Sâu răng & các yếu tố
nguy cơ
Bệnh sâu răng là một bệnh của tổ chức cứng, biểu hiện bằng sự hủy
khoáng các thành phần tổ chức và sự phá hủy tổ chức cứng của răng
tạo nên lỗ hổng trên bề mặt răng.
Bệnh thường xuất hiện sớm sau khi mọc răng và tăng dần theo lứa tuổi.
Ngày nay việc vệ sinh răng miệng đã được thực hiện rộng rãi nhưng tỷ lệ
bệnh sâu răng vẫn ngày càng tăng ở các nước phát triển. Ở Việt Nam các
nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc bệnh sâu răng trong cộng đồng còn khá cao
so với các nước trên thế giới cũng như các nước trong khu vực.
Bệnh sâu răng là một bệnh mạn tính, bệnh tiến triển từ từ qua nhiều giai
đoạn. Giai đoạn sớm có thể chỉ là những đốm trắng hoặc đục xuất hiện trên
mặt nhai hay kẽ giữa hai răng. Thường khó phát hiện do người bệnh không
thấy đau. Chỉ đến khi lỗ sâu lớn ăn vào lớp ngà răng thì mới xuất hiện đau
với cường độ nhẹ, hay cảm giác ê buốt thoáng qua với các kích thích nóng,
lạnh của bệnh lý tủy. Lúc này sâu răng mới được phát hiện và điều trị.
Chế độ ăn nhiều đường dễ khiến răng bị sâu.
Ăn nhiều kẹo bánh dễ gây sâu răng
Nguyên nhân gây sâu răng
Nước bọt cung cấp các yếu tố bảo vệ tự nhiên cho răng. Giảm dòng chảy
nước bọt đến mức tối thiểu sẽ làm tăng nguy cơ sâu răng mặc dù quá trình
sâu răng phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác.
Sâu răng được coi là bệnh do nhiều nguyên nhân gây ra, nguyên nhân chính
bao gồm vi khuẩn: thường xuyên có trong miệng, trong đó Streptococcus
Vai trò của đường
Sự lên men đường có vai trò quan trọng trong việc gây bệnh sâu răng. Các
loại carbohydrate khác nhau có đặc tính gây sâu răng khác nhau. Sucrose
(đường mía) có khả năng gây sâu răng cao hơn các loại đường khác.
Đường trong chế độ ăn được chia làm 2 loại: đường nội sinh (đường trong
hoa quả và rau) và đường ngoại sinh (đường bổ sung, nước quả tổng hợp,
sữa). Đường ngoại sinh có khả năng gây bệnh cao hơn do vậy nên giảm
đường ngoại sinh trong chế độ ăn.
Các nghiên cứu cho thấy sự liên quan trực tiếp giữa chế độ ăn đường và tỷ lệ
bệnh sâu răng phụ thuộc vào cách thức và tần suất ăn đường hơn là tổng
lượng đường tiêu thụ của mỗi cá thể. Nguy cơ sâu răng sẽ cao hơn ở những
cá thể ăn đường giữa các bữa ăn và ở những cá thể hay ăn các loại đường
dính trên bề mặt răng.
Nhóm yếu tố nguy cơ khác
Tình trạng men răng như men răng thiểu sản hay men răng kém khoáng hóa
có thể ảnh hưởng đến tiến triển của tổn thương sâu răng. Do khả năng hòa
tan men tỷ lệ nghịch với nồng độ fluor của men răng vì thế với men răng
thiểu sản hay men kém khoáng hóa thì khả năng tái khoáng kém hơn răng
bình thường.
Hình thể và vị trí răng với những răng có hố rãnh sâu hay răng lệch lạc thì
nguy cơ sâu răng cao hơn do sự tập trung cũng như khả năng lưu giữ mảng
bám.
Sự bất thường của tuyến nước bọt cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc cũng như
kéo dài với sữa và các loại chất ngọt nhất là bú trong khi ngủ làm tăng tỷ lệ
sâu răng gây nên hội chứng bú bình.
Chỉnh nha, sử dụng hàm giả bán phần, trám răng không đúng quy cách làm
tăng khả năng lưu giữ các mảnh thức ăn, mảng bám vi khuẩn do đó làm tăng
nguy cơ gây sâu răng.
Tóm lại, tuy không phải là một bệnh cấp tính nhưng nếu không được điều trị
sớm và kịp thời sâu răng sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe, học tập và công việc.
Để phòng ngừa bệnh sâu răng chúng ta cần có chế độ ăn uống hợp lý cũng
như thói quen vệ sinh răng miệng đúng cách. Kết hợp với khám răng miệng
định kỳ 6 tháng/lần để phát hiện sớm các dấu hiệu sâu răng và có biện pháp
điều trị kịp thời.