền
% Số tiền % Số tiền % 03/02 04/03
% %
1.Bảo lãnh
dự thầu
3404 40,82 1471 13,06 11347 27,41 -56,78 671,32
2.Bảo lãnh
theo hợp
đồng
3446 41,35 367,5 53,26 17991 43,44 74,02 199,92
3.Bảo lãnh
thanh toán
127,26 1,53 367,5 3,26 8340 20,14 188,78 2196,38
để mọi hoạt động được trôi chảy. Chính vì vậy chi nhánh NHNo&PTNT quận Hải
Châu đã tiến hành các nghiệp vụ bảo lãnh cho lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản và
các dự án xây lắp nhằm đảm bảo cho đối tác của khách hàng là cam kết thực hiện
đúng hợp đồng cơ sở.Mặt khác,sự mở ra của hoạt động thương mại dịch vụ đã nảy
sinh thêm những thương vụ làm ăn mới đầy tính rủi ro và số vốn lớn đặt ra nhu cầu
bảo lãnh ngày càng tăng cao.Tuy vậy lĩnh vực xây dựng cơ bản vẫn là hoạt động
bảo lãnh chính của ngân hàng.
Cụ thể trong tổng giá trị bảo lãnh của ngân hàng thì bảo lãnh dự thầu và bảo lãnh
thực hiện hợp đồng là chiếm tỷ trọng lớn nhất sau đó mới đến các loại bảo lãnh
khác .Tuy nhiên xét trong từng loại bảo lãnh thì bảo lãnh thực hiện hợp đồng có
doanh số lớn nhất với năm 2002 chỉ có 3446 triệu đồng nhưng đến năm 2003 đã đạt
5998,65 triệu đồng sang năm 2004 đạt 17991 triệu đồng.Với tốc độ tăng năm 2003
là 74,02% và năm 2004 là 199,92%.Bên cạnh đó thì bảo lãnh dự thầu cũng chiếm
doanh số không nhỏ chiếm 40,82% năm 2002, năm 2003 do bị giảm nên chỉ chiếm
13,06% năm 2004 chiếm 27,65% doanh số chiếm như vậy là lớn. Hoạt động bảo
lãnh dự thầu thường có giá trị từng món nhỏ,do vậy nên trong tổng doanh số nó
chiếm tỷ trọng nhỏ hơn so với bảo lãnh thực hiện hợp đồng.Với với giá trị đạt được
qua các năm có tốc độ tăng năm 2004 là 671,32% tốc độ đột biến .Sự gia tăng của
hoạt động bảo lãnh tại chi nhánh còn có dự tham gia không nhỏ của bảo lãnh thanh
toán,ban đầu chỉ với 1,53% nhưng với tốc độ tăng hết sức mạnh của năm 2003 là
188,78% đã đẩy tỷ trọng lên cao hơn một chút ,song với sự gia tăng không ngừng
năm 2004 bảo lãnh thanh toán tại chi nhánh đã đạt tỷ trọng là 20,14% với tốc độ
tăng đột biến là 2196,38% chứng tỏ hoạt động bảo lãnh thanh toán tại chi nhánh
đang ngày càng phát triển. Đây thể hiện nổ lực rất lớn của chi nhánh trong công tác
bảo lãnh đã đẩy doanh số lên cao.
Tuy nhiên, hoạt động bảo lãnh tại ngân hàng còn là rất nhỏ cơ cấu bảo lãnh còn
rất hạn chế.Ví dụ: năm 2004 hoạt động bảo lãnh vay vốn hoàn toàn không phát
sinh,chi nhánh cần phải xem xét vấn đề này.Nhưng đó cũng là một thực trạng của
hoạt động bảo lãnh tại chi nhánh, vốn dĩ NHNo&PTNT là lĩnh vực mà hoạt động
bảo lãnh kém phát triển nhất, trong khi ngân hàng này chỉ là một trong những chi
dài hạn mặc dù tính về số tuyệt đối thì bảo lãnh ngắn hạn vẫn chiếm ưu thế hơn so
với bảo lãnh trung dài hạn. Bảo lãnh trung dài hạn tại chi nhánh chủ yếu là bảo lãnh
thực hiện hợp đồng, còn lại các loại bảo lãnh khác chiếm tỷ trọng rất nhỏ.
c. Phân tích tình hình bảo lãnh theo thành phần kinh tế:
Tại chi nhánh tình hình thực hiện bảo lãnh theo thành phần kinh tế được thể
hiện như sau:
Bảng 7: Doanh số bảo lãnh theo thành phần kinh tế
ĐVT: triệu đồng
Tp kinh tế
Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004
Số
ti
ề
n
% Số tiền % Số tiền %
1. DNNN 5166 62 5645,85 49,53 724 2
2.Tp kinh tế
khác
3167 38 5752,95 50,47 4069 98
Tổng 8333 100 11262,5 100 41413 100
Tại chi nhánh hoạt động bảo lãnh không tập trung vào một đối tượng cụ thể
nào cả mà sự biến động của nó theo thời gian. Năm 2002, chi nhánh chủ yếu tiến
hành bảo lãnh cho thành phần kinh tế quốc doanh với doanh số 5166 triệu đồng
chiếm tỷ lệ 62% trên tổng doanh số phát hành bảo lãnh. Năm 2003 doanh số phát
hành bảo lãnh đối với thành phần kinh tế này là 5645,85 triệu đồng. Xét về mặt số
tuyệt đối thì doanh số bảo lãnh tăng qua các năm song tỷ trọng trên tổng doanh số
phát hành thì bị giảm đi chỉ còn chiếm 49,53%. Trong khi đó thì thành phần kinh tế
ngoài quốc doanh ngày càng tăng trưởng và phát triển với năm 2002 chỉ chiếm có
38% thì đến năm 2003 đã vực lên cỡ 50,47%. Từ đó ta thấy được phần nào chính
sách của chi nhánh về sự phát triển đối với thành phần kinh tế ngoài quốc doanh.
mẽ của hoạt động dự thầu. Mục đích của loại bảo lãnh này là đảm bảo người dự
thầu không rút lui, không ký hợp đồng hay thay đổi ý định khi đã trúng thầu. Trong
ba năm qua, kết quả bảo lãnh dự thầu như sau:
Bảng 8: Tình hình chung về bảo lãnh dự thầu
ĐVT: triệu đồng
Chỉ tiêu
ĐVT
Năm
2002
Năm
2003
Năm
2004
Chênh lệch
03/02 04/03
Số
tiền
% Số tiền %
Giá trị bảo lãnh
Số món
Giá trị bảo lãnh
bình quân/món
Tr.đ
Món
Trđ/món
3404
38
89,58
1471
20