LUẬN VĂN:HÀNG RÀO PHI THUẾ QUAN VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ - Pdf 10


TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG
***
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐỀ TÀI:

HÀNG RÀO PHI THUẾ QUAN VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA Nể
ĐẾN THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
Giáo viên hướng dẫn : PGS. NGƯT. Vũ Hữu Tửu
Sinh viờn thực hiện : Trần Bớch Thuỷ
Lớp : Phỏp 2 - K37

HÀ NỘI - 2002

MỤC LỤC
TRAN

3
ngày càng cú nhiều cỏc hàng rào phi thuế mới ra đời với mức độ bảo hộ
tốt hơn và ngày càng tinh vi hơn, nhạy cảm hơn. Vấn đề đặt ra đối với Việt
Nam hiện nay là làm sao định hướng cho đỳng việc ỏp dụng cỏc NTM vừa
phỏt huy hữu ớch vai trũ của nú, vừa phự hợp với cỏc cam kết quốc tế. Đú
cũng chớnh là mục tiờu nghiờn cứu của cuốn luận văn này.
Trong khuôn khổ luận văn tốt nghiệp, em xin trỡnh bày một số hiểu
biết khiờm tốn của mỡnh về lĩnh vực đang rất nóng hổi này. Em xin chân
thành cảm ơn tất cả những người đó giỳp em hoàn thành luận văn này, và
đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy giáo, Phó Tiến Sĩ-Nhà
giáo ưu tú Vũ Hữu Tửu, người đó tận tỡnh giỳp đỡ em từ khâu xây dựng ý
tưởng cho tới khi hoàn thành cụng trỡnh nhỏ này.

5
khỏi bị phá sản nhanh chóng. Tương tự như những nhóm người lao động
tại các ngành đang suy thoái hoặc có năng suất thấp (ví dụ như dệt may,
nông nghiệp) ở các nước phát triển, các doanh nghiệp sở hữu nhà nước có
sức mạnh chính trị to lớn tại những nước đang chuyển đổi. Nét nổi bật này
của các nền kinh tế chuyển đổi làm cho việc bảo hộ sản xuất trong nước có
ý nghĩa quan trọng đặc biệT.
Với nền kinh tế đang phát triển ở trỠNH độ thấp, lại đang trong quá
trỠNH CHUYỂN đổi, Việt Nam chúng ta cũng có nhu cầu lớn cần được
bảo hộ sản xuất trong nước do các yếu tố của kinh tế thị trường cŨN
CHưa được tạo lập đồng bộ và cŨN NHIỀU KHIẾM KHUYẾT, hệ thống
pháp luật, trong khi nhiều lĩnh vực chưa được điều chỉnh thỠ CỤNG CỤ
QUAN TRỌNG để quản lý nhà nước trong kinh tế thị trường lại trong
tỠNH TRẠNG CHỒNG CHỘO. DO VẬY, MỤI TRường pháp lÝ BỠNH
đẳng cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế chưa được hoàn
chỉnh. Các chính sách quản lÝ TàI CHỚNH TIỀN TỆ, XUẤT NHẬP
KHẨU CŨNG đang trong tỠNH TRẠNG Tương tự, năng lực yếu kém
của nhiều ngành sản xuất
Đứng trước xu thế tất yếu của tự do hoá thương mại và quá trỠNH
HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ, NẾU KHỤNg có chiến lược bảo hộ
đúng đắn thỠ NHIỀU NGàNH SẢN XUẤT TRONG Nước sẽ không thể
đứng vững trước sức ép cạnh tranh gay gắt của hàng nhập khẩu. Những
ngành cần được bảo hộ chủ yếu là những ngành yêu cầu hàm lượng vốn
lớn, có khả năng cạnh tranh và phát triển dựa trên công nghệ hiện đại. Mặt
khác, đây lại là những ngành công nghiệp chiếm vị trí quan trọng, tạo nên
xương sống cho nền kinh tế như luyện kim, hoá dầu, xi măng Nếu được
hưởng những hỗ trợ nhất định và được bảo hộ bằng những chính sách
thích hợp trong một thời gian cần thiết, các ngành này dù gặp nhiều khó
khăn trước mắt trong việc cạnh tranh với hàng nhập khẩu nhưng trong
tương lai có thể có sức cạnh tranh cao.

Nhờ đặc TỚNH RỪ RàNG NỜN TRONG CỎC CUỘC đàm phán
thương mại song phương và đa phương, thuế quan luôn là đối tượng dễ
đàm phán cắt giảm. Một điểm đáng chú Ý KHỎC Là TRONG KHUỤN
KHỔ đàm phán đa phương, thuế quan có thể được tiến hành cắt giảm theo
công thức. Trong Và SAU VŨNG đàm phán Uruguay, trong khuôn khổ
WTO cŨN NỔI LỜN XU Hướng cắt giảm thuế quan theo ngành (ví dụ :
mức thuế 0% áp dụng cho nhiều sản phẩm của các ngành dược phẩm, sắt
thép, sản phẩm công nghệ thông tin )
TUY NHIỜN, BIỆN PHỎP THUẾ QUAN CŨNG CÚ đặc điểm dễ
thấy là không tạo được rào cản nhanh chóng. Trước các tỠNH THẾ
KHẨN CẤP, KHI HàNG NHẬP KHẨU Tăng nhanh gây tổn hại hoặc đe
doạ gây tổn hại cho ngành sản xuất nội địa, các NTB như cấm nhập khẩu,
hạn ngạch nhập khẩu, giấy phép nhập khẩu không tự động với khả năng
chặn đứng dŨNG NHẬP KHẨU NGAY LẬP TỨC LẠI TỎ RA HỮU
HIỆU Hơn.

2.2. CỎC BIỆN PHỎP PHI THUẾ QUAN ( NON-TARIFF
MEASURES)

Ngoài thuế quan, cỏc biện phỏp phi thuế quan bao gồm tất cả cỏc
biện phỏp khỏc, dự theo quy định phỏp lý hay tồn tại trờn thực tế đều ảnh
hưởng đến mức độ và phương hướng nhập khẩu. Mỗi biện phỏp cú thể cú
một hoặc nhiều thuộc tớnh như ỏp dụng tại biờn giới hay nội địa, được
duy trỡ một cỏch chủ động hay bị động, phự hợp hoặc khụng phự hợp với
thụng lệ quốc tế, nhằm bảo hộ hay khụng bảo hộ
Các biện pháp phi thuế quan có những ưu điểm cơ bản là phong phú
về hỡnh thức (2), đáp ứng nhiều mục tiêu và có thể áp dụng linh hoạt vỡ
nhiều biện phỏp chưa bị buộc phải cam kết hay loại bỏ.
8
Cỏc biện phỏp phi thuế trong thực tế rất phong phỳ về hỡnh thức

dùng; (iv) đảm bảo cân bằng cán cân thanh toán; (v) đảm bảo an ninh quốc
gia, trật tự an toàn xó hội, vv Cỏc NTM cú thể đồng thời phục vụ hiệu
quả nhiều mục tiêu khác nhau nêu trên trong khi việc sử dụng công cụ
thuế quan không khả thi hoặc không hữu hiệu bằng.
Ví dụ quy định về kiểm dịch đối với nông sản nhập khẩu vừa đảm
bảo an toàn sức khoẻ con người, động thực vật lại vừa gián tiếp bảo hộ sản
9
xuất nông nghiệp trong nước một cách hợp pháp. Hay cấp phép không tự
động đối với dược phẩm nhập khẩu vừa giúp bảo hộ ngành dược nội địa,
dành độc quyền cho một số đầu mối nhập khẩu nhất định, quản lý chuyên
ngành một mặt hàng quan trọng đối với sức khoẻ con người, phân biệt đối
xử với một số nước cung cấp nhất định.
Hỡnh thức thể hiện của cỏc NTM rất phong phỳ nờn nhiều biện
phỏp chưa chịu sự điều chỉnh của các quy tắc thương mại. Các NTM
thường mang tính "mập mờ", mức độ ảnh hưởng không rừ ràng như những
thay đổi mang tính định lượng của thuế quan, nên dù tác động của chúng
có thể lớn nhưng lại là tác động ngầm, có thể che đậy hoặc biện hộ bằng
cách này hay cách khác. Hiện nay các Hiệp định của WTO chỉ mới điều
chỉnh việc sử dụng một số NTM nhất định. Theo đó, tất cả các NTM hạn
chế định lượng (1) đều không được phép áp dụng, trừ trường hợp ngoại lệ.

Một số NTM khỏc tuy cú thể nhằm mục tiờu hạn chế nhập khẩu,
bảo hộ sản xuất trong nước nhưng vẫn được WTO cho phộp ỏp dụng với
điều kiện tuõn thủ những điều kiện cụ thể, rừ ràng, khỏch quan. Chẳng hạn
như cỏc tiờu chuẩn kĩ thuật, biện phỏp kiểm dịch động thực vật, tự vệ,
thuế chống bỏn phỏ giỏ, cỏc biện phỏp chống trợ cấp, thuế đối khỏng, một
số hỡnh thức hỗ trợ nụng nghiệp (dạng hộp xanh).
Thậm chí, với những NTM chưa được xác định là có phù hợp hay
không với các quy định của WTO, các nước vẫn có thể tiếp tục áp dụng
mà chưa bị yêu cầu cắt giảm hay loại bỏ. Những NTM này có thể do WTO

sản xuất bị hạn chế.
Tác động của NTM thường khó có thể được lượng hoá rừ ràng như
tác động của thuế quan. Nếu mức bảo hộ thông qua thuế quan đối với một
sản phẩm có thể xác định được một cách dễ dàng thông qua mức thuế suất
đánh lên sản phẩm đó thỡ mức độ bảo hộ thông qua NTM là tổng mức bảo
11
hộ của các NTM riêng rẽ áp dụng cho cùng một sản phẩm. Bản thân mức
độ bảo hộ của mỗi NTM cũng chỉ có thể được ước lượng một cách tương
đối chứ không thể lượng hoá rừ ràng như thuế quan. Cũng vỡ mức độ bảo
hộ của các NTM không dễ xác định nên rất khó xây dựng một lộ trỡnh tự
do hoỏ thương mại như với bảo hộ chỉ bằng thuế quan.
Khụng những thế, vỡ khú dự đoán nên các NTM thường đũi hỏi chi
phớ quản lý cao và tiờu tốn nhõn lực của nhà nước để duy trỡ hệ thống
điều hành, kiểm sát bằng NTMs.
Một số NTM lại thuộc thẩm quyền và phạm vi quản lý của nhiều cơ
quan với những mục tiêu khác nhau, đôi khi cũn mõu thuẫn nhau, nờn cú
thể gõy ra khú khăn cho các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý và
cỏc chủ thể tham gia hoạt động kinh tế trong việc xây dựng, sử dụng, tiếp
cận thông tin cũng như đánh giá tác động của các NTM này.
Các doanh nghiệp sản xuất chưa chú trọng đến việc tiếp cận thông
tin và chưa có ý thức xây dựng, đề xuất các NTM để bảo hộ sản xuất, cũn
trụng chờ vào nhà nước tự quy định. Do đó, thực tế là các doanh nghiệp
thường phải tốn kém chi phí vận động hành lang để cơ quan ra quyết định
áp dụng NTM nhất định có lợi cho mỡnh.
Ngoài ra việc quản lý cỏc NTM cũn khú khăn hơn nếu đó là những
NTM bị động, tồn tại trên thực tế ngoài ý muốn của cỏc nhà hoạch định
chính sách như bộ máy quản lý thương mại quan liêu, năng lực thấp của
các nhân viên hải quan, các văn bản pháp lý không được công bố công
khai
Việc sử dụng cỏc NTM nhằm hạn chế nhập khẩu, bảo hộ sản xuất

những thành viên sáng lập của GATT (WTO ngày nay). Mặc dù có tiềm
năng to lớn trong hầu hết mọi lĩnh vực sản xuất, nhưng theo quy luật về lợi
thế cạnh tranh tương đối, trong những năm qua, Hoa Kỡ đang phải đối mặt
13
với những thách thức rất lớn nhằm bảo hộ cho những ngành sản xuất đó
suy giảm sức cạnh tranh trờn thị trường thế giới.
Thực tiễn ỏp dụng cỏc NTM của Hoa Kỡ cú thể được minh hoạ rừ
nột khi nghiờn cứu cỏc biện phỏp được áp dụng để bảo hộ các ngành dệt
may, nông nghiệp và sắt thép.
Dệt may là một ngành sử dụng nhiều lao động không đũi hỏi kỹ
năng cao. Hoạt động sản xuất của ngành này có tác động lớn tới thu nhập,
việc làm và ổn định xó hội của Hoa Kỡ. Do đó, ngành dệt may luôn được
các nhà hoạch định chính sách thương mại của Hoa Kỡ tỡm mọi cỏch để
bảo hộ, trong đó công cụ bảo hộ chính là hạn ngạch. Theo Hiệp định Dệt
May của WTO, Hoa Kỡ phải loại bỏ hạn ngạch đối với các sản phẩm dệt
và may vào năm 2005 theo một lộ trỡnh gồm 3 giai đoạn. Tuy nhiên, Hoa
Kỡ đó tỡm nhiều cỏch để lẩn trốn các nghĩa vụ, chẳng hạn như rất nhiều
sản phẩm chỉ được loại bỏ hạn ngạch vào giai đoạn cuối cùng của Hiệp
định này.
Một NTM khác là quy tắc xuất xứ đó được Hoa Kỡ sử dụng khỏ
tinh vi để hạn chế nhập khẩu sản phẩm dệt may từ Trung Quốc và Ấ n Độ.
Nền nụng nghiệp của Hoa Kỡ cú năng suất lao động đứng đầu thế
giới, có sức cạnh tranh rất lớn cả về chất lượng và giá cả nhờ điều kiện
thiên nhiên thuận lợi cộng với trỡnh độ khoa học công nghệ cao. Tuy
nhiên, Hoa Kỡ vẫn phải ỏp dụng nhiều NTM nhằm bảo hộ cho một số
nhúm sản phẩm nụng nghiệp, đặc biệt là sữa và đường. Hai biện pháp nổi
bật được áp dụng để bảo hộ ngành sữa và đường là biện pháp hạn ngạch
thuế quan và hỗ trợ giá. Chỉ tính riêng khoản hỗ trợ trong nước của Hoa
Kỡ vi phạm Hiệp định Nông nghiệp của WTO và thuộc diện phải cam kết
cắt giảm trong năm 1996 đối với ngành sữa đó lờn tới 4,7 tỷ USD và đối

Helm - Burton hạn chế khụng chỉ cỏc cụng ty Hoa Kỡ mà thậm chớ cỏc
cụng ty và thể nhõn cỏc nước khác tiến hành đầu tư buôn bán với Cu Ba.
15
Hoa Kỡ cũng thực thi và ban hành cỏc biện phỏp hạn chế thương mại với
Iran.

2. Kinh nghiệm của Thỏi Lan

Thái Lan đó đạt được sự phát triển kinh tế khá ngoạn mục trong vài
thập kỉ gần đây. Mặc dù nhiều lĩnh vực sản xuất của Thái Lan có khả năng
cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế nhưng Thái Lan vẫn áp dụng nhiều
NTM với mục tiêu bảo hộ sản xuất trong nước.

Hạn ngạch nhập khẩu

Hạn ngạch nhập khẩu được Thỏi Lan sử dụng đối với mỏy múc,
giấy, hoỏ chất, mỏy nụng nghiệp, bỡnh chứa gas để nấu nướng, mỏy cưa
đĩa. Thỏi Lan cũn chuyển biện phỏp cấp phộp sang hạn ngạch thuế quan
và thuế hoỏ cỏc NTM đối với 23 nhúm nụng sản. Chỳng hầu hết là
nguyờn liệu thụ (nụng sản chưa chế biến) bao gồm sữa chưa cụ đặc, khoai
tõy, hành tỏi, cà phờ, hạt tiờu, ngụ, gạo, đậu tương, lỏ thuốc lỏ. Thuế suất
ngoài hạn ngạch thay đổi từ 40% đến 242%.

Cấp phộp nhập khẩu

Thái Lan đó giảm số nhúm hàng nhập khẩu cần có giấy phép từ 42
(năm 1995 - 96) xuống cũn 23 (năm 1997). Các mặt hàng phải có giấy
phép mới được nhập khẩu bao gồm nguyên vật liệu, dược phẩm, xăng dầu,
hàng công nghiệp, hàng dệt, nông sản và tất cả các loại lương thực thực
phẩm phục vụ tiêu dùng của con người.

Thái Lan đưa ra yêu cầu về hàm lượng nội địa đối với sản xuất ô tô
con (54%), xe tải nhẹ (65 - 80%), xe tải và xe buyt (40 - 50%), xe máy
17
(70%) và sản phẩm sữa (phải mua tối thiểu 50 tấn sữa nguyên liệu địa
phương/ngày trong năm hoạt động đầu tiên). Tuy nhiên, Thái Lan đó cam
kết loại bỏ hoàn toàn cỏc yờu cầu về nội địa hoá vào cuối năm 1999 theo
quy định của Hiệp định TRims của WTO. Thái Lan đó tiến hành sửa đổi
các văn bản pháp luật trong nước để loại bỏ dần yêu cầu về hàm lượng nội
địa hoá trong năm 1999, phù hợp với thời hạn quá độ cho phép trong Hiệp
định TRIMs.

Khuyến khích đầu tư

Uỷ ban Đầu tư (Board of Investment) của Thái Lan đưa ra những
ưu đói và khuyến khớch đầu tư đối với các công ty nước ngoài đạt những
mục tiêu cụ thể về tỉ lệ xuất khẩu hoặc chấp nhận các yêu cầu về cân bằng
thương mại. Hỡnh thức khuyến khớch cú thể là miễn, giảm phớ, thuế nhập
khẩu, quỹ khuyến khớch xuất khẩu và cỏc hỡnh thức ưu đói thuế khỏc.
Nhằm khuyến khớch đầu tư nước ngoài, khắc phục hậu quả của cuộc
khủng hoảng kinh tế khu vực vừa qua, BOI đó tạm thời nới lỏng nhiều
điều kiện về miễn thuế và phí.
Chương trỡnh khuyến khớch xuất khẩu đưa ra các hỡnh thức ưu đói
chủ yếu sau : miễn thuế nhập khẩu đối với các nguyên liệu nhập khẩu để
sản xuất hàng xuất khẩu, khấu trừ 5 % phần tăng lên của thu nhập năm
trước do xuất khẩu khỏi phần thu nhập chịu thuế, vv Tuy nhiên, Luật
khuyến khích đầu tư không quy định tiêu chuẩn cụ thể để đựơc hưởng
những ưu đói, khuyến khớch này.

Trợ cấp


được quyền cấp phép nhập khẩu và áp dụng hạn ngạch nhập khẩu với 260
mặt hàng gồm hàng tiêu dùng, nguyên liệu thô và một số thiết bị sản xuất
19
như dầu thực vật, cao su tự nhiên, săm lốp xe máy, xe máy và phụ tùng, ô
tô các loại, xe tải và ti vi màu Trong số các mặt hàng này, 112 mặt hàng
sẽ được loại bỏ giấy phép và hạn ngạch ngay sau khi Trung Quốc gia nhập
như đường, len, bông, sợi tổng hợp, máy điều hoà, tủ lạnh những mặt
hàng cũn lại sẽ được tăng 15% hạn ngạch sau mỗi năm và đến 01/01/2005
sẽ loại bỏ hoàn toàn việc áp dụng hai biện pháp này. Cơ quan quản lý việc
cấp phộp nhập khẩu là Bộ Ngoại Thương và Hợp tác Kinh tế (MOFTEC).
Ngoài ra Trung Quốc đó đạt được cam kết duy trỡ việc đấu thầu
nhập khẩu cho 117 mặt hàng máy công cụ, thiết bị điện tử như máy in,
máy fax Tuy nhiên, biện pháp này cũng cú lộ trỡnh cắt giảm rừ ràng và sẽ
loại bỏ hoàn toàn vào năm 2004.

Quyền kinh doanh thương mại

Các doanh nghiệp nhà nước của Trung Quốc được ưu tiên quyền
kinh doanh thương mại đối với 7 nhóm hàng nhập khẩu gồm ngũ cốc, dầu
thực vật, đường, thuốc lá, phân hoá học, bông, dầu thô, dầu chế biến và 19
nhóm hàng xuất khẩu như chè, gạo, bông, đậu tương, than, bạc
Khỏc với việc quản lý trực tiếp cỏc cụng ty ngoại thương nhà nước
như trước đây, hiện nay, MOFTEC không cũn can thiệp vào hoạt động
kinh doanh của các công ty này nữa. Trung Quốc khẳng định rằng tất cả
các doanh nghiệp sở hữu nhà nước hoặc doanh nghiệp do nhà nước đầu tư
sẽ chỉ tiến hành các hoạt động mua, bán theo tiêu chí thương mại. Các
doanh nghiệp và cá nhân của các nước thành viên WTO (dù không đầu tư
hoặc đăng ký kinh doanh tại Trung Quốc) cũng sẽ được hưởng đối xử
quốc gia về quyền kinh doanh thương mại.
Trung Quốc cũng đó đưa ra lịch trỡnh về quyền kinh doanh xuất

21
Đến nay, Trung Quốc đó cam kết tuõn theo những quy định của
WTO về trị giá tính thuế hải quan, tiến tới xoá bỏ hoàn toàn việc áp dụng
các bảng giá tối thiểu và các bảng giá tham chiếu như trước đây.

Trợ cấp

Trung Quốc sử dụng nhiều hỡnh thức trợ cấp xuất khẩu như cho nhà
sản xuất hưởng gía điện thấp, cho phép doanh nghiệp nhà nước và công ty
thương mại nhà nước vay ngân hàng với những điều kiện và lói suất ưu
đói. Ngoài ra, để được vay ưu đói và cung cấp một số phương tiện nghiên
cứu, phát triển, các doanh nghiệp phải đáp ứng một số chỉ tiêu xuất khẩu
nhất định. Những doanh nghiệp hoạt động trong các đặc khu kinh tế và
vùng ven biển được hưởng ưu đói về thuế. Trung Quốc cũn tiến hành trợ
cấp tài chớnh cho cỏc chương trỡnh phỏt triển sản phẩm xuất khẩu cuối
cựng.

Các cam kết phi thuế quan trong thương mại nông sản

Trung Quốc đó cam kết giới hạn tổng lượng trợ cấp tính gộp bằng 0
trên cơ sở mức hỗ trợ tối thiểu là 8,5% cho cả hỗ trợ chung và hỗ trợ theo
sản phẩm cụ thể. Nước này được áp dụng hạn ngạch thuế quan đối với lúa
mỡ, ngụ, gạo, dầu đậu tương, dầu cọ, dầu hạt cải, đường, len và bông. Tuy
nhiên, hạn mức quota cho những mặt hàng này tăng khá mạnh trong giai
đoạn thực hiện (trung bỡnh khoảng 60%). Riờng mặt hàng đường, Trung
Quốc không những cam kết tăng mức hạn ngạch từ năm 2001 đến năm
2004 lên 15,77% mà cũn cam kết giảm thuế trong hạn ngạch trong giai
đoạn tương ứng từ 20% xuống cũn 15%.
22
Biện pháp hạn ngạch thuế quan với hầu hết các mặt hàng nông sản

Trong môi trường cạnh tranh quốc tế ngày càng tăng, các NTM đó
và đang được sử dụng như một xu thế tất yếu để bảo hộ những ngành sản
xuất mới và có tiềm năng phát triển. Hơn nữa, nền kinh tế xó hội của bất
kỳ quốc gia nào cũng cú thể chao đảo vỡ sự thõm hụt cỏn cõn thanh toỏn
hay sự thương tổn của các ngành sản xuất nội địa do hàng hoá được trợ
cấp hay bị bán phá giá nhập khẩu ồ ạt vào thị trường trong nước. Trong
những tỡnh huống như vậy, việc áp dụng các NTM như thuế đối kháng,
thuế chống bán phá giá để hạn chế nhập khẩu hay triệt để tác dụng của
trợ cấp, bán phá giá hàng hoá và ổn định tỡnh hỡnh kinh tế xó hội là một
nhu cầu khỏch quan. Bờn cạnh cụng cụ thuế quan là một cụng cụ cú tớnh
cứng nhắc và bảo thủ cao, cỏc biện phỏp phi thuế quan đó và đang phát
huy vai trũ của nú như một công cụ nhanh nhạy và hiệu quả trong việc
đảm nhận nhiệm vụ như một tấm lá chắn tiên phong bảo vệ những ngành
sản xuất non trẻ và nền kinh tế xó hội núi chung trước những biến động
không ngừng của thị trường thế giới.

1.2. Việc ỏp dụng mang tớnh phổ biến

Mặc dự thuế quan là cụng cụ bảo hộ hợp pháp duy nhất được WTO
thừa nhận nhưng hiện nay các NTM đang được áp dụng một cách phổ biến
trên thế giới, tại các nước dù hùng mạnh hay kém phát triển, để bảo hộ cho
nhiều lĩnh vực sản xuất từ giản đơn như sản xuất lúa gạo ở Philippin đến
phức tạp như sản xuất máy bay công nghệ cao tại Pháp.

1.3. Việc ỏp dụng mang tớnh dài hạn

Hiện đang tồn tại một nghịch lý là một mặt, các quốc gia trên thế
giới đang cố gắng loại bỏ dần các NTM thỡ mặt khỏc người ta lại không
24
ngừng sáng tạo ra các NTM mới như các NTM liên quan đến tiêu chuẩn

này cũn thấp. Thờm vào đó năng lực khoa học kĩ thuật và trỡnh độ quản lý
hạn chế đó gõy ra những khú khăn không nhỏ. Ví dụ như hiện nay, Việt
Nam không đủ điều kiện kiểm dịch để hạn chế nhập khẩu những hoa quả
tươi bị nghi là sử dụng chất bảo quản gây hại cho sức khỏe con người.

2.3. Lựa chọn đúng đắn lĩnh vực sản xuất cần bảo hộ

Là yếu tố quyết định đối với việc xây dựng hệ thống NTM. Do hạn
chế về nguồn lực, các nước không thể bảo hộ tất cả các ngành sản xuất nội
địa nhưng để chọn đúng các ngành cần được bảo hộ qủa thực không đơn
giản. Người ta sẽ phải cân nhắc đến nhiều yếu tố chủ quan và khách quan
về định hướng phát triển nền kinh tế nội địa, khả năng cạnh tranh của từng
ngành và xu thế phát triển trên thế giới bởi sau khi loại bỏ các NTM bảo
hộ, nhiều ngành sản xuất sẽ không thể đứng vững trong cuộc cạnh tranh
khốc liệt hiện nay.
Nói tóm lại, nhu cầu bảo hộ nền sản xuất trong nước đối với mỗi
quốc gia là nhu cầu không thể thiếu. Vỡ vậy, việc ỏp dụng cỏc biện phỏp
phi thuế quan là điều tất yếu đối với mọi nền kinh tế. Tuy nhiên, việc áp
dụng này cần được xem xét một cách cẩn thận, dựa trên các cơ sở khoa
học của nó và không được đi ngược lại với các cam kết quốc tế trên con
đường hội nhập.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status