Tìm hiểu về bệnh loãng
xương
Cùng với việc tuổi thọ ngày càng tăng cao, số người già ngày càng nhiều
thì trên thế giới cũng như ở Việt Nam, bệnh loãng xương đang nổi lên là
một vấn đề xã hội và ngày càng được quan tâm.
Loãng xương là bệnh rất thường gặp có tỷ lệ mắc bệnh cao, chi phí rất tốn
kém trong việc phòng, điều trị, đặc biệt là các chi phí liên quan đến chăm
sóc, điều trị các biến chứng gẫy xương do loãng xương.
Loãng xương là gì?
Loãng xương được định nghĩa là tình trạng bệnh lý của hệ thống xương đặc
trưng bởi sự giảm khối lượng xương kèm tổn hại đến vi cấu trúc của tổ chức
xương làm giảm độ chắc của xương gây nguy cơ gẫy xương. Như vậy khi
một người bị loãng xương thì cả “chất” và “lượng” của hệ thống xương đều
bị suy giảm.
Loãng xương được phân thành hai loại (type): loãng xương nguyên phát là
loãng xương mà không tìm thấy căn nguyên nào khác ngoài tuổi tác (phân
thành loãng xương nguyên phát typ II) và /hoặc sau tình trạng mãn kinh ở
phụ nữ (loãng xương typ I). Loãng xương nguyên phát có thể do sự lão hoá
của tạo cốt bào là tế bào tạo xương từ đó gây nên thiểu sản xương. Loãng
xương thứ phát là loãng xương tìm thấy nguyên nhân do các bệnh lý như
cường cận giáp, cường tuyến giáp, hội chứng Cushing; viêm khớp dạng
thấp, viêm cột sống dính khớp, các dị dạng cột sống; các ung thư xương, đa
u tuỷ xương; các bệnh lý dạ dày ruột gây rối loạn hấp thu hoặc do sử dụng
một số thuốc như corticoid, heparin, phenyltoin… kéo dài; giảm nội tiết tố
sinh dục do cắt buồng trứng hoặc do dùng thuốc ức chế
hoặc sau chấn thương nhẹ mới phát hiện ra. Gẫy xương ở xương ngoại vi
thường gặp ở tay, chân nhất là gẫy đầu dưới xương quay ở cổ tay hoặc gẫy
cổ xương đùi. Ở cột sống, gẫy xương biểu hiện bởi lún xẹp đốt sống có thể
dẫn đến đau cột sống cấp tính, khởi phát đột ngột, kèm hay không kèm triệu
chứng chèn ép thần kinh liên sườn hay thần kinh tọa.
Đau cột sống do loãng xương thường có tính chất cơ học rõ: giảm rõ khi
nằm và giảm dần rồi biến mất trong vài tuần. Đau xuất hiện khi có một đốt
sống mới bị xẹp, hoặc đốt sống ban đầu bị xẹp nặng thêm. Trường hợp đau
cột sống mạn tính bệnh nhân đau âm ỉ liên tục, có những lúc đau trội giống
đợt cấp. Khám có thể phát hiện giảm chiều cao, gù cột sống, co cơ cạnh cột
sống, hạn chế động tác cúi ngửa, ấn đau chói tại chỗ xẹp.
Các thăm dò cận lâm sàng cần làm bao gồm chụp Xquang có thể thấy mất
chất khoáng ở xương biểu hiện bởi hình ảnh tăng thấu quang, kèm hoặc
không kèm gẫy xương. Trên phim Xquang chụp cột sống còn thấy các biến
dạng lún xẹp đốt sống, đốt sống hình thấu kính, hình chêm gây gù cột
sống… Tuy nhiên khi có biểu hiện loãng xương trên phim chụp Xquang thì
thường là biểu hiện muộn, khối lượng xương đã giảm ít nhất 30%. Biện
pháp chính xác nhất và sớm để chẩn đoán loãng xương theo Tổ chức Y tế
Thế giới là đo bằng máy hấp phụ tia X năng lượng kép (Dual Energy Xray-
Absorptionmetry- DEXA), đây chính là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán loãng
xương.
Các phương pháp chụp cắt lớp vi tính, cộng hưởng từ ít được áp dụng trong
chẩn đoán loãng xương do đắt tiền. Siêu âm đo mật độ xương chỉ khuyến
cáo khi làm sàng lọc trên cộng đồng, sau đó muốn kết luận loãng xương phải
đo bằng phương pháp DEXA. Hiện nay có nhiều nơi dùng phương pháp siêu
âm đo ở cổ chân, cổ tay sau đó kết luận loãng xương ngay là chưa thực sự
chuẩn xác. Các xét nghiệm máu như hội chứng viêm, xét nghiệm calci,
đường tiêm bắp, xịt mũi hoặc pha truyền tĩnh mạch (trong những chỉ định
đặc biệt), ngoài tác dụng ức chế hủy xương còn có tác dụng giảm đau do
loãng xương tốt. Các thuốc nội tiết tố sinh dục nữ như estroprogestatif,
tibolon không những có tác dụng dự phòng, điều trị loãng xương còn có tác
dụng tốt trong điều trị các rối loạn tiền mãn kinh ở nữ giới.
Tuy nhiên cần lưu ý chỉ định dùng thuốc rất chặt chẽ, không dùng ở những
bệnh nhân ung thư vú, tử cung, buồng trứng, tiền sử có thuyên tắc mạch
ngoại vi… Các thuốc khác như điều biến thụ thể estrogen chọn lọc (selective
estrogen receptor modulator- SERM) với chế phẩm raloxifen, vitamin K2,
strondium…đã và đang được sử dụng trong điều trị bệnh loãng xương và
cho những hiệu quả nhất định. Các trường hợp loãng xương nguyên phát cần
chú ý việc điều trị nguyên nhân gây bệnh và không được bổ xung calci khi
có calci máu tăng cao.
Phòng bệnh
Dự phòng loãng xương rất quan trọng vì chi phí thấp hơn rất nhiều so với
điều trị bệnh loãng xương cũng như các biến chứng của bệnh. Việc dự
phòng loãng xương cần được đặt ra ở tất cả các lứa tuổi, bao gồm tăng
cường dinh dưỡng, đảm bảo đủ chất calci, vitamin D và các yếu tố vi lượng.
Rèn luyện thể lực thường xuyên đều đặn sẽ giúp xương chắc khoẻ, làm tăng
mật độ xương và làm giảm sự mất xương. Cần bỏ các thói quen xấu có thể
làm tăng nguy cơ gẫy xương như hút thuốc lá, uống rượu (nhiều nghiên cứu
đã chứng tỏ sử dụng các chất này nhiều làm tăng nguy cơ gẫy cổ xương đùi).
Với người già cần chú ý tới phòng nguy cơ ngã do mắt kém, hệ xương khớp
không còn hoạt động tốt như người trẻ. Dự phòng loãng xương cần được chú
ý đặc biệt ở những bệnh nhân bị bệnh khớp mạn tính, bệnh bộ máy vận động
gây cản trở các hoạt động, sinh hoạt bình thường hoặc các bệnh có sử dụng