tiếp cận tài chính hành vi để giải thích những bất thường trên thị trường chứng khoán việt nam - Pdf 10

1

MỤC LỤC

Lời mở đầu 5
Chương 1: Khảo sát lý thuyết về tài chính hành vi 6
1. Thị trường hiệu quả 6
1.1.1 Khái niệm thị trường hiệu quả 6
1.1.2 Các giả thiết của thị trường hiệu quả 7
1.1.3 Các đặc điểm của thị trường hiệu quả 7
1.1.4 Ba hình thức của thị trường hiệu quả 8
1.1.5 Hạn chế của thị trường hiệu quả 9
1.2 Tài chính hành vi 11
1.2.1 Tài chính hành vi là gì 11
1.2.2 Những nền tảng cơ bản của tài chính hành vi 12
1.2.2.1Giới hạn của nghiệp vụ kinh doanh chênh lệch giá
trên thị trường tài chính 12
1.2.2.2Hành vi không hợp lý của nhà đầu tư 16
1.2.2.3Lý thuyết triển vọng và sự lựa chọn của nhà đầu tư 24
1.2.3 Tâm lý bầy đàn 27
Chương 2: Phân tích thực tiễn thị trường chứng khoán Việt Nam 30
2.1 Tổng quan thị trường 30
2.2 Kiểm định thị trường hiệu quả 31
2.3 Phân tích thị trường Việt Nam từ góc nhìn của tài chính hành vi 34
2.3.1 Sai lệch về niềm tin của nhà đầu tư 34
2.3.2 Kiểm định hành vi bầy đàn 39
2.3.3 Kết quả khảo sát 43
Chương 3: Giải pháp giúp thị trường định giá hiệu quả 63
3 DANH MỤC BẢNG

1. Bảng 1: Một số thông tin cơ bản về thị trường 28
2. Bảng 2: Kết quả kiểm định thị trường hiệu quả 31
3. Bảng 3: Thống kê tổng quan 40
4. Bảng 4: Các hệ số thống kê của mức độ phân tán theo ngày 41
5. Bảng 5: So sánh giữa câu 6 và câu 10 58

8. Hình 8 : Lý do khiến việc đầu tư ít thành công 51
9. Hình 9 : Khả năng dự báo sự phát triển của thị trường 53
10. Hình 10: Phản ứng như thế nào đối với thông tin từ công ty 55
11. Hình 11: Mức tin tưởng vào hồi phục của thị trường 56
12. Hình 12: So sánh giữa câu 7 và câu 11 60
5

LỜI MỞ ĐẦU

Thị trường chứng khoán được cho là phong vũ biểu của nền kinh tế nhưng có
vẻ như điều này không đúng với thị trường chứng khoán Việt Nam. Đã có
những lúc chỉ số Vn-Index tăng cao ngất ngưởng và sụt giảm không phanh bất
chấp nền kinh tế.
Khi một nhà đầu tư tham gia vào thị trường chứng khoán, anh ta sẽ sử dụng các
kỹ thuật thông dụng như phân tích cơ bản và phân tích kỹ thuật để hỗ trợ cho

năng đưa các nguồn lực khan hiếm đến người sử dụng sao cho trên cơ sở nguồn
lực có được, người ta sẽ tạo ra kết quả đầu ra lớn nhất, tức là họ sử dụng được
một cách tối ưu. Điều này có nghĩa là chỉ những người trả giá cao nhất cho các
nguồn tài nguyên đó mới giành được quyền sử dụng chúng, buộc những người
này phải sử dụng các nguồn lực huy động được một cách tốt nhất.
Thị trường được coi là hiệu quả về mặt tổ chức hoạt động khi thị trường đó có
chi phí giao dịch quyền sử dụng các nguồn lực trên thị trường được quyết định
bởi quan hệ cung cầu. Nói cách khác, thị trường được coi là hiệu quả về mặt
hoạt động khi nó có khả năng tối thiểu hóa chi phí giao dịch và đưa chi phí này
tiến dần về 0, thông qua cơ chế cạnh tranh giữa các đối tượng tham gia kiến tạo
và vận hành thị trường.
Thị trường được coi là hiệu quả về mặt thông tin khi giá cả của loại hàng hóa
giao dịch trên thị trường được phản ánh đầy đủ và tức thời bởi các thông tin có
liên quan. Cụ thể hơn, ở một thị trường hiệu quả trên phương diện thông, nhà
đầu tư sẽ ít có cơ hội vượt trội hơn so với những người khác vì mọi người đều
có khả năng tiếp cận thông tin như nhau. Theo thuyết này thì các chứng khoán
sẽ được mua/bán, trao đổi ngang giá trên các sàn giao dịch chứng khoán, do đó
sẽ không còn tình trạng mua ép hoặc thổi phồng mức giá cổ phiếu.
7

Vậy thị trường hiệu quả là thị trường có khả năng phân phối nguồn lực đến
người sử dụng tốt nhất với giá cả phản ánh đầy đủ thông tin có liên quan và chi
phí giao dịch được tối thiểu hóa.
1.1.2 Các giả thiết của thị trường hiệu quả
Thị trường hiệu quả đòi hỏi một số lượng lớn các đối thủ cạnh tranh tham gia
vào thị trường. Với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận, họ tiến hành phân tích và
định giá các loại chứng khoán một cách hoàn toàn độc lập với nhau.

trường hiệu quả thì các chứng khoán sẽ được mua/bán, trao đổi ngang giá trên
các sàn giao dịch chứng khoán, do đó sẽ không có cơ hội một cách hệ thống để
một số người mua ép giá cổ phiếu hoặc thổi phồng mức giá khi bán (hiện tượng
làm giá) hoặc có cơ hội để kiếm lời chênh lệch thông qua nghiệp vụ arbitrage.
Người chơi luôn được tin tưởng rằng thị trường đối xử công bằng với tất cả
mọi người.
Giá cả chứng khoán tăng hay giảm do một nguyên nhân duy nhất là giá chứng
khoán phản ứng trước những thông tin mới xuất hiện trên thị trường. Do những
thông tin này xuất hiện một cách ngẫu nhiên, không thể dự đoán trước được
nên giá cả chứng khoán thay đổi một cách ngẫu nhiên và không thể dự đoán
trước được trong thị trường hiệu quả. Tuy nhiên, cần phân biệt tính ngẫu nhiên
của giá với sự bất hợp lí về mức giá. Nếu giá cả được hình thành một cách hợp
lí thì chỉ những thông tin mới mới làm cho giá đó thay đổi.
1.1.4 Ba hình thức của thị trường hiệu quả
1.1.4.1 Thị trường hiệu quả dạng yếu (weak - form)
Ở mức độ này, giá cả phản ánh thông tin đã chứa đựng trong hồ sơ quá khứ.
Nó giả định rằng, mức giá thị trường hiện tại này đã phản ánh tất cả các thu
nhập trong quá khứ và mọi thông tin trên thị trường nên giả thuyết này có nghĩa
là tỷ suất sinh lợi cũng như các thông tin khác trong quá khứ không có mối liên
hệ với tương lai. Nói cách khác, không thể dự báo được giá chứng khoán trong
tương lai hay tạo ra được các tỷ suất sinh lợi liên tục vượt lên trên thị trường
bằng những cách nghiên cứu tỷ suất sinh lợi quá khứ.
1.1.4.2 Thị trường hiệu quả dạng vừa phải (semi- strong)
Mức độ này đòi hỏi giá cả phản ánh không chỉ giá cả quá khứ mà còn phản ánh
9

tất cả các thông tin đã công bố khác như tỷ suất sinh lợi quý vừa qua, phát hành


10

Theo giả thuyết thị trường hiệu quả, không một nhà đầu tư đơn lẻ nào có thể
giành được lợi nhuận cao hơn một người khác với cùng số tiền đầu tư và cùng
một lượng thông tin, đồng nghĩa với việc họ chỉ có thể thu về những khoản lời
như nhau. Nói cách khác, nếu một nhà đầu tư có lợi nhuận, điều đó cũng có
nghĩa là toàn bộ giới đầu tư đều có lợi. Nhưng hãy xem xét lại một chuỗi những
khoản lợi nhuận rất khác biệt mà các nhà đầu tư và các quỹ đầu tư đã dành
được. Nếu không một nhà đầu tư nào có lợi thế hơn so với người khác, thì tại
sao lại có chuyện cùng là các quỹ tương hỗ, nhưng bản thống kê cho thấy có
quỹ thì thua lỗ trầm trọng còn có quỹ lại đạt lợi nhuận vượt trội?
Theo lý thuyết thị trường hiệu quả, không một nhà đầu tư nào có thể đánh bại
được thị trường hay vượt qua được mức lợi nhuận trung bình năm mà tất cả các
nhà đầu tư và các quỹ đầu tư đạt được với sự nỗ lực hết mình. Thế nhưng trên
thực tế, luôn có hàng loạt những ví dụ về các nhà đầu tư đã đánh bại thị trường.
Theo lý thuyết thị trường hiệu quả thì thị trường phải đạt được hiệu quả về mặt
thông tin, tức là những thông tin được công bố trên thị trường một cách ngẫu
nhiên và việc quyết định thời điểm công bố thông tin cũng độc lập lẫn nhau.
Thực tế lại không như thế. Các thông tin được công bố thường bị kiểm soát
chặt chẽ và hiện tượng bất cân xứng thông tin thì không hề hiếm.
Theo lý thuyết thị trường hiệu quả, sự hiệu quả thật sự của thị trường đã và sẽ
luôn luôn tính đến những yếu tố đó ngay lập tức. Nói cách khác, giá cả phản
ứng gần như tức thời với việc công bố một thông tin có thể làm ảnh hưởng đến
các rủi ro và tỷ suất sinh lợi của một cổ phiếu. Thế nên, ngay cả Eugene Fama
(một nhà nghiên cứu thuộc trường phái thị trường hiệu quả) cũng không cho
rằng thị trường sẽ luôn luôn đạt hiệu quả 100%. Bởi vì cần phải có thời gian
nhất định để giá cả phản ứng lại với một thông tin mới được tiết lộ cho các nhà
đầu tư. Tuy nhiên, ông lại không đưa ra một định nghĩa cụ thể về việc giá cả
cần bao nhiêu thời gian để có thể vận động đến mức hợp lý. Vì thế có thể phải

những trường hợp khác, những người này áp dụng luật Bayes (tính xác suất xảy
ra của một sự kiện ngẫu nhiên A khi biết được sự kiện liên quan B đã xảy ra)
một cách đúng đắn nhưng dường như họ đã có những lựa chọn theo những tiêu
chuẩn đáng nghi ngờ.
Một trong những thành công lớn nhất của tài chính hành vi là tập hợp những
luận điểm mang tính học thuật chỉ ra rằng trong một nền kinh tế, nơi mà những
nhà đầu tư duy lý và nhà đầu tư cảm tính ảnh hưởng qua lại lẫn nhau, sự bất
hợp lý có thể có ảnh hưởng quan trọng và lâu dài đến giá cả.
12

1.2.2 Những nền tảng cơ bản của tài chính hành vi
Các mô hình được đề xuất bởi lý thuyết tài chính hành vi sẽ có thể đúng nếu
trên thị trường tồn tại một trong ba điều kiện cơ bản sau. Nếu cả ba đều tồn tại,
lý thuyết tài chính hành vi dự báo rằng việc định giá sai không những là tồn tại,
mà còn là rất đáng kể (lớn hoặc đến mức nghiêm trọng) và kéo dài. Ba điều
kiện đó bao gồm:
- Giới hạn khả năng kinh doanh chênh lệch giá trên thị trường tài chính
- Tồn tại hành vi không hợp lý
- Hành vi bất hợp lý mang tính hệ thống hay còn gọi là tâm lý bầy đàn (herd
behavior)
1.2.2.1 Giới hạn của nghiệp vụ kinh doanh chênh lệch giá trên thị trường
tài chính
Lý thuyết thị trường hiệu quả tin rằng nếu tồn tại định giá sai thì sẽ tồn tại cơ
hội để kinh doanh chênh lệch giá thu lợi nhuận và điều chỉnh giá trên thị trường
về cân bằng. Nhưng nếu tồn tại định giá sai, mà lại không thể thực hiện kinh
doanh chênh lệch giá để tận dụng các khoản lợi nhuận này thì như thế nào? Và
tại sao lại không thể thực hiện kinh doanh chênh lệch giá khi có định giá sai?

Rủi ro cơ bản (fundamental risk)
Nếu mua cổ phiếu của Ford ở mức 15$ thì nguy cơ hiển nhiên nhất mà người
kinh doanh chênh lệch giá phải đối mặt đó là những tin xấu về giá trị cơ bản
của Ford làm cho giá cổ phiếu rớt sâu hơn, dẫn đến thua lỗ. Tất nhiên, các nhà
kinh doanh chênh lệch giá biết rõ về rủi ro này, đây là lý do tại sao họ mua cổ
phiếu Ford đồng thời bán khống một cổ phiếu thay thế như là General Motors.
Vấn đề là chứng khoán thay thế là hiếm khi hoàn hảo, và thường rất không
hoàn hảo, vì vậy không thể loại bỏ tất cả rủi ro cơ bản. Bán khống General
Motors góp phần bảo vệ nhà kinh doanh chênh lệch giá từ những thông tin bất
lợi về ngành công nghiệp xe hơi nói chung, nhưng họ vẫn chịu tác động bởi
những tin cụ thể liên quan đến Ford như những khiếm khuyết về lốp xe chẳng
hạn.
Rủi ro nhà đầu tư ít thông tin (Noise Trader Risk)
Rủi ro nhà đầu tư ít thông tin là dạng rủi ro thị trường liên quan đến quyết định
đầu tư của những nhà đầu tư theo xu hướng. Giá thị trường của một cổ phiếu
nào đó càng không ổn định thì rủi ro nhà đầu tư ít thông tin càng cao. Ví dụ
như nếu một cổ phiếu có rủi ro nhà đầu tư ít thông tin cao thì một thông tin tốt
14

có thể tác động nhiều hơn đến các nhà đầu tư đầu tư theo xu hướng trong việc
ra quyết định mua cổ phiếu của và thổi phồng quá mức giá thị trường của cổ
phiếu.
Các nhà kinh tế cũng bắt đầu nghiên cứu những hạn chế của tiềm lực nhà đầu
tư như một rào cản khiến cho lý thuyết thị trường hiệu quả khó phát huy tác
dụng. Ví dụ, những người ủng hộ lý thuyết này luôn cho rằng các nhà đầu tư
khôn ngoan lúc nào cũng có thể mua bán “trên tay” các nhà đầu tư thiếu thông
tin, gây nhiễu thị trường để đẩy giá về mức phản ánh chính xác giá trị cổ phiếu.

được các nhà kinh doanh chênh lệch giá khai thác trở nên tồi tệ hơn trong ngắn
hạn, dẫn đến lợi nhuận âm, những người đầu tư có thể nhận định rằng những
nhà quản lý này là bất tài và quyết định rút vốn của họ ra. Nếu điều này xảy ra
nhà kinh doanh chênh lệch giá sẽ đối mặt với việc phải thanh lý vị thế sớm để
trả tiền lại cho khách hàng và chấp nhận chịu lỗ. Nỗi sợ hãi về việc thanh lý
sớm vị thế sẽ làm cho họ dè dặt hơn trong việc việc tận dụng sự định giá nhầm
ngay từ đầu, điều này sẽ làm cho “tính hiệu quả” trong việc kinh doanh thông
qua điều chỉnh chênh lệch giá của họ giảm đi rất nhiều. Việc này sẽ làm cho
các khách hàng của họ - những người cung cấp tín dụng tức giận. Sau một thời
gian lợi nhuận nghèo nàn, họ sẽ nhận thấy những khoản tín dụng mà mình cung
cấp đang mất dần, họ sẽ đòi thu hồi lại tất cả những khoản nợ và một lần nữa
dẫn đến việc thanh toán vị thế sớm. Trong kịch bản trên có thể thấy nguyên
nhân thúc đẩy vấn đề thanh lý sớm chính là việc giá có thể tiếp tục giảm thấp
hơn nữa dù rằng nó đã đang bị định giá thấp. Trên thực tế nguyên nhân này
không phải là tất cả. Chẳng hạn như, trong nỗ lực loại bỏ rủi ro cơ bản, các nhà
kinh doanh chệnh lệch giá sẽ bán khống cổ phiếu. Nên khi người sở hữu ban
đầu của những cổ phiếu được mượn muốn lấy lại, các nhà kinh doanh chênh
lệch giá có thể lại bị buộc phải đóng vị thế của anh ấy nếu không thể tìm cổ
phần khác để mượn. Chính rủi ro này cũng phần nào làm chùn bước nhà kinh
doanh chênh lệch giá ngày từ đầu.
Chi phí thực hiện (Implementation costs)
Chi phí thực hiện bao gồm các chi phí giao dịch như là hoa hồng, chệnh lệch
giữa giá mua - giá bán và ảnh hưởng của giá có thể làm giảm hấp dẫn trong
việc khai thác từ những tài sản bị định giá sai. Bởi vì việc bán khống thường
cần thiết đối với quy trình kinh doanh chênh lệch giá, nên những chi phí có liên
quan tới bán khống cũng được xếp vào chi phí thực hiện.
16

nguyên nhân khiến con người tiên đoán quá mức khả năng hiểu biết của mình,
17

đánh giá thấp những rủi ro, tin vào khả năng của mình có thể kiểm soát mọi
thứ, khiến họ giao dịch quá mức và tạo nên những bong bóng trên thị trường.
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng các nhà đầu tư thường quá tự tin vào khả năng
của mình. Và có hai xu hướng mà các nhà đầu tư thường gặp phải. Một là
prediction overconfidence và hai là certainty overconfidence.
Prediction overconfidence: Các nhà đầu tư nằm trong loại này thường đưa vào
kế hoạch đầu tư của mình các khoảng tin cậy (confidence intervals) quá nhỏ. Ví
dụ như khi đánh giá giá trị tương lai của một loại cổ phiếu, nhà đầu tư đã quá
tự tin đưa ra một khoảng cách quá nhỏ cho lợi nhuận kỳ vọng, dự đoán rằng lợi
nhuận sẽ khoảng 10% giữa lời và lỗ trong khi thực tế đã chứng minh rằng
khoảng chêch lệch này lớn hơn rất nhiều. Hay nói cách khác, các nhà đầu tư đã
đánh giá thấp những rủi ro trong danh mục đầu tư của mình.
Certainty overconfidence: Nhắc đến loại này là nhắc đến các nhà đầu tư quá tự
tin vào đánh giá của mình. Ví dụ như khi đã chắc chắn rằng đầu tư của mình
vào một công ty nào đó là một đầu tư tốt thì các nhà đầu tư thường không chú ý
đến những rủi ro gây lỗ và rồi sẽ cảm thấy rất ngạc nhiên hoặc thất vọng nếu
đầu tư này không tốt như mong đợi. Điều này cũng có thể làm các nhà đầu tư
mắc thêm các sai lầm trong việc tìm kiếm và nhận dạng ra được các cổ phiếu
tiềm năng kế tiếp. Do đó, các nhà đầu tư thường đầu tư quá nhiều vào tài khoản
cũng như không đa dạng hóa danh mục đầu tư của mình.
Bên cạnh đó, trong một nghiên cứu của Brad M.Barber and Terrance Odean
(2000) đã đưa ra một phát hiện khác thú vị. Trong vòng 6 năm, họ đã tiến hành
điều tra 35000 hộ gia đình và rút ra một các luận về sự khác nhau trong thói
quen đầu tư giữa hai giới: Đàn ông thường tự tin nhiều hơn và cũng đầu tư

nó, sáng tạo thì chứa đựng nhiều yếu tố dẫn đến sai lầm, bảo thủ thì ẩn chứa
tính chất rủi ro là một mô hình có thể thành công trong quá khứ nhưng có thể
không còn đúng trong hiện tại.
Sự đơn giản trong quyết định đầu tư
Đây là hành vi mà các nhà đầu tư có khuynh hướng sử dụng những qui tắc đơn
giản trong các quyết định đầu tư của mình. Sự đơn giản trong quyết định đầu tư
xuất phát từ khuynh hướng của trí óc để tạo ra những đường tắt tưởng tượng và
tránh mất thời gian trong tiến trình phân tích đầu tư. Các qui tắc và kinh
nghiệm học được thường giúp chúng ta ra quyết định nhanh chóng và dễ dàng
hơn trong những tình huống đầu tư. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, dựa
19

dẫm quá nhiều vào những nguyên tắc đôi khi dẫn đến sai lầm, đặc biệt là khi
các điều kiện bên ngoài thay đổi.
Tự lừa dối: xuất hiện khi nhà đầu tư nghĩ rằng họ tốt hơn là họ thực sự như thế.
Cả tâm lý học và tài chính gần đây mô tả mọi người với dạng hành vi này là sự
quá tự tin. Nhà đầu tư tự tin quá mức tin rằng họ có thể đạt được thu nhập cao,
do đó họ thường xuyên giao dịch và đánh giá thấp rủi ro liên quan. Những
chứng cứ thực nghiệm tìm thấy rằng cổ phiếu mà những nhà đầu tư cá nhân
bán thì hoạt động tốt hơn những cổ phiếu mà họ mua.
Tính toán bất hợp lý: có thể giải thích cho hiệu ứng phân bổ tài khoản. Nhà đầu
tư theo dõi lợi nhuận và thua lỗ trên những tài khoản ảo của họ trong sự tách
biệt nhau. Họ xem xét đơn giản từng tài khoản tưởng tượng đó mà không có sự
kết hợp những tài khoản này lại. Nếu xem xét một cách hợp lý hơn thì họ có
thể cắt lỗ để đầu tư vào cổ phiếu khác có lợi hơn.
Gắn quyết định đầu tư với những cái đơn giản cho việc ra quyết định đầu tư
(anchoring): chẳng hạn, nhà đầu tư chỉ dựa vào duy nhất một chỉ số P/E để làm

còn 45.000 thì họ sẽ không thực hiện lệnh bán để dừng lỗ ngay (thậm chí họ
còn mua thêm) và chờ đến khi giá lên trên 50.000 mới bắt đầu bán ra để kiếm
lời. Giá có giảm tiếp đi chăng nữa thì người ta cũng vẫn nắm giữ cổ phiếu đó.
Bởi vì họ đã tách rời giữa “tài khoản lời” và “tài khoản lỗ” trong tâm trí họ, họ
cố tối đa tài khoản lời và tối thiểu hoá tài khoản lỗ, do đó khi giá lên thì bán để
kiếm lời, giá xuống thì giữ để chờ giá lên, để cho tài khoản này khỏi bị lỗ.
Lý giải cho vấn đề này, có lẽ do các nhà đầu tư đã quá ác cảm đối với việc thua
lỗ hơn là coi trọng những giá trị đạt được. Theo nghiên cứu của Hirshleifer
(2001) thì mọi người có xu hướng muốn những quyết định tốt của mình được
thừa nhận ngay, nhưng họ chậm thừa nhận những quyết định tồi của mình. Có
thể các nhà đầu tư bán những cổ phiếu đang lời của họ để họ cảm thấy tốt hơn
về bản thân mình, hoặc họ có thể khoe khoang với những người khác về khả
năng lựa chọn cổ phiếu tốt của họ. Trong khi đó, những nhà đầu tư có thể nắm
giữ những cổ phiếu hoạt động kém bởi vì họ không sẵn lòng thừa nhận rằng họ
mắc lỗi, và bởi vì họ e ngại rằng những cổ phiếu đó sẽ hồi phục (tránh hối tiếc).
Các nhà nghiên cứu cũng tìm thấy những chứng cứ thực nghiệm hỗ trợ cho
hiệu ứng này. Đó là nghiên cứu của Odean (1998), tìm thấy rằng những nhà
đầu tư cá nhân sẵn lòng công nhận thu nhập trên lý thuyết hơn là thua lỗ trên lý
thuyết, họ miễn cưỡng thừa nhận những thua lỗ của họ. Vậy hiệu ứng phân bổ
tài khoản có thể tránh hay làm giảm được hay không?
21

Hầu hết những tài liệu về hành vi tài chính đều cho thấy rằng, hầu hết những
nhà đầu tư đều có xu hướng mắc phải dạng hành vi này. Tuy nhiên, họ cũng
tìm ra một vài chứng cứ thực nghiệm về những đặc tính của nhà đầu tư có thể
làm giảm xu hướng hành vi này. Shapira và Venezia (2001) kiểm tra những tài
khoản môi giới ở Israel và họ tìm thấy rằng, trung bình những nhà đầu tư cá

nhiều nghiên cứu đã chỉ ra 2 quy luật phổ biến: thị trường có vẻ phản ứng chậm
đối với những thông tin liên quan đến thu nhập và phản ứng thái quá đối với
các thông tin hay những sự kiện bất ngờ. Phản ứng thái quá tồn tại trong các thị
trường chứng khoán là do các nhà đầu tư có xu hướng đánh giá quá cao những
thông tin gần đây dẫn tới thay đổi kỳ vọng của họ về doanh nghiệp mà họ
không hề để ý tới tình hình doanh nghiệp đó trước đây. Tức là các nhà đầu tư
thường định giá quá cao triển vọng công ty khi có những thông tin tốt và định
giá quá thấp khi có những thông tin xấu được công bố. Sau đó, khi có sự thay
đổi lớn các nhà đầu tư sẽ tiến hành định giá lại những công ty này và giá cổ
phiếu sẽ đảo chiều, tức là cổ phiếu trước đây được coi là tốt nhất rớt giá và cổ
phiếu được coi là xấu nhất trước đây tăng. Ví dụ, một công ty vừa công bố một
dự án khả thi và theo đánh giá đúng thì cổ phiếu của công ty này chỉ tăng
khoảng 5.000 đ/cổ phiếu xuất phát từ thu nhập kỳ vọng của dự án này đem lại
cho công ty, tuy nhiên các nhà đầu tư lại hành động một cách quá mức, làm giá
cổ phiếu này tăng đến 10.000 hay 20.000. Phản ứng thái quá được chia thành
hai giai đoạn: giai đoạn thuận xu thế ngắn hạn và đảo ngược xu thế dài hạn.
Giai đoạn thuận xu thế ngắn hạn: thể hiện kỳ vọng rất cao của thị trường, đẩy
giá cổ phiếu lên rất cao so với giá trị thực sự của nó. Sự đi lên của thị trường
rất ngoạn mục. Đặc biệt trong giai đoạn này, bất cứ một phân tích hay cảnh báo
nào cũng không đảo ngược xu thế này trong ngắn hạn.
Giai đoạn đảo ngược xu thế dài hạn: là giai đoạn thị trường bắt đầu đi xuống
sau một giai đoạn tăng mạnh trong ngắn hạn, tốc độ đi xuống của thi trường
còn cao hơn tốc độ tăng trong giai đoạn thuận xu thế ngắn hạn.
Xu hướng điển hình
Dạng hành vi này là một dạng của sự đơn giản trong quyết định đầu tư. Đây là
một dạng hành vi mà các nhà đầu tư không quan tâm nhiều đến các nhân tố dài
hạn, họ đặt nhiều quan tâm đến những tình huống điển hình trong ngắn hạn.
Tức là khi đối mặt với một tình huống đầu tư, họ có xu hướng xem xét tình
huống này có tương tự như những tình huống điển hình trong quá khứ (ngắn


tư, làm cho họ nhầm lẫn giữa một công ty tốt với một đầu tư tốt. Những công
ty mà có thu nhập lớn, có sự tăng trưởng doanh số cao và quản trị có chất lượng
thì đại diện cho những công ty tốt, còn những đầu tư tốt là những cổ phiếu tăng
giá hơn những cổ phiếu khác. Các nhà đầu tư thường cho rằng những công ty
24

tốt phải là điển hình cho những đầu tư tốt, bởi vì nó sản sinh ra lợi nhuận cao,
tăng trưởng doanh số cao… Do đó họ thường mua những công ty này mà
không biết rằng có thể những lợi nhuận cao, tăng trưởng doanh số cao đã phản
ánh trong giá của cổ phiếu đó rồi.
1.2.2.3 Lý thuyết triển vọng và sự lựa chọn của nhà đầu tư
Kinh tế học cổ điển và tân cổ điển đều cho rằng con người “lý trí” trong các
hành vi liên quan đến kinh tế. Nghĩa là khi phải chọn, họ luôn chọn phương án
nào tối đa hóa lợi ích.
Lợi ích theo ngôn ngữ kinh tế được tính là phép nhân giữa điều mong muốn (có
thể là tiền) và xác suất điều đó xảy ra. Nhưng nghiên cứu đã chỉ ra rằng thực tế
các thông tin không được xử lý một cách hợp lý như vậy. Năm 1979,
Kahneman và Tversky giới thiệu ý tưởng về thuyết triển vọng. Thuyết này cho
rằng mọi người định giá các khoản lãi/ lỗ khác nhau và như vậy, các quyết định
dựa vào đựơc nhìn nhận lãi chớ không nhìn nhận lỗ. Vì vậy, nếu một người
được trao cho hai lựa chọn như nhau, một diễn đạt dưới dạng lãi và một diễn
đạt theo khoản lỗ, mọi người sẽ chọn lựa chọn đầu tiên - thậm chí khi họ đạt
được kết quả mục đích kinh tế tương tự.
Theo lý thuyết triển vọng, lỗ có nhiều ảnh hưởng đến cảm xúc của nhà đầu tư
hơn mức lãi tương đương. Ví dụ, theo các lý thuyết truyền thống, độ hiệu dụng
mà nhà đầu tư “lý trí” đạt được từ việc nhận 50$ tương đương với việc đạt
được 100$ rồi mất 50$. Ở cả hai tình huống, kết quả cuối cùng là nhận được lợi

không phải tất cả mọi người sẽ có hàm giá trị giống như trên; đây là xu hướng
tổng quát. Lỗ tạo ra cảm giác đau đớn lớn hơn so với niềm vui tạo bởi việc đạt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status