TIỂU LUẬN: TÌNH HÌNH SỬ DỤNG LAO ĐỘNG Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NĂM 2010 - Pdf 10

Tiểu luận: Tình hình sử dụng lao động ở Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2010
1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ……

TIỂU LUẬN

TÌNH HÌNH SỬ DỤNG LAO ĐỘNG Ở
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NĂM 2010

Thành Phố Hồ Chí Minh làm cơ sở khoa học cho các nghiên cứu của đề tài. . Đánh giá
thực trạng lao động, việc làm, giải quyết việc làm cho lao động ở Thành Phố Hồ Chí
Minh làm rõ kết quả đạt được đồng thời nhận định đúng những tồn tại và khó khăn hiện
Tiểu luận: Tình hình sử dụng lao động ở Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2010
3

nay. . Đưa ra một số giải pháp nhằm giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho người lao
động trên địa bàn ở Thành Phố Hồ Chí Minh.
4. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tiểu luận tập trung nghiên cứu và phân tích các đối tượng lao động ở Thành
Phố Hồ Chí Minh.
5. Phương pháp nghiên cứu
Tiểu luận được tiến hành dựa trên các phương pháp nghiên cứu sau: phương pháp
duy vật biện chứng, phương pháp logic _ lịch sử, phương pháp trừu trượng hóa khoa học,
liên ngành, phương pháp phân tích, tổng hợp số liệu…
6. Phạm vi nghiên cứu:
Lao động trên toàn địa bàn Thành Phố Hồ Chí Minh trong năm 2010.
7. Kết quả nghiên cứu
Giúp các bạn hiểu rõ hơn về những biến động lao động tại Thành Phố Hổ Chí
Minh cũng như biết được xã hội cần gì và các bạn phải làm gì để ra trường có việc lảm
tốt .

Tiểu luận: Tình hình sử dụng lao động ở Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2010
5

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Khái niệm Người lao động
Người lao động là những người trong độ tuổi lao động theo pháp luật quy định – là
điểm chung của nhiều định nghĩa. Họ có cam kết lao động với chủ sử dụng lao động,
thường là nhận yêu cầu công việc, nhận lương và chịu sự quản lý của chủ lao động trong
thời gian làm việc cam kết. Kết quả lao động của họ là sản phẩm dành cho người khác sử
dụng và được trao đổi trên thị trường hàng hóa, sản phẩm chân tay thì giá trị trao đổi
thấp, sản phẩm trí óc thì giá trị trao đổi cao.
- Theo nghĩa rộng, người lao động là người làm công ăn lương. Công việc của
người lao động là theo thỏa thuận, xác lập giữa người lao động và chủ thuê lao động.
Thông qua kết quả lao động như sản phẩm vật chất, sản phẩm tinh thần cung cấp mà
người lao động được hưởng lương từ người chủ thuê lao động. Ở nghĩa hẹp hơn, người
lao động còn là người làm các việc mang tính thể chất, thường trong nông nghiệp, tiểu
thủ công nghiệp (cách hiểu này ảnh hưởng từ quan niệm cũ: phân biệt người lao động với
người trí thức).
- Theo Bộ Luật Lao động nước ta, người lao động là người đến tuổi lao động, có
khả năng lao động, đang có giao kết và thực hiện hợp đồng lao động với chủ sử dụng lao
động. Luật Lao động cũng quy định rõ ràng, cụ thể về các quyền và nghĩa vụ của người
lao động khi tham gia lao động, quy định về hợp đồng lao động, xử lý tranh chấp hợp
đồng lao động, các chế độ chính sách đãi ngộ, phúc lợi xã hội bắt buộc. (Link sang Luật
lao động)
- Từ góc độ kinh tế học, người lao động là những người trực tiếp cung cấp sức lao
động – một yếu tố sản xuất mang tính người và cũng là một dạng dịch vụ/ hàng hóa cơ
bản của nền kinh tế. Những người đang lao động là những người có cam kết lao động,
sản phẩm lao động đối với tổ chức, người khác.
Như vậy, để hiểu rõ về người lao động chúng ta phải xem xét các yếu tố gắn với
lao động của người lao động như: sự chuẩn bị năng lực lao động, cam kết và thực thi cam

Công nhân viên trong danh sách được chia thành ba loại:
 Lao động quản lý sản xuất kinh doanh
Tiểu luận: Tình hình sử dụng lao động ở Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2010
7

 Lao động trực tiếp sản xuất kinh doanh
 Lao động phục vụ sản xuất kinh doanh
1.2.5 Căn cứ vào chức năng của người lao động
Công nhân viên được chia thành các bộ phận sau: Công nhân, Thợ học nghề, Nhân
viên kỹ thuật, Nhân viên quản lý kinh tế, Nhân viên hành chính.
1.3 Độ tuổi lao động
Lứa tuổi có khả năng lao động, do nhà nước quy định, được thống kê để tính ra
nguồn lao động. Giới hạn tuổi lao động khác nhau ở mỗi quốc gia, được quy định theo
điều kiện kinh tế - xã hội, phong tục, tập quán, tâm lí, sinh lí con người. Ở Việt Nam:
 Nam 16 - 60 tuổi
 Nữ 16 - 55 tuổi.
Số người trong độ tuổi lao động thay đổi hàng năm tuỳ các yếu tố sinh, tử, di cư.
Độ tuổi lao động có thể chia ra thành các nhóm:
 Thanh niên (16 - 30 tuổi),
 Trung niên (31 - 45 tuổi)
 Già (trên 45 tuổi).
1.4 Đặc điểm của nguồn lao động Việt Nam trong nền Kinh Tế Thị
Trường
Trong nền kinh tế thị trường, nguồn nhân lực Việt nam có 6 đặc điểm nổi bật chủ
yếu sau:
- Nguồn nhân lực có quy mô lớn, tăng nhanh hàng năm.
- Nguồn nhân lực trẻ, tỷ lệ nam- nữ khá cân cân bằng.
- Cơ cấu nguồn nhân lực phân bổ chưa hợp lý giữa thành thị, nông thôn, giữa
vùng, miền lãnh thổ; giữa các ngành kinh tế và các thành phần kinh tế.
- Nguồn nhân lực có trình độ văn hoá, chuyên môn, kỹ thuật còn thấp, bố trí không

có thì không chính xác vì nhiều nguyên nhân. Ví dụ, biến trình độ học vấn là một biến
phản ánh không chính xác khả năng có thể đảm nhận được công việc của người lao động.
Thứ nhất, nó chỉ phản ánh hình thức đào tạo mà chưa đề cập tới những loại hình khác
như đạo tạo trong công việc, đào tạo ngắn hạn; Thứ hai, chất lượng giáo dục ở các
Tiểu luận: Tình hình sử dụng lao động ở Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2010
9

trường, vùng miền khác nhau là khác nhau; Thứ ba, những kiến thức học được ở trường
cũng chưa chắc đã phù hợp đối với công việc trong thực tế.
Biến kinh nghiệm làm việc, cũng là biến không được quan tâm trong một số cuộc
điều tra, vì vậy người ta phải sử dụng biến tuổi để thay thế, nhưng khi sử dụng biến này
chúng ta đã chấp nhận một giả định rằng người càng nhiều tuổi thì càng có kinh nghiệm,
nhưng điều này không đúng cho mọi trường hợp. Trong nghiên cứu đã sử dụng các biến
như trình độ học vấn để đánh giá khả năng của người lao động.
Những động lực khuyến khích một người đi làm cũng sẽ làm tăng khả năng tham gia thị
trường lao động của họ và do vậy ảnh hưởng tới khả năng có việc làm. Những nhân tố
thường cũng khó đo lường như: Thái độ của gia đình, cha mẹ, vợ, chồng đối với việc đi
làm của một cá nhân, mức thu nhập bình quân của những thành viên trong gia đình, hoặc
sống trong cảnh nghèo sẽ ít cơ hội mặc dù họ mong muốn điều này. Người nghèo sẽ ít có
cơ hội được học tập, đào tạo nghề, họ thiếu thông tin, khó có điều kiện di chuyển để tìm
việc làm cũng như dễ bị kỳ thị trên thị trường lao động.
Đối với người nghèo, các chương trình hỗ trợ tạo việc làm và dạy nghề có tác
động quan trọng tới khả năng có việc làm. Tuy nhiên, trong những hộ gia đình nghèo,
không có đất đai, vốn để sản xuất, cũng là động lực để tìm kiếm việc làm, nhưng phần
lớn họ chỉ tập trung vào những loại công việc lao động giản đơn.
1.5.2 Các biến quyết định cầu lao động:
Cơ hội một người có thể có việc làm hay không còn phụ thuộc rất nhiều vào tình
hình cầu lao động trên thị trường. Thị trường có nhiều cơ hội việc làm hay không? Người
lao động có thể dễ dàng di chuyển xa từ nơi này sang nơi khác để tìm kiếm việc làm
không? Người lao động có dễ dàng tiếp cận được với thông tin về việc làm hay không?

việc làm cao hơn ở những hộ gia đình không nghèo. Điều này có thể là do gia đình nghèo
thì động lực thúc đẩy các thành viên đi làm lớn hơn, mặt khác cũng phản ánh cơ cấu việc
làm hiện nay cũng phù hợp đối với người nghèo, phổ biến nhiều công việc lao động chân
tay, và việc làm trong khu vực phi kết cấu. Đối với nữ trong các gia đình nghèo, xác suất
có việc làm cao hơn một chút so với nam giới.
- Mức thu nhập bình quân đầu người hàng tháng của hộ gia đình càng tăng thì
càng làm giảm xác suất có việc làm của các thành viên, mức độ ảnh hưởng đối với nữ cao
hơn đối với nam, có thể do động lực phải tìm kiếm việc làm và đóng góp thu nhập giảm.
Tiểu luận: Tình hình sử dụng lao động ở Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2010
11

- Ở thành thị dễ kiếm việc làm hơn ở nông thôn, nam giới dễ kiếm việc làm ở
thành thị hơn là nữ giới.
- So sánh giữa các vùng kinh tế cho chúng ta thấy, so với vùng Đồng Bằng Sông
Hồng thì các vùng Đông Bắc, Tây Bắc, và Bắc Trung Bộ khả năng kiếm được công việc
được trả lương thấp hơn, trong khi đó các vùng như Duyên Hải Nam Trung Bộ, Tây
Nguyên, Đông Nam bộ và Đồng Bằng Sông Cửu Long lại cung cấp nhiều công việc làm
công ăn lương hơn, nhất là ở vùng Đông Nam Bộ. Cơ hội về việc làm ở các vùng giữa
nam và nữ có sự khác biệt đôi chút.
- So với vùng Đồng bằng sông Hồng, vùng Đông Bắc và Bắc Trung Bộ phụ nữ
khó kiếm việc làm hơn so với nam giới, nhưng ở vùng Tây Bắc nam giới lại khó kiếm
việc hơn. Cũng so với vùng Đồng bằng sông Hồng, vùng Đông Nam bộ và Đồng bằng
sông Cửu Long lại cung cấp nhiều việc làm hơn cho phụ nữ. Riêng vùng Tây Nguyên, so
với Đồng bằng sông Hồng, nam giới ít có khả năng trong khi nữ giới lại có nhiều khả
năng kiếm được việc làm hơn.
yếu là sức lao động; do đó việc tham gia vào thị trường lao động là tất yếu đối với nhiều
người để tồn tại. Việc làm giúp nhiều người có thu nhập để đáp ứng những nhu cầu cơ
bản như ăn, ở và nhiều nhu cầu khác.Năm 2009,lực lượng lao động tăng nhanh 49,3 triệu
người , chủ yếu là do sự gia tăng dân số trong thời kỳ này. Tuy nhiên, tỷ lệ tham gia lực
lượng lao động được xác định bằng lực lượng lao động so với dân số trong độ tuổi lao
động (từ 15 tuổi trở lên), cũng tăng 2,1 điểm phần trăm. Tỷ lệ này ở mức 76,5% năm
2009, đây là mức cao nếu xem xét ở góc độ quốc tế (tỷ lệ tham gia lực lượng lao động là
65,1% năm 2009. Tiểu luận: Tình hình sử dụng lao động ở Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2010
13

2.2 Thực trạng lao động ở Thành phố Hồ Chí Minh năm 2010
2.2.1 Đặc điểm lao động ở Thành phố Hồ Chí Minh năm 2010
Năm 2010: 275.000 lao động Thành phố Hồ Chí Minh có việc làm ổn định Trong
số này có khoảng 271.000 lao động được giải quyết việc làm và hơn 120.000 lượt người
có việc làm mới, là số liệu tổng kết của Trung tâm Dự báo và thông tin thị trường lao
động Thành phố Hồ Chí Minh sau khi tổng hợp cơ sở dữ liệu của 18.036 doanh nghiệp
tại Thành phố
Những ngành nghề được liệt kê hút lao động nhất năm 2010 bao gồm: dệt may -
da giày, nhựa - bao bì, dịch vụ - phục vụ, điện tử - viễn thông , marketing, bán hàng
Các ngành này sử dụng lao động phổ thông trong tổng nhu cầu tuyển dụng với cơ cấu
trình độ chuyên môn đạt hơn 56%. Riêng trình độ cao đẳng - đại học chiếm tỉ lệ hơn
19%, chủ yếu rơi vào lĩnh vực: công nghệ thông tin, xây dựng - kiến trúc, quản lý kinh
doanh - nhân sự, kiểm toán - kế toán; còn lại là đội ngũ lao động sơ cấp, trung cấp nghề.
Mặc dù được xem là năm không nhiều biến động và có xu hướng phát triển tốt
hơn năm 2009, thị trường lao động Thành phố Hồ Chí Minh năm 2010 vẫn tồn tại nhiều
nghịch lý khi độ chênh lệch giữa cung và cầu còn khá lớn, tình trạng vừa thừa vừa thiếu
lao động luôn được xem là một bài toán cần phải giải quyết một cách triệt để.

Diễn biến nhu cầu nhân lực tại Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy, trong 6 tháng
đầu năm 2010 là thời điểm kinh tế phục hồi và phát triển sau thời gian doanh nghiệp cắt
giảm nhiều lao động. Đây cũng là thời điểm vào dịp lễ và Tết nên sau Tết, nhu cầu của
các doanh nghiệp tập trung nhiều vào nguồn lao động phổ thông cho các hoạt động sản
xuất, dịch vụ thời vụ rất lớn.
Trong 6 tháng cuối năm, thị trường lao động thay đổi theo chiều hướng tích cực.
Các doanh nghiệp thiếu lao động phổ thông đã cải thiện chính sách tổ chức sản xuất kinh
doanh, tiền lương cùng nhiều chính sách phúc lợi khác, vì vậy nhu cầu lao động phổ
thông giảm dần, thay vào đó là nhu cầu về nguồn lao động có tay nghề và có trình độ
cao. Những ngành nghề có nhu cầu tuyển dụng cao vẫn là những ngành nghề của 6 tháng
đầu năm nhưng với yêu cầu về tay nghề và trình độ chuyên môn cao hơn.
Trong khi đó, nguồn cung nhân lực trong năm 2010 cũng diễn biến theo những
nghịch lý. Khi nguồn lao động phổ thông thiếu thì nguồn lao động có trình độ từ trung
Tiểu luận: Tình hình sử dụng lao động ở Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2010
15

cấp, cao đẳng, đại học trong một số ngành nghề lại chưa đáp ứng số lượng, chất lượng so
với nguồn cầu. Do đó, vẫn có hiện tượng thừa lao động có trình độ nhưng chưa đáp ứng
yêu cầu tuyển dụng và làm việc của doanh nghiệp.

Nhu cầu nhân lực về cơ cấu trình độ chuyên môn kỹ thuật
Thành phố Hồ Chí Minh năm 2010

Trình độ chuyên môn Tỷ lệ (%)
Tổng số nhu cầu nhân lực 100,00
- Trên Đại học 1,06
- Đại học 7,48
- Cao đẳng chuyên nghiệp, Cao đẳng nghề 5,35
- Trung cấp chuyên nghiệp, Trung cấp nghề 10,27
- Công nhân kỹ thuật lành nghề 30,67

35
40
Kế toán - Kiểm
toán
Quản lý nhân sự -
Hành chính văn
phòng
Marketing- Nhân
viên kinh doanh
Kho bãi - Vật tư -
Xuất nhập khẩu
Quản lý điếu hành
Chỉ số nguồn cung nhân lực ở Tp HCM
năm 2010 (%)
7.82
6.79
4.13
9
13.75
0
2
4
6
8
10
12
14

Ngành nghề có nhu cầu tuyển dụng tăng cao trong tháng 10 là: Nông nghiệp - Lâm
nghiệp - Thủy sản tăng 5 lần, Điện tử - Viễn thông tăng 3 lần, Tài chính - Ngân hàng tăng
1,92 lần.
Chỉ số nguồn cung nhân lực so với tháng 9, cho thấy một phần người tìm việc của
các tháng trước đã tìm được việc làm. Chỉ số cung, cầu tháng 10 thể hiện sự cân bằng
hơn. Những ngành nghề có chỉ số cung cao nhất vẫn là Kế toán - Kiểm toán (36,91%),
Quản lý nhân sự - Hành chính văn phòng (14,40%), Marketing - Nhân viên kinh doanh
(10,14%), Kho bãi - Vật tư - Xuất nhập khẩu (6,40%), Quản lý điều hành (5,00%).
Thị trường lao động bình ổn do các doanh nghiệp đang trong giai đoạn ổn định sản
xuất kinh doanh. Tuy vậy, các doanh nghiệp đang rất cần những nhà quản lý có trình độ,
kinh nghiệm và chuyên môn cao, trong khi đó trên 40% sinh viên mới tốt nghiệp năm
2010 vất vả tìm việc làm do chỗ làm việc chưa phù hợp, thiếu thông tin mặc dù các ngày
hội việc làm, các sàn giao dịch việc làm diễn ra thường xuyên và đa dạng . Riêng ngành
nghề Dệt - May - Giày da tình hình thiếu hụt lao động cho hoạt động sản xuất kinh doanh
cuối năm vẫn tiếp diễn, một số doanh nghiệp đăng tin tuyển dụng rất lâu và tình hình tiền
Tiểu luận: Tình hình sử dụng lao động ở Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2010
18

lương đã được cải thiện nhưng vẫn không tuyển đủ số lao động cần tuyển, đặc biệt là các
doanh nghiệp dệt may tư nhân trong nước. Người lao động có xu hướng chuyển sang làm
cho các doanh nghiệp dệt may của Nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
với mức lương trên 2.000.000 đồng/tháng và chế độ chính sách lao động ổn định.
Về cơ cấu trình độ nghề: Chỉ số nhu cầu tuyển dụng về trình độ lao động phổ thông
là 30,96% trong tháng 10/2010, giảm 29% so với nhu cầu tuyển dụng của tháng trước.
Các ngành có nhu cầu tuyển lao động phổ thông chủ yếu là các ngành cần nhiều lao động
thời vụ như: Bán hàng, Dịch vụ - Phục vụ, Mộc – Mỹ nghệ, Tư vấn – Bảo hiểm,
Marketing - Nhân viên Kinh doanh. Lao động có trình độ Đại học 17,29%, Cao đẳng –
Cao đẳng nghề 11,66%, Trung cấp – Trung cấp nghề 24,83%, Sơ cấp nghề 11,04%, Công
nhân kỹ thuật lành nghề 3,37%. Nguồn lao động chủ yếu mà doanh nghiệp cần tuyển là
lao động có trình độ và tay nghề. Đặc biệt, trình độ đại học và trên đại học lĩnh vực quản


STT

Ngành nghề Tỷ trọng
(%)
1
Công nghệ Thông tin – Viễn thông 7,75
2
Điện – Điện tử - Điện công nghiệp – Điện lạnh 6,82
3
Hóa – Hóa thực phẩm – Hóa chất – Hóa dầu 3,15
4

chuyên môn cao
Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị có nguồn nhân lực lớn nhất nước với khoảng 4,7
triệu người trong độ tuổi lao động, tổng số người có việc làm hiện vào khoảng 3,2 triệu
người. Ðội ngũ cán bộ khoa học - kỹ thuật có trình độ chuyên môn cao trên địa bàn
chiếm tới 30% so với cả nước. Số lao động đã qua đào tạo tăng từ 40% năm 2005 lên
55% năm 2010.
Thực hiện chương trình phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2006-2010 do Ðại hội
Ðảng bộ Thành phố lần thứ 8 đề ra, đến nay nguồn nhân lực Thành phố đã có bước phát
triển đáng kể. Ðội ngũ cán bộ công chức, khối hành chính sự nghiệp các cấp, các ngành
đã có hơn 138.000 lượt người được đào tạo, bồi dưỡng trong nước và gần 2.500 lượt
người được đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài.
Sở hữu nhiều thuận lợi để phát triển mạnh nguồn nhân lực, tuy vậy nguồn nhân
lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao vẫn thiếu và chưa đáp ứng được yêu cầu phát
triển kinh tế - xã hội của Thành phố . Dự báo trong những năm tới, tình trạng thiếu hụt
lao động chất lượng có thể sẽ càng trở nên trầm trọng hơn nếu không đưa ra được những
giải pháp hợp lý, nhất là giải pháp gắn kết giữa tuyển dụng và đào tạo.
Từ nhiều năm qua, vấn đề thiếu hụt lao động đã được đặt ra, tuy nhiên chưa bao
giờ Thành phố Hồ Chí Minh phải đối mặt với tình trạng thiếu lao động có trình độ
chuyên môn một cách nghiêm trọng như những năm gần đây do chỉ có 50% lao động mới
qua đào tạo. Đặc biệt lực lượng lao động có trình độ từ trung cấp, cao đẳng, đại học trong
một số ngành nghề còn rất ít ỏi, chất lượng chưa đạt so với yêu cầu. Tình trạng này xảy ra
nhiều nhất ở các ngành: quản lý điều hành, tin học, kế toán, nhân sự - hành chính văn
phòng, tài chính - ngân hàng
Bên cạnh khu vực trung tâm, tại các vùng ngoại ô Thành phố , tình trạng khan
hiếm lao động chất lượng càng trầm trọng hơn. Theo thống kê của Sở Nội vụ Thành phố
Hồ Chí Minh, tại 5 huyện ngoại thành của Thành phố bao gồm Hóc Môn, Củ Chi, Cần
Giờ, Bình Chánh và Nhà Bè đang thiếu hụt nguồn lao động chất lượng cao trên nhiều lĩnh
Tiểu luận: Tình hình sử dụng lao động ở Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2010
21


22

ngành nghề chuyên môn với các tiêu chuẩn quốc tế và khu vực. Vì vậy yêu cầu người lao
động phải tự học tập trang bị, nâng cao trình độ nghề và các kỹ năng nghề.
5. Sự thay đổi tích cực về nhận thức và biện pháp đào tạo gắn liền với sử dụng
lao động và cân đối theo trình độ chuyên môn, cân đối ngành nghề để thực hiện việc
chuyển dịch cơ cấu kinh tế đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
6. Mức độ dịch chuyển lao động, thay đổi chỗ làm việc của Thành phố vẫn ở
mức độ cao từ 25% đến 30% tổng nguồn nhân lực đang làm việc. Hình thức việc làm bán
thời gian phát triển nhanh, đa dạng ngành nghề
7. Hạn chế về công tác quản lý nguồn nhân lực và Thành phố vẫn chưa tổ chức
được hệ thống dự báo nhu cầu nhân lực và thông tin thị trường lao động một cách đầy đủ
và chuẩn xác. Chính từ việc chưa thực hiện được tốt công tác cụ thể về số lượng ngành
nghề, trình độ, kỹ năng của lực lượng lao động và chưa thực hiện được việc thống kê,
phân tích nhu cầu nhân lực của nhà tuyển dụng nên đào tạo chưa định hướng và chưa gắn
với nhu cầu của thị trường lao động; người lao động tìm việc làm thiếu thông tin về việc
làm, người sử dụng lao động thiếu thông tin về cung - cầu lao động ảnh hưởng đến đầu
tư sản xuất – kinh doanh và phát triển nguồn nhân lực Thành phố
Sự mất cân đối trong việc đào tạo nguồn nhân lực và nhu cầu thực tế của xã Hội .
Bởi hiện có trên 60% sinh viên theo học các ngành kinh tế trong khi định hướng phát
triển kinh tế-xã hội của Thành phố (năm 2011 đến 2015) tập trung vào các nhóm ngành
kỹ thuật (cơ khí, điện tử, tin học; hóa chất và chế biến lương thực-thực phẩm), cùng với
đó là các nhóm dịch vụ (tài chính-tín dụng-ngân hàng-bảo hiểm; thương mại; vận tải; kho
bãi; bưu chính viễn thông và công nghệ thông tin-truyền thông ; kinh doanh tài sản-bất
động sản; dịch vụ tư vấn; khoa học-công nghệ; du lịch; y tế; giáo dục-đào tạo). Điều này
cũng đồng nghĩa với việc Thành phố đang cần một nguồn nhân lực dồi dào về các ngành
nghề kỹ thuật, sản xuất
Tại Thành phố Hồ Chí Minh, tổng số sinh viên các trường Đại học và Cao đẳng
tốt nghiệp ra trường hàng năm tại Thành phố có 55.000 – 60.000 người bao gồm các
ngành nghề chuyên môn kỹ thuật chiếm 40%, các ngành nghề chuyên môn quản lý -

các doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ phát triển năng động, tăng quy mô, quan tâm đến chính
sách phát triển nhân lực, đây là môi trường phù hợp với đa số người lao động là sinh
viên, học sinh mới ra trường còn thiếu kinh nghiệm và kỹ năng nghề. Các trường đào tạo
Tiểu luận: Tình hình sử dụng lao động ở Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2010
24

nghề cũng trong quá trình chuyển đổi, tạo gắn kết đào tạo với doanh nghiệp đào tạo theo
nhu cầu xã hội và hoàn thiện các tiêu chuẩn đào tạo nghề là điều kiện thuận lợi để người
lao động học nghề, tìm việc mới hoặc tái đào tạo nghề gắn nhu cầu việc làm.
2.3 Các chính sách đãi ngộ của Thành phố về việc sử dụng lao động
Chương trình phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
Nhằm đáp ứng nhu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa và hội nhập
sâu hơn vào nền kinh tế thế giới, giai đoạn tới Thành phố sẽ tập trung đầu tư vào các
nhóm đối tượng đặc biệt, có vai trò quyết định và tạo sự đột phá trong phát triển nhân lực
và phát triển kinh tế - xã hội. Trong giai đoạn 2010 đến 2015 sẽ ưu tiên phát triển nhân
lực đủ để cung cấp cho những ngành có hàm lượng công nghệ, giá trị gia tăng cao.
Xuất phát từ thực tiễn, nhu cầu đào tạo nhân lực kỹ thuật nghiệp vụ trung cấp phải đạt
đến nửa triệu người vào năm 2020. Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo phải đạt 70% vào năm
2015 và 80% vào năm 2020 trong đó lao động ở bốn ngành công nghiệp và chín ngành
dịch vụ trọng điểm phải đạt 100%.
Ông Nguyễn Thành Tài - Phó Chủ tịch Thường trực UBND Thành phố Hồ Chí
Minh cho biết để đạt được mục tiêu trên, Thành phố sẽ có những chính sách ưu đãi riêng
để thu hút nhân tài, tạo điều kiện, môi trường thuận lợi để người lao động phát huy năng
lực của mình. Chính sách đãi ngộ đối với người tài là một chính sách lâu dài, cần có lộ
trình cụ thể, từng bước để họ gắn bó lâu dài với Thành phố và ra sức cống hiến. Một giải
pháp quan trọng trong công tác đào tạo nhân lực có trình độ, chuyên môn là phải tăng
cường hợp tác, liên kết giữa các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và
các trung tâm dạy nghề với các đơn vị sản xuất, tổ chức, doanh nghiệp trên địa bàn Thành
phố nhằm nâng dần tính tương thích giữa đào tạo và sử dụng lao động. Để tăng cường sự
hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp, Thành phố Hồ Chí Minh sẽ xem xét và tiến tới

Trích đoạn Nâng cao hiệu quả quản lí của nhà nước:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status