Ứng dụng tài chính hành vi giải thích một số hiện tượng bất thường trên thị trường chứng khoán Việt Nam - Pdf 29

NHÓM 5 – LỚP KẾ TOÁN
LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH HÀNH VI

1
MỤC LỤC

MỤC LỤC 1
DANH SÁCH NHÓM 2
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN 3
Phần A. LỜI MỞ ĐẦU: 4
Phần B. LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH HÀNH VI 4
I. Tài chính hành vi là gì 4
1.1. Định nghĩa tài chính hành vi 4
1.2. Tại sao lại xuất hiện tài chính hành vi : 7
II. Nhưng nguyên lý cơ bản của tài chính hành vi 10
2.1 Hành vi không hợp lý 10
2.2 Hành vi mang tính hệ thống 12
2.3 Giới hạn khả năng kinh doanh chênh lệch giá trên thì trường tài
chính 13
III. Ứng dụng dụng tài chính hành vi giải thích một số hiện tượng bất
thường trên thị trường chứng khoán Việt Nam 14
3.1 Đầu tư theo nhà đầu tư nước ngoài, nhà đầu tư tổ chức. 14
3.2 Giữ cổ phiếu thua lỗ quá lâu 16
3.3 Dự đoán VN-Index dựa theo thị trường thế giới 17
3.4 Mua bán dựa trên thông tin rỉ tai 17
3.5 Đầu tư không phân biệt cổ phiếu tốt, xấu 18

NHÓM 5 – LỚP KẾ TOÁN
LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH HÀNH VI

2

7
102
Đào Thanh Truyền

8
17
Lê Vũ Đại Dương

9
16
Phạm Quốc Dũng

10
6
Dương Quốc Biên

11
75
Nguyễn Thị Mỹ Phụng

12
76
Nguyễn Thị Hà Phương

NHÓM 5 – LỚP KẾ TOÁN
LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH HÀNH VI

3
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
…………………………………………………………………………

hình thực nghiệm của nguyên tắc tối đa hữu dụng kỳ vọng của nhà đâu tư hợp lý
trong thị trường hiệu quả đã thúc đẩy sự phát triển của các nghiên cứu tài chính
hành vi. Mặc dù gặp phải sự phản đối ban đầu từ những người theo quan điểm
truyền thống, tài chính hành vi ngày càng trở thành một phần của tải chính
chuẩn tác.
Trong đề tài này chúng ta sẽ tìm hiểu một số vấn đề về tài chính hành vi
và ứng dụng tài chính hành vi giải thích một số hiện tượng trên thị trường chứng
khoán Việt Nam.

Phần B. LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH HÀNH VI
I. Tài chính hành vi là gì
1.1. Định nghĩa tài chính hành vi
1.1.1 Lịch sử ra đời tài chính hành vi

Trong vài thập niên gần đây, một khái niệm tài chính mới được nhắc đến
nhiều và rất gần gũi với các nhà kinh tế. Đó là Lý thuyết về tài chính hành vi
(Behavioral finance theory). Ngày nay, việc ứng dụng và nghiên cứu lý thuyết
tài chính hành vi trở thành khá phổ biến và còn giúp nhiều nhà đầu tư cải thiện
đáng kể chiến lược đầu tư của mình.
Tài chính hành vi là một phần của tài chính, nghiên cứu để hiểu và giải
thích những biểu hiện mang tính tâm lý của con người trên thị trường tài chính,
sử dụng những kiến thức thuộc phạm trù tâm lý học, xã hội học và tài chính học
để lý giải những hành vi bất thường của nhà đầu tư mà chưa được lý giải trong
nền tảng của lý thuyết truyền thống.
Nghiên cứu tài chính hành vi là nghiên cứu ảnh hưởng tâm lý của nhà đầu
tư và những hệ quả theo sau lên thị trường tài chính. Tài chính hành vi đóng vai
trò rất quan trọng trong việc giải thích tại sao và làm thế nào thị trường có thể
không hiệu quả.
Để hiểu sâu hơn về Lý thuyết tài chính hành vi. Chúng ta cần tìm hiểu sơ
nét về lịch sử hình thành của lý thuyết này.

công thứ c hay có thể là kế t quả củ a mộ t phé p tí nh nà o đó .
Sang nhữ ng năm 1980, lý thuyết tài chính hành vi được thảo luận rải rác
trong mộ t số nghiên cứ u củ a cá c học giả kinh tế nổi tiếng như : Nhà kinh tế học
ngườ i Mỹ – Richard H. Thaler, Werner F.M De Bondt, Tversky và Kahneman ,
Knetch, Banerjee, Tversky, Shleifer, Gilovish, Griffin …

1.1.2 Tài chính hành vi là gì
Lý thuyết tài chính hành vi là một phạm trù của tài chính, nó nghiên cứu bổ
sung cho nhữ ng lý thuyế t tà i chí nh truyề n thố ng bằ ng việ c giớ i thiệ u hà nh vi tá c
độ ng đế n tiế n trì n h ra quyế t định . Tài chính hành vi liên quan đến cá nhân và
cách thức thu nhận , sử dụ ng thông tin . Nghiên cứ u lý thuyế t tà i chính hà nh vi
NHÓM 5 – LỚP KẾ TOÁN
LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH HÀNH VI

6
giúp hiểu và dự báo những dính liếu giữa quá trình ra quyết định mang tính tâm
lý với hệ thố ng tà i chí nh.
Có thể diễn giải tài chính hành vi (Behaviour Finance) thông qua cá c yế u tố
chi phố i đế n nó như sau:

 Tâm lý họ c: là ngành khoa học nghiên cứu hoạt động, tinh thầ n và tư
tưở ng củ a con ngườ i (cụ thể đó là những cảm xúc , ý chí và hành động). Tâm lý
học cũng chú tâm đến sự ảnh hưởng của hoạt động thể chất , trạng thái tâm lý và
các yếu tố bên ngoài lên hành vi và tinh thần của con người.

cấ p, từ đó dẫ n đế n sự đầ u tư không đú ng đắ n.
Hành vi bất hợp lý mang tính hệ thống: là hiện tượng các nhà đầu tư đi theo
hoặ c bị tá c độ ng bở i hà nh độ ng củ a số đông có thể là hợ p lý hoặ c bấ t hợ p lý . Tin
tưở ng rằ ng nế u có rấ t nhiề u ngườ i cù ng thự c hiệ n mộ t việ c gì đó thì việ c đó chắ c
chắ n đú ng.
Giớ i hạ n khả năng kinh doanh chênh lệ ch giá trên thị trườ ng tà i chí nh : Lý
thuyế t thị trườ ng hiệ u quả tin rằ ng nế u tồ n tạ i đị nh giá sai thì sẽ tồ n tạ i cơ hộ i để
kinh doanh chênh lệ ch giá thu lợ i nhu ận, hành vi kinh doanh chênh lệch giá sẽ
điề u chỉ nh giá trên thị trườ ng về cân bằ ng.
Ba điề u kiệ n nà y đã là m cho lý thuyế t tà i chí nh hà nh vi vớ i nề n tả ng cơ bả n
là “thị trường không luôn luôn đúng” , đã đặ t ra mộ t đố i trọ n g lớ n đố i vớ i lý
thuyế t “thị trườ ng hiệ u quả ” , cơ sở củ a cá c lý thuyế t tà i chính cơ bả n trong suố t
4,5 thậ p kỷ gầ n đây.

1.2. Tại sao lại xuất hiện tài chính hành vi :
Lý thuyết thị trường hiệu quả dựa vào nguyên tắc mọi hành xử lý trí đều
có chung mục đích tối đa hóa lợi ích một cách chính xác và giá trị hợp lý của
các tài sản tài chính đã phản ánh các thông tin. Thị trường hiệu quả luôn tồn tại
một cơ chế điều chỉnh thị trường về trạng thái cân bằng, đó là cơ chế kinh doanh
chênh lệch giá.
Nguyên tắc của cơ chế kinh doanh chênh lệch giá là khi tồn tại hiện tượng
định
giá sai trên thị trường, hay giá của các tài sản tài chính trên thị trường không
phản ánh một cách chính xác giá trị hợp lý thì sẽ tồn tại cơ hội kinh doanh chênh
lệch giá. Khi đó “những nhà đầu tư hợp lý” sẽ tận dụng những cơ hội này để
mua tài sản bị định giá thấp,bán tài sản bị định giá quá cao. Hành động này sẽ
góp phần điều chỉnh thị trường về trạng thái cân bằng hợp lý.Tuy vậy, cơ chế
điều chỉnh này lại không phải lúc nào cũng xảy ra và vì vậy lý thuyết tài chính
truyền thống không thể giải quyết hiệu quả về sự sai lệch này trong thực tế. Do
đó chúng ta phải nghiên cứu lý thuyết tài chính hành vi. Tài chính học hành vi là

Một vài nhà đầu tư có thể có các hành vi bất thường (còn được gọi là nhà
đầu tư bất thường –irrationalinvestors hay “nhà giao dịch gây nhiễu” – noise
traders), tuy nhiên nếu những hoạt độngđầu tư này chỉ mang tính ngẫu nhiên, tự
phát (the random fashion) và không tương quan với nhau (uncorrelated). Thì
liền sau đó giao dịch của họ sẽ bị loại trừ bởi các nhà đầu tư khôn ngoan
(rationalinvestors) và kết quả hoạt động của họ không ảnh hưởng đến giá. Tính
logic đằng sau giả định này là hoạt động giao dịch của nhà đầu tư có tương quan
kém với những người khác .Nếu hành vi của con người là ngẫu nhiên sẽ không
có lo ngại về tính hiệu quả của thị trường, bởi v ì giao dịch của họ có thể bị loại
trừ. Sẽ không gây ra một ảnh hưởng đáng kể nào đến giá. Tuy nhiên,chúng ta sẽ
thấy trong các phần hai c ủa bài, các nhà tâm lý học bằng thực nghiệm đã chỉ ra
rằng cácnhà đầu tư bất thường với phán đoán sai thường có xu hướng chung –
nghĩa là người ta thường đi chệch khi sự kỳ vọng của mình theo cùng một
phương thức tương tự nhau. Hay hành vi bất thường của họ có tính tương quan
nhau th ì đây là vấn đế đáng để bàn! Nó có thể đẩy giá xa hơn nữa so với giá trị
cơ bản. Tuy nhiên, trong thị trường hiệu quả vẫn tồn tại trụ cột 3 có thể “hóa
giải” hoặc ngặn chặn điều này và đưa giá trở về giá trị cơ bản, giá trị thực ban
đầu. Đó là nghiệp vụ kinh doanh chênh lệch giá. 1.2.3 Trụ cột 3: Kinh doanh chênh lệch giá không bị giới hạn

Nếu các nhà đầu tư bất thường có hành vi phi lý, các hoạt động này lại có
tương quan cao với nhau.Thì theo lý thuyết thị trường hiệu quả, các nhà đầu tư
NHÓM 5 – LỚP KẾ TOÁN
LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH HÀNH VI

9
khôn goan nhìn thấy được việc định giá sai này, họ sẽ dùng nghiệp vụ kinh
doanh chênh lệch giá (arbitrage 10 ), với giả thiết không bị giới hạn kinh doanh

102.8543 ¥
Nếu tỷ giá ¥/$ bây giờ là 100. Nghĩa là 1$ đổi được 100¥. Lúc này bạn sẽ làm
gì, để tận dụng sai lệch này?
- Đầu tiên bạn vay hay làm gì đó để có đôla ($), giả dụ là 1USD. Và bạn dùng
1USD này đi mua EUR với tỷ giá 0.6455 €/$ , sau đó dùng EUR mua JPY với tỷ
giá 159.3403 ¥/€, tỷ giá thực của bạn l à 102.8543 ¥/$
- Do đó với 1USD đổi thông qua EUR để mua JPY, bạn có được 102.8543
¥, trong khi bạn chỉ cần tốn 100¥ để đổi lại 1USD ban đầu, nghĩa là bạn lời
2.8543¥.

CẶP
TỶ
GIÁ
TỶ GIÁ
DIỄN GIẢI

¥/€
159.3403
1 € đổi được 159.3403 ¥ €/$
0.6455
1 $ đổi được 0.6455 €

¥/$
x
1 $
đổi được x
¥

phẩm nổi tiếng của Robert Shiller “Sự mơ hồ bất hợp lý” (Irrational
Exuberance)(2000) dự báo chính xác sự sụp đổ của thị trường tài chính không
lâu sau đó.

Từ đó hàng loạt các nghiên cứu về hành vi con người trong thị trường tài
chính được công bố và cụm từ “tài chính hành vi” (behaviour finance) được nhắc
đến thường xuyên hơn. Với 03 luận điểm chính của mình, lý thuyết tài chính
hành vi đã chỉ ra những giới hạn nhất định của 03 trụ cột trong lýthuyết thị
trường hiệu quả và chỉ ra rằng không phải lúc nào thị trường cũng hiệu quả.

II. Nhưng nguyên lý cơ bản của tài chính hành vi
2.1 Hành vi không hợp lý

Sự cả tin ( overconfidence)
Sự cả tin ở đây được chúng ta nhắc đến như một khái niệm về sự tự tin
quá mức, “con người thường nghĩ họ tốt hơn là chính họ”. Điều này dễ ăn sâu
NHÓM 5 – LỚP KẾ TOÁN
LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH HÀNH VI

11
vào lối suy nghĩ của con người và sự cả tin đôi khi có thể dẫn đến những sai lầm
nghiêm trọng, làm cho con người mù quáng và không lý trí. Họ thường phóng
đại tài năng của mình, coi những gì mà họ đang phân tích đầu tư có tiềm năng to
lớn, dẫn đến việc định giá sai trong tỷ suất sinh lợi. Lúc này họ luôn tìm những
chứng cứ
Để bảo vệ cho những lập luận của mình và chỉ tập trung vào mặt tốt mà
quên đi mặt xấu. Sự kết hợp giữa sự cả tin và lạc quan quá mức là nguyên nhân
khiến con người tiên đoán quá mức khả năng hiểu biết của mình, đánh giá thấp
những rủi ro, tin vào khả năng của mình có thể kiểm soát mọi thứ, khiến họ
giao dịch quá mức và tạo nên bong bóng thị trường.

12
nhuận ròng một năm đối với đàn ông trong khi con số này chỉ 1.72% đối với phụ
nữ.
Mối quan hệ giữa sự cả tin và thông tin sự kiện:
Vấn đề của sự cả tin cũng được góp phần bởi những thông tin sự kiện.
điền này có thể bắt gặp theo một vấn đề thông thường đó là những người có mức
độ cả tin cao thông thường không ngừng sử dụng số liệu sẵn có mà có nhiều
người khác đã dùng. Họ thu thập thông tin từ nhiều nguồn thông tin khác nhau,
nhưng đôi khi có thêm thông tin sẽ dẫn đến tình huống xấu hơn, vấn đề này xuất
hiện khi người tiếp nhận không hiểu thấu đáo về những thông tin đó. Cũng có
trường hợp một người đang có lập luận và có rất nhiều thông tin chắc chắn ủng
hộ cho lập luận của mình. Trường hợp này sẽ không được gọi là sự cả tin. Sự cả
tin xuất hiện khi người đó không hề hiểu thấu đáo thông tin sự kiện đó nhưng lại
ngộ nhân thông tin đó là chắc chắn và có thể mắc sai lầm.
Mối quan hệ giữa sự cả tin và kinh nghiệm của nhà đầu tư:
Điều này còn được giải thích theo yếu tố độ tuổi hay kinh nghiệm của nhà
đầu tư. Những người tuổi đời còn non trẻ thường có những tư duy táo bạo và
thường áp dụng những phương pháp được coi là sáng tạo trong quá trình phân
tích đầu tư của mình, nhưng theo thời gian thì bảo thủ của tuổi đời ngày càng
nâng lên và việc áp dụng những dữ liệu thông tin mang tính chất đột biến dường
như bị lãng quên. Cả hai vấn đề trên đều chứa đựng những sai lầm của nó, sáng
tạo thì chứa đựng nhiều những yếu tố dẫn đến sai lầm, bảo thủ thì ẩn chức tính
chất rủi ro là một mô hình có thể thành công trong quá khứ nhưn gcò thể không
còn đúng trong hiện tại.

2.2 Hành vi mang tính hệ thống
Nếu chỉ một nhà đầu tư đơn lẻ có hành vi không hợp lý, thì ảnh hưởng lên
giá CP trên thị trường là không đáng kể (cho dù là một tổ chức đầu tư lớn thì
ảnh hưởng cũng rất hạn chế nếu chỉ đơn độc một mình). Chỉ khi hành vi không
hợp lý là mang tính hệ thống (nghĩa là một nhóm nhiều nhà đầu tư cùng có một

làm cho việc định giá sai trở nên trầm trọng hơn, đó là rủi ro cơ bản
(fund amental risk), chi phí thực hiện (implementation costs) và rủi ro từ những
nhà giao dịch nhiễu hay rủi ro nhà đầu tư bất hợp lý (noise trader risk).
2.3.1. Rủi ro cơ bản (fundemental risk):
Theo nghiên cứu của Andrei Shleifer and Lawrence H.Summers (1990),
có 02 loại rủi ro làm cản trở hoạt động kinh doanh chênh lệch giá là Rủi ro cơ
bản (fundamental risk) và Rủi ro về giá khi bán lại trong tương lai (the source risk
comes from unpredictability of futureresale price). Hai loại rủi ro này là tâm lý
của những nhà kinh doanh chênh lệch giá “thua ngay trên chính quyết định của
mình”.
2.3.2. Chi phí thực hiện (implementation costs):
Các nhà đầu tư nh không phải ai cũng có kiến thức và thông tin để thực
hiện hoạt động kinh doanh chênh lệch giá, cũng như xác định được thời điểm
kinh doanh chênh lệch giá nên họ thường gửi tiền của mình cho một tổ chức
hoặc các cá nhân chuyên nghiệp để đầu tư dùm . Điều này làm nảy sinh vấn đề về
mối quan hệ đại diện (agencyrelationship), phát sinh một chi phí là chi phí giao
dịch.
2.3.3. Rủi ro từ những nhà đầu tư bất hợp lý (noise trader risk):
NHÓM 5 – LỚP KẾ TOÁN
LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH HÀNH VI

14
Rủi ro từ những nhà đầu tư bất hợp lý là một rủi ro mà việc định giá sai
được phát hiện bởi các nhà kinh doanh chênh lệch giá bị làm xấu đi trong ngắn
hạn.
Giả sử thị trường chỉ có 02 nhóm người tham gia là:
- Nhóm thứ nhất là những người kinh doanh chênh lệch giá (abitrageurs),
với sự hiểu biết tốt và hành động khôn ngoan.
- Nhóm thứ hai là những người hành động không theo quy luật nào, tạm
gọi là nhà đầu tư bất thường (irrational investors hay noise traders).

trong sự hình thành phán xét chủ quan có khuynh hướng phân loại các sự kiện
NHÓM 5 – LỚP KẾ TOÁN
LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH HÀNH VI

15
như là điển hình hoặc tiêu biểu. Nó được xác định như là khuôn mẫu đáng tin
cậy. Người ta đánh giá xác suất của những sự kiện trong tương lai dựa trên mức
độ tương tự với một tình huống điển hình nào đó. Kinh nghiệm này có thể đưa
người ta đến việc xét đoán sự thay đổi của thị trường chứng khoán theo một tình
huống điển hình nào đó mà không đánh giá khả năng để chuỗi các thay đổi giá
có tín hiệu giống nhau xảy ra là rất hiếm. Thiên lệch do tình huống điển hình
liên kết chặt với quy luật số nh (law of small numbers) khiến con người hiểu
sai về quy luật số lớn, họ áp dụng quy luật số lớn cho một mẫu có số lượng nh.
Đối với thị trường non trẻ ở nước ta, dựa trên sự hơn hẳn về kinh nghiệm,
kiến thức về đầu tư chứng khoán và vốn của nhà đầu tư nước ngoài, nhà đầu tư
tổ chức đã tạo cho nhà đầu tư cá nhân một tình huống điển hình là nhà đầu tư
nước ngoài, nhà đầu tư tổ chức có khả năng đánh giá đúng về sự phát triển của
thị trường và việc họ quyết định mua bán phải dựa trên một lý do đáng tin cậy
nào đó. Chính niềm tin này đã thúc đẩy các nhà đầu tư trong nước thực hiện các
hành vi đầu tư theo nhà đầu tư nước ngoài, nhà đầu tư tổ chức. Hành vi bầy đàn
hay tâm lý đám đông Tâm lý đám đông có thể giải thích bởi nhiều nguyên nhân
khác nhau, trong đó có thể sử dụng các thiên lệch hành vi để giải thích.
Trước tiên, đó có thể là do thiên lệch do mâu thuẫn về nhận thức
(Cognitive Dissonance Bias). Sự mâu thuẫn về nhận thức là sự xung đột về nhận
thức mà con người trải qua khi họ đưa ra bằng chứng để công nhận rằng niềm
tin hoặc giả định của họ trước đây là sai. Thiên lệch do mâu thuẫn về nhận thức
có thể được phân loại như một dạng của nỗi đau về sự hối tiếc, sự hối tiếc về
những gì mình đã từng tin tưởng lại là sai. Lý thuyết Festinger (1957) đánh giá
rằng con người có khuynh hướng hành động để giảm sự mâu thuẫn về nhận thức
một cách không lý trí như tránh các thông tin mới hoặc khuyếch trương các lý lẽ

Hành vi này có thể được giải thích bởi thiên lệch do mâu thuẫn về nhận
thức (Cognitive Dissonance Bias).
Như đã giải thích ở trên, thiên lệch do mâu thuẫn về nhận thức có thể khiến cho
nhà đầu tư nắm giữ chứng khoán trong tình trạng thua lỗ thay vì bán đi, bởi vì
họ muốn tránh nỗi đau tinh thần khi thừa nhận những gì họ đã kỳ vọng, đã dành
công sức, tâm huyết cho nó lại là một quyết định đầu tư sai chỗ.
Ngoài ra, thiên lệch do ác cảm với thua lỗ cũng khiến nhà đầu tư nắm giữ
cổ phiếu thua lỗ quá lâu vì họ hy vọng rằng giá cổ phiếu sẽ tăng trở lại và họ sẽ
được hòa vốn. Sự không hài lòng mà người ta cảm nhận từ việc thua lỗ là lớn
hơn sự hài lòng khi kiếm được lợi nhuận. Sự bất cân xứng trong đánh giá này
được gọi là thiên lệch do ác cảm với mất mát, thua lỗ. Một cuộc kiểm tra thực
nghiệm chỉ ra rằng sự thua lỗ mất mát có trọng số gấp 2 lần lợi ích tăng thêm, có
nghĩa là mất 1 đồng buồn phiền gấp 2 lần niềm vui khi nhận được 1 đồng
(Kahneman và Tversky, 1991).
Thiên lệch do ác cảm với mất mát, thua lỗ nói đến thực tế rằng con người
có khuynh hướng nhạy cảm đối với việc giảm sự giàu có hơn là gia tăng sự giàu
có. Điều này có thể diễn tả như hiện tượng người ta có xu hướng mạo hiểm đầu
tư vào sự thua lỗ. Ví dụ nhà đầu tư có xu hướng giữ nguyên vị thế thua lỗ trong
sự hy vọng rằng giá cổ phiếu sẽ hồi phục dần.
Thiên lệch do ác cảm với hối tiếc có thể góp phần giải thích hành vi nắm
giữ cổ phiếu thua lỗ quá lâu của nhà đầu tư. Bởi vì họ không thích thừa nhận là
họ đã sai lầm, họ không thích phải hối tiếc.
Bên cạnh đó, cũng có thể giải thích hành vi trên bởi Thiên lệch nguyên
trạng, khi trong tình trạng thua lỗ thay vì hiện thực hóa lỗ và tái cơ cấu lại danh
mục thì nhà đầu tư không hành động gì cả, vẫn nắm giữ những cổ phiếu đang
thua lỗ. Vì họ cho rằng không hành động gì cả cũng là một quyết định đầu tư.
NHÓM 5 – LỚP KẾ TOÁN
LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH HÀNH VI

17

mức độ ảnh hưởng ở phạm vi rộng đối với quyết định của nhà đầu tư. Hành vi
này có thể giải thích bởi thiên lệch do ác cảm với mơ hồ (Ambiguity Aversion
Bias).
Knight (1921) trong luận án tiến sĩ với tiêu đề “Risk, Uncertainty, Profit” định
nghĩa rủi ro được xem như là trò chơi may rủi biết chính xác phân phối xác suất.
Trái lại, không chắc chắn (mơ hồ) thì không biết phân phối xác suất. Ông kết
luận rằng người ta không thích sự không chắc chắn (mơ hồ) nhiều hơn là không
thích rủi ro.
NHÓM 5 – LỚP KẾ TOÁN
LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH HÀNH VI

18
Khi phải ra quyết định trong điều kiện không chắc chắn, nhà đầu tư có
khuynh hướng tìm kiếm những nguồn thông tin mà họ cảm thấy có thể tin tưởng
được từ những người mà họ quen biết. Bên cạnh đó, các nhà đầu tư không thể
tiếp cận với thông tin nội bộ của công ty, lại hành xử một cách không lý trí theo
các tin đồn, như thể nó là thông tin cho họ một lợi thế hoặc một sự đảm bảo
thành công.
3.5 Đầu tư không phân biệt cổ phiếu tốt, xấu
Điều này có thể giải thích bởi Thiên lệch do điểm tựa. Nó khiến sự thay
đổi giá của một cổ phiếu có xu hướng gắn chặt với sự thay đổi giá của các cổ
phiếu khác, cũng như tỉ số P/E cũng được gắn chặt với tỉ số P/E của các cổ phiếu
khác mà không phân biệt cổ phiếu tốt, xấu thế nào. Một giải thích khác cho hành
vi không phân biệt cổ phiếu tốt, xấu của nhà đầu tư khi quyết đinh chịu tác động
của thiên lệch do tình huống sẵn có (Availability Bias).
Dạng thiên lệch nàyđược mô tả lần điều tiên bởi Kahneman và Tversky
(1974). Nó ảnh hưởng đến con người trong tình huống người ta đánh giá khả
năng một sự kiện xảy ra bởi sự dễ dàng nảy sinh trong đầu họ, khiến người ta
xem trọng các sự kiện mà họ có thể nhớ dễ dàng. Điều này hàm ý xem trọng các
sự kiện có mức độ bao phủ rộng lớn hoặc dễ dàng hình dung. Nó khiến các nhà

bong.htm, Cẩn trọng bong bóng, Báo Diễn đàn doanh nghiệp.
5. www.thanhnien.com.vn/News/Pages/200918/20090501225614.aspx, Tâm
lý nhà đầu tư chi phối VN-Index, Báo Thanhnienonline.
6. http://tinnhanhchungkhoan.vn/RC/N/CFJJBD/khi-nha-dau-tu-ngoai-di-
vang.html, Khi nhà đầu tư ngoại đi vắng.
7. http://www.nld.com.vn/20091207102310964P1014C1116/dau-tu-theo-
tin-don-nam-an-nam-thua.htm, Đầu tư theo tin đồn: Năm ăn, năm thua.
8. Tiểu luận cao học của lớp đêm 1 khóa 20
9. Chuyên đề tài chính hành vị lớp cao học khóa 21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status