1
Luận văn
Thực trạng hoạt động sản xuất kinh
doanh, những kết quả đạt được, những
hạn chế trong quản lý kinh doanh và
nguyên nhân của của Phòng thương mại
và công nghiệp Việt Nam
2
Phần I: Quá trình hình thành và phát triển của cơ sở thực tập, cơ cấu bộ máy
quản lý của Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam, chức năng, nhiệm vụ.
1. Quá trình hình thành và phát triển của Phòng thương mại và công
nghiệp Việt Nam.
Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam có tên gốc là Phòng thương
mại của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được thành lập năm 1963 ở Hà Nội
nhằm phục vụ việc xúc tiến thương mại giữa Việt Nam và các nước trên thế
giới. Chỉ với 93 tổ chức thành viên ở giai đoạn đầu, Phòng đã trải qua một vài
giai đoạn hoàn thiện tương ứng với những khoảng thời gian khác nhau trong
lịch sử Việt Nam. Trong thời gian chiến tranh, các hoạt động của Phòng tập
trung vào việc duy trì các mối quan hệ thương mại giữa Việt Nam và một số
nước và lãnh thổ để đáp ứng nhu cầu xuất nhập khẩu của đất nước. Trong suốt
những năm chiến tranh trước đây, Phòng đã mở rộng phạm vi hoạt động khắp
đất nước, thiết lập các mối quan hệ với nhiều nước trên thế giới và tự tạo ra mối
liên hệ trong các hoạt động của các thực thể kinh tế quốc tế. Năm 1982, Phòng
đã đổi lại tên là Phòng thương mại và công nghiệp của nước cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam để mở rộng hoạt động của Phòng để thâu tóm lĩnh vực sản
xuất. Từ khi Việt Nam đổi mới, Phòng đã có quan hệ với các giai đoạn phát
kinh doanh của hộ ở Việt Nam.
2. Cơ cấu bộ máy quản lý của Phòng thương mại và công nghiệp Việt
Nam.
* Hội đàm với Chính phủ:
Là một đại diện duy nhất của đồng thương mại trên cả nước. Phòng đệ
trình lên đại hội đồng và Chính phủ Việt Nam những cái nhìn tổng quát và
những lời đề nghị mang tính tư vấn về lập pháp và Chính sách đặc biệt về các
hoạt động kinh tế và môi trường kinh doanh ở Việt Nam. Phòng duy trì mối
quan hệ thường kỳ với đại hội đồng, Chính phủ và các cơ quan Chính phủ có
liên quan cũng như các nhà chức trách địa phương. Hơn nữa, Trưởng Phòng
được mời tham dự trong đại hội đồng và các cuộc họp (cấp cao) nội các về
những vấn đề phát triển kinh tế và thương mại.
4
Phòng tổ chức các cuộc họp thường kỳ và đối thoại trực tiếp giữa thủ
trưởng, các thành viên nội các, và các nhà chức trách địa phương với những nhà
lãnh đạo kinh doanh để thảo luận về biện pháp, nhằm thúc đẩy sự phát triển
kinh tế xã hội của đất nước và tăng cường quan hệ đối tác giữa thương mại và
Chính phủ.
Với sự đóng góp của Phòng, vai trò của Phòng là tăng cường hơn nữa
trong quá trình hội nhập và cải tổ kinh tế.
* Hoạt động của các chủ doanh nghiệp:
Phòng cho các hoạt động của chủ doanh nghiệp của Phòng thương mại
công nghiệp Việt Nam được thiết lập với mục đích thúc đẩy lao động lành mạnh
và những mối quan hệ xã hội của đất nước. Phòng cho hoạt động của các chủ
doanh nghiệp của Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam có những mục
tiêu chủ yếu sau:
+ Giới thiệu các chủ doanh nghiệp Việt Nam trong cơ chế tư vấn đa
phương mang tính quốc gia và thúc đẩy sự hợp tác và tham vấn với các ông chủ
đại diện và Chính phủ.
hầu hết các hiệp hội chuyên nghành Việt Nam, hiệp hội và các nhóm kinh
doanh nước ngoài. Ngoài việc năng động trong các tổ chức xúc tiến thương mại
trong và ngoài nước như Phòng thương mại quốc tế, liên đoàn Phòng thương
mại công nghiệp Châu á Thái Bình dương, hội đồng thế giới của các doanh
nghiệp vừa và nhỏ, Phòng thương mại asean, … Phòng đã đồng tài trợ một vài
việc xúc tiến thương mại song phương cùng với Phòng tổng hợp, hội đồng
thương mại, uỷ ban thương mại và hiệp hội thương mại.
Là một nhà thành lập ra uỷ ban quốc gia Việt Nam cho hội đồng hợp tác
kinh tế Thái Bình Dương đang cung cấp sự lãnh đạo và văn Phòng cho hội
đồng.
Phòng duy trì mối quan hệ công việc đốt với hợp tác thương mại quốc tế
(IIC) chương trình phát triển liên hiệp quốc (UNDP), tổ chức công nghiệp liên
hợp quốc, UNIDO, tổ chức lao động quốc tế (ILO), ESCAP, UNCTAD … và
hội đồng Châu Âu cũng như viện tài Chính quốc tế như ngân hàng thế giới IMF,
6
ngân hàng phát triển Châu á (APB) và IFC … Phòng cũng đang giới thiệu các
chủ doanh nghiệp Việt Nam trong các hoạt động được tổ chức bởi tổ chức lao
động quốc tế (ILO) và tổ chức các chủ doanh nghiệp quốc tế.
* Sự trợ giúp đối với kinh doanh nước ngoài và hiệp hội thương mại:
Phòng luôn mở hội viên của Phòng đối với nền kinh doanh nước ngoài
cũng như các thành viên của hiệp hội. Khoảng 7,1 điều lệ được sửa đổi của
Phòng cung cấp. Các thành viên hiệp hội sẽ bao gồm các doanh nghiệp kinh
doanh liên doanh giữa Việt Nam và nước ngoài đã đăng ký Chính thức và đang
hoạt động ở Việt Nam. Và các doanh nghiệp thương mại Việt Nam đã đăng ký
Chính thức và đang hoạt động ở nước ngoài.
Nghị định 08 - 1998 ND - CP ngày 22 tháng giêng năm 1998 của Chính
phủ Việt Nam quy định những nguyên tắc về sự thành lập của hiệp hội hay các
câu lạc bộ các doanh nghiệp nước ngoài ở Việt Nam tham gia vào các hoạt động
xúc tiến đầu tư và thương mại do Phòng tổ chức.
có thể có thông tin qua những cách sau:
+ Diễn đàn doanh nghiệp (Bussiness form) một tờ báo của Việt Nam cung
cấp và phân tích thông tin.
+ "Công nghiệp và thương mại Việt Nam" số báo hàng tháng nhìn lại kinh
tế Việt Nam, thương mại và đầu tư nước ngoài, luật lệ và điều lệ mới, những
bản báo cáo về các lĩnh vực cụ thể và các lĩnh vực về kinh tế Việt Nam và cơ
hội kinh doanh.
+ "Danh bạ kinh doanh Việt Nam" một cuốn xuất bản hàng năm với những
thông tin cần thiết về hàng nghìn sự thiết lập thương mại.
+ "Việt Nam INFO" một cơ sở dữ liệu được lưu trữ bằng tiếng Anh có
những thông tin về môi trường kinh doanh và kinh tế của Việt Nam.
Đĩa CD - Rom gồm 8 nguồn thông tin:
- Số liệu kinh tế xã hội của Việt Nam.
- Cơ cấu hành chính Việt Nam.
- Hệ thống pháp lý ở Việt Nam.
8
- Đầu tư trực tiếp của nước ngoài ở Việt Nam (FDI)
- Xuất nhập khẩu của Việt Nam
- Các cơ quan đại diện của các Công ty nước ngoài ở Việt Nam và
những thông tin hữu ích.
- Những cuốn sách và sự xuất bản không theo định kỳ giải quyết xúc
tiến thương mại, báo cáo thị trường và những vấn đề kinh tế cụ thể như "kinh
doanh với Việt Nam" "Phát triển và hợp tác Việt Nam - asean" những cuốn sách
theo năm của Chính phủ.
Thương mại và những cơ quan khác có thể có thông tin từ Phòng đầu não ở
Hà Nội (Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam) các chi nhánh hay văn
Phòng đại diện ở các thành phố và tính khác trên những yêu cầu được làm trực
tiếp hoặc qua fax, thư mail, báo, Internet.
* Hội thảo và hội nghị:
doanh của họ ở cả Việt Nam và các nước khác.
* Nhiệm vụ (kinh doanh) doanh nghiệp:
Trong việc tìm kiếm cơ hội đầu tư và thương mại mới, nhiệm vụ doanh
nghiệp được tổ chức đều đặn bởi Phòng cho các thành viên của Phòng tới các
nước khác nhau trên thế giới.
Phòng cũng tổ chức những phái đoàn kinh doanh cùng với chủ tịch nước,
thủ tướng và các nhà lãnh đạo nước khác trong suốt chuyến thăm nước ngoài
của họ, tuy nhiên đóng góp nhiều hơn vào việc hợp tác kinh tế sâu sắc và mối
quan hệ các nước.
* Trợ giúp phái đoàn nước ngoài.
Phòng một đối tác đang hoạt động của phái đoàn Chính phủ nước ngoài
và phi Chính phủ, đặc biệt là những phái đoàn từ những tổ chức xúc tiến thương
mại và sự thiết lấp cá nhân. Là một thành viên của những phái đoàn như vậy,
các nhà doanh nghiệp có thể thảo luận với các nhà chức trách và các đối tác có
liên quan và những cơ hội kinh doanh ở Việt Nam. Phòng cũng cung cấp cho
các ông chủ kinh doanh nước ngoài những hứng thú trong việc kinh doanh. ở
10
Việt Nam với những dịch vụ hữu ích như làm trung gian, thông tin thương mại
và tư vấn, sự thiết lập các văn Phòng đại diện của họ, sự sắp đặt cho các chuyến
du lịch kinh doanh, các cuộc hẹn, vui chơi, giải trí …
* Dịch vụ tư vấn:
Tư vấn nước ngoài, gồm nhiều các chuyên gia đầu ngành về các lĩnh
vực khác nhau, mở rộng sự hỗ trợ với các nhà kinh doanh Việt Nam và nước
ngoài trong việc giải quyết các vấn đề đang tăng từ những vụ giao dịch của họ.
Nước ngoài cũng mời các nhà kinh doanh các nước tìm kiếm cơ hội
thương mại và đầu tư ở Việt Nam bằng những dịch vụ như những bản báo cáo
về thị trường trong nước và các đối tác có tiềm lực và sự chuẩn bị và thi hành
dự án của họ. Tư vấn pháp lý, tư vấn chuyển giao công nghệ cũng sẵn sàng từ
Nam và các doanh nghiệp thương mại Việt Nam đã được đăng ký chính thức và
đang hoạt động ở nước ngoài.
3. Các Phòng viên gồm các chuyên gia Việt Nam và nước ngoài và những
tổ chức có khả năng đóng góp vào thành tựu mục tiêu của Phòng.
4. Các thành viên danh giá gồm cá nhân với sự đóng góp đặc biệt về kiến
thức cho thành tựu về mục tiêu của Phòng.
* Đại hội đồng:
Đại hội đồng là cơ quan cao nhất của Phòng gồm có các nhà đại diện
được uỷ quyền của các thành viên của Phòng. Những phiên họp thường kỳ của
đại hội đồng nhằm nâng cao báo cáo về hoạt động của Phòng trong suốt kỳ
trước, hưởng ứng những chương trình hoạt động của kỳ sau, quyết định bất cứ
sự phê duyệt nào về quy định của Phòng và bầu chọn những thành viên của ban
lãnh đạo.
* Ban lãnh đạo:
Phòng hiện đang hoạt động do ban lãnh đạo được bầu trong kỳ 1997 -
2002 gồm có 50 thành viên. Ban lãnh đạo hướng dẫn tất cả các hoạt động của
Phòng tại cuộc họp đầu tiên, ban đã bầu chọn uỷ ban thường trực và uỷ ban
kiểm soát. Một số uỷ ban chuyên ngành được thiết lập với nhiều mục đích khác
nhau. Uỷ ban thương mại, công nghiệp, bảo hiểm tài chính, ngân hàng, công
nghiệp chế biến nông lâm ngư nghiệp, phát triển nguồn nhân lực du lịch, cơ sở
12
hạ tầng, các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tổ chức thương mại thế giới APEC,
AFTA …
* Uỷ ban thường trực:
Sự hoạt động suốt ngày đêm của Phòng được chỉ dẫn bởi các bộ đang
làm việc tại cơ quan đầu não của Phòng ở Hà Nội và các chi nhánh ở các trung
tâm thương mại khác ở Việt Nam và các nước khác dưới sự quản lý của uỷ ban
thường trực của Phòng, năm thành viên của uỷ ban thường trực là chủ tịch, ba
VIAC cung cấp dịch vụ thông tin, tổ chức hội thảo, hội nghị và các khoá
đào tạo có liên quan đến hoà giải.
14
Phần II: Thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh, những kết quả đạt
được, những hạn chế trong quản lý kinh doanh và nguyên nhân.
I. Thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh có ảnh hưởng đến hoạt
động của Phòng.
Năm 2001 đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc thực hiện kế
hoạch phát triển kinh tế xã hội trong chiến lược phát triển năm năm giai đoạn
2001 - 2005. Theo ước tính sơ bộ tổng sản phẩm trong nước 9 tháng đầu năm
2001 tăng 7% so với cùng kỳ năm 2000, trong đó khu vực nông lâm nghiệp và
thuỷ sản tăng 2,2% khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,7%, khu vực dịch
vụ tăng 6,6%. Tốc độ tổng sản phẩm trong nước 9 tháng năm 2001 tuy thấp hơn
mục tiêu đề ra cho cả năm 7,5 % nhưng vẫn cao hơn tốc độ tăng trưởng 6,4%
của 9 tháng đầu năm 2000. Tốc độ tăng của khu công nghiệp và xây dựng cũng
như của khu dịch vụ đều tăng tương đối cao đã góp phần nâng cao tốc độ tăng
trưởng kinh tế 9 tháng năm 2001. Trong 7% tăng trưởng, khu vực công nghiệp
và xây dựng đóng góp 3,8%, khu vực dịch vụ đóng góp 2,7%, khu vực nông
lâm nghiệp và thuỷ sản đóng góp 0,5%. Từ cuối tháng chín đến nay, riêng
ngành thuỷ sản đang gặp một số khó khăn lớn, nổi bật là nhiều vùng nuôi tôm
trọng điểm xảy ra tình trạng tôm bị dịch bệnh nặng, giá thuỷ sản sản xuất sang
Mỹ, EU và Nhật Bản đều giảm rõ rệt. Cá basa xuất khẩu sang Mỹ giảm 50%.
Như vậy, sản lượng khai thác và nuôi trồng cả năm có thể chỉ đạt khoảng 2,3
triệu tấn bằng 4,1% so với năm 2001, trong đó cá 1,7 triệu tấn, tăng 2,4%, tôm
240 nghìn tấn tăng 25,6%.
Xét về từng ngành trong sản xuất công nghiệp thì khu vực ngoài quốc
doanh có nhịp độ tăng trưởng cao nhất, tăng 22%. Khu vực ngoài quốc doanh
tăng nhanh chủ yếu do tăng thêm năng lực sản xuất của các doanh nghiệp mới
tính cả năm 2001 kim ngạch xuất khẩu đạt 16 tỷ USD, tăng 2,3% so với năm
2000, trong đó khu vực kinh tế tổng nước nhập khẩu 11350 triệu USD, tăng
0,6% khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 4650 triệu USD, tăng 6,8%. Nhập siêu
10 tháng 278 triệu USD bằng 2,2% kim ngạch xuất khẩu trong đó khu vực kinh
tế trong nước nhập siêu 2147 triệu USD, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài xuất
siêu 1869 triệu USD.
16
Do tình hình kinh tế tăng trưởng và công tác thu có tiến bộ nên tổng thu
ngân sách Nhà nước 9 tháng ước tính đạt 85,3% dự toán cả năm. Trong tổng thu
có một số khoản đã vượt mức dự toán cả năm như thu từ nhiên liệu dầu khí đạt
104,9% thuế giá trị gia tăng hàng nhập khẩu tăng 111,4% nhiều khoản thu lớn
cũng đạt mức cao so với dự toán cả năm: thuế xuất khẩu, nhập khẩu đạt 82,2%
thu từ kinh tế quốc doanh đạt 73,5% thuế công thương nghiệp và dịch vụ ngoài
quốc doanh đạt 73,1% tổng chi ngân sách Nhà nước 9 tháng ước tính đạt 70,6%
dự toán cả năm, trong đó chi đầu tư phát triển đạt 66,8% chi thường xuyên đạt
75,1% chi trả nợ và viện trợ đạt 71,1%
II. Những diễn biến mới trong năm 2001 và nhận định về kinh tế xã
hội tác động đến hoạt động của Phòng (trung tâm thông tin kinh tế)
Nền kinh tế Việt Nam năm 2001 đã có những dấu hiệu chuyển biến tích
cực, có đà tăng trưởng ổn định, kinh tế phát triển theo bề rộng hơn là theo chiều
sâu, một số ngành còn chưa có sự phát triển bền vững và bị phụ thuộc nhiều vào
yếu tố bên ngoài nên vẫn phải có sự hỗ trợ từ phái Nhà nước, ví dụ như lúa gạo,
cà phê. Nhưng xét về lâu dài, nền kinh tế không thể trông đợi vào sự chuyển
dịch cơ cấu kinh tế và chuyển hướng phát triển theo chiều sâu để đạt được sự
phát triển bền vững.
Nền kinh tế Việt Nam chịu ảnh hưởng của kinh tế thế giới nên việc kinh
tế Nhật Bản và Mỹ có dấu hiệu suy thoái tác động mạnh đến thị trường xuất
khẩu của Việt Nam. Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam như giày
III. Kết quả công tác đã đạt được trong năm 2001.
1. Kế hoạch hoạt động năm 2001 và kết quả thực hiện:
* Công tác chuyên môn:
- Xúc tiến thương mại:
Đã hoàn thiện hồ sơ thị trường của 33 nước và khu vực kinh tế trọng
điểm như Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, Nga, EU, Hàn Quốc … Các hồ sơ này
được liên tục cập nhật để có thông tin mới nhất. Đặc biệt trung tâm đã chủ động
đi vào chiều sâu, khai thác thông tin chuyển ngành cụ thể để cung cấp đựoc
thông tin hữu ích hơn cho doanh nghiệp. Hồ sơ thị trường Mỹ được chú trọng
18
trong bối cảnh quốc hội vừa thông qua hiệp định thương mại song phương với
Mỹ.
Trung tâm đang hoàn thiện bộ hồ sơ thông tin liên quan đến mặt hàng
thuỷ sản xuất khẩu sang Mỹ làm cơ sở để thăm dò ý kiến doanh nghiệp. Trên cơ
sở đó sẽ tiếp tục làm hồ sơ của một số mặt hàng xuất khẩu trọng điểm theo từng
thị trường.
Một số tin tức kinh tế xã hội nổi bật của Việt Nam ảnh hưởng đến hoạt
động của doanh nghiệp cũng liên tục được đua trên trang web của VCCI để
doanh nghiệp có điều kiện theo dõi tin tức một cách tổng hợp.
Trao đổi thông tin vói các doanh nghiệp qua các phương tiện thông tin
kể cả Internet, đưa thông tin miễn phí về mua bán của các doanh nghiệp lên
mạng vcci.com.vn. Ngày càng có nhiều doanh nghiệp Việt Nam và nước ngoài
yêu cầu VCCI đưa thông tin mua bán lên mạng và có nhiều doanh nghiệp nhờ
đó đã tìm được đối tác để tiến hành đối phó và ký kết hợp đồng.
Mạng Lan VCCI: Đã tiến hành khảo sát và đối phó với đối tác để lắp đặt
mạng VCCI - Internet nhằm tiến tới thành lập VCCI. Hai bên đã ký kết hợp
đồng và dự kiến mạng Lan của VCCI sẽ triển khai và hoàn thiện trong năm
2001.
- Mở rộng hợp tác:
Thực hiện liên kết với các trang web của các bộ ngành, địa phương liên
quan của Việt Nam.
Liên kết với các trang web của CCI trong khu vực và trên thế giới, các
tổ chức xúc tiến và phát triển thương mại quốc tế khác.
Trong khuôn khổ hợp tác với ban quản lý khu công nghiệp Dung quất
đã tổ chức đoàn khảo sát kinh ngiệm xây dựng khu và khu đô thị ở Thái Lan.
Trung tâm đang xúc tiến đối phó với một số đối tác nước ngoài để có
thể cung cấp một số dịch vụ mới cho hội viên, hỗ trợ và xúc tiến thương mại.
Các công việc khác:
- Tham gia dự án:
20
Trung tâm đã tham gia dự án TAF, đề án chung của cơ quan cũng như
các đơn vị khác theo sự phân công của ban thường trực để nâng cao trình độ
chuyên môn góp phần vào sự phát triển chung.
- Đa truyền thống:
Để có tài liệu tuyên truyền thông tin cho các doanh nghiệp, trung tâm đã
in và phát hành một số ấn phẩm để cung cấp thông tin cho các doanh nghiệp:
Biểu thuế AFTA, xuất khẩu sang thị trường Mỹ.
Biên tập và phát hành đĩa CD - ROM cho dự án sáng kiến liên kết doanh
nghiệp VBLI.
2. Những hoạt động được điều chỉnh bổ sung:
Hiệp định thương mại song phương Việt Mỹ được quốc hội thông qua
đã tạo ra những cơ hội kinh doanh mới cho doanh nghiệp Việt Nam với thị
trường đày tiềm năng. Những vấn đề đang được quan tâm là những mặt hàng
xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam như hải sản, may mặc, giày dép … Để đáp ứng
nhu cầu mới nảy sinh, trung tâm thông tin triển khai thử nghiệm trên VCCI web
hồ sơ thị trường Mỹ (chi tiết), biểu thuế xuất khẩu thuỷ sản sang Mỹ, thống kê
4. Hạn chế ách tắc trong quản lý và nguyên nhân.
Phòng chưa giới thiệu hết với các chủ doanh nghiệp Việt Nam trong cơ
chế tư vấn đa phương mang tính quốc gia, chưa thúc đẩy mạnh sự hợp tác và
tham vấn với các ông chủ đại diện và Chính phủ chưa tạo hết được môi trường
lao động cho việc phát triển các doanh nghiệp, các quan điểm phản ánh.
Do hiệp định thương mại Việt Mỹ mới đưa thông qua cho nên môi
trường kinh doanh cũng có sự thay đổi trong cập nhật thông tin về xuất khẩu,
các biểu tax xuất nhập khẩu, hải quan, các buổi nói chuyện và hội thảo về các
vấn đề ngân hàng, tài Chính, đầu tư FDI … còn chưa được thường xuyên.
Việc thông tin đến các doanh nghiệp còn nhiều hạn chế nên các doanh
nghiệp khó khăn trong việc tìm hiểu thị trường quốc tế. Cũng do một số các
doanh nghiệp kinh doanh vừa và nhỏ phạm vi kinh doanh chưa lớn, việc tiếp
cận thị trường trong nước cũng như quốc tế không được đầy đủ.
Hơn nưa, vì nền kinh tế nước ta chỉ đi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập
trung nay chuyển sang nền kinh tế thị trường cũng gây nhiều khó khăn. Một
22
trong những lý do đó là do sự chuyển đổi như vậy nên về trình độ chuyên môn
cũng như kinh nghiệm quản lý còn chưa đáp ứng ngay được với thị trường, sức
cạnh tranh chưa cao, việc ứng dụng máy móc thiết bị, công nghệ mới vào quản
lý kinh doanh còn nhiều hạn chế và hầu hết các doanh nghiệp đều thâm nhập thị
trường một cách nóng vội doanh nghiệp nào cũng muốn sản phẩm của mình
được đưa ra thị trường một cách nhanh chóng nên không quan tâm đến việc cập
nhật thông tin.
Trên đây là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến một số ách tắc
nhỏ trong quản lý chung của Phòng đối với các doanh nghiệp tham gia kinh
doanh.
những đi sâu vào các thông tin cụ thể. Sau hồ sơ về mặt hàng thuỷ sản sang thị
24
trường Mỹ, trung tâm dự kiến thu thập và cung cấp cho các doanh nghiệp các
thông tin chuyên ngành khác, chủ yếu là các mặt hàng xuất khẩu chủ đạo của
Việt Nam, như may mặc hay giày dép.
Tiếp tục đưa tin tức kinh tế xã hội nổi bật của Việt Nam ảnh hưởng đến
hoạt động của doanh nghiệp trên trang web của VCCI để doanh nghiệp có điều
kiện theo dõi tin tức một cách tổng hợp.
- Trao đổi thông tin với các doanh nghiệp qua các phương tiện thông tin
kể cả Internet đưa thông tin miễn phí về mua bán của các doanh nghiệp lên
mạng vcci.com.vn.
Các hoạt động này sẽ được duy trì nhờ ngân sách hoạt động chung của
Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam.
* Mạng Lan VCCI: Sẽ tiếp tục triển khai các ứng dụng khác trên mạng Lan
của VCCI, như email hay web nội bộ … Nguồn kinh phí do ngân sách Phòng
thương mại và công nghiệp Việt Nam cấp.
* Tư vấn và hỗ trợ doanh nghiệp:
- Tiếp tục xây dựng các trang web riêng cho các doanh nghiệp Việt Nam
để các doanh nghiệp có thể tự giới thiệu trên Internet.
- Cung cấp thông tin kinh tế cơ bản cho các hội viên miễn phí.
- Tổ chức hai cuộc hội thảo giới thiệu về các ứng dụng công nghệ thông
tin cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
- Duy trì trang web dành cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa
smenet.com.vn
Kinh phí cho các hoạt động này dự kiến lấy từ các hoạt động hợp tác với
các đối tác trong và ngoài nước.
Thiết kế trang web
- Nâng cấp website của dự án khởi sự và phát triển doanh nghiệp
thường trực tạo điều kiện cho trung tâm được phần đầu tư trong ngân sách đã
được duyệt để thanh toán đúng hạn với các đối tác thực hiện hợp đồng cung cấp
và lắp đặt mạng Lan.