Lời nói đầu
Việc chuyển mình từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước là một tất yếu khách quan. Nền
kinh tế này buộc các doanh nghiệp phải tự lo liệu các hoạt động sản xuất, kinh
doanh của mình từ việc đầu tư vốn, tổ chức kinh doanh đến tiêu thụ sản phẩm. Do
đó, cạnh tranh để tồn tại là điều không thể tránh khỏi. Bởi vậy, các doanh nghiệp
phải năng động, biết tận dụng thế mạnh của mình và phải biết chớp thời cơ để sản
xuất kinh doanh có hiệu quả và không ngừng nâng cao vị thế của mình trên thị
trường.
Tự chuyển mình và thay đổi hoàn toàn để thích nghi được với môi trường và
không ngừng phát triển đó là một quy luật tất yếu đối với doanh nghiệp khi bước
chân vào nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên, để làm được điều đó thì đòi hỏi mọi
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phải thu được lợi nhuận. Lợi
nhuận đã trở thành nền tảng cho sự phát triển và tồn tại của mỗi doanh nghiệp, lợi
nhuận được coi là một tiêu chí quan trọng, và là mục tiêu cuối cùng mà tất cả các
doanh nghiệp đều hướng tới.
Có lợi nhuận, doanh nghiệp mới có thể đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh,
nâng cao đời sống cho cán bộ công nhân viên trong đơn vị, đảm bảo khả năng thanh
toán và tạo nguồn tích luỹ quan trọng cho nền kinh tế. Có lợi nhuận, doanh nghiệp
sẽ có khả năng chiếm lĩnh thị trường, đánh bại các đối thủ cạnh tranh và khẳng định
được vị trí của mình. Vì vậy có thể khẳng định, lợi nhuận có vai trò rất quan trọng
đối với mọi đơn vị sản xuất kinh doanh, nó đã và đang trở thành mục tiêu hàng đầu
của bất kỳ một doanh nghiệp nào trong nền kinh tế thị trường.
Trong thời gian thực tập tại Công ty đầu tư hạ tầng khu công nghiệp và đô thị
số 18, với kiến thức bản thân trong suốt 4 năm học tại trường Đại học Thương mại
và đặc biệt là sự giúp đỡ nhiệt tình của các cô, các chú trong phòng tài chính – kế
Trang 1
toán; em đã được tìm hiểu về tình hình tài chính, kế toán ở công ty. Công ty đầu tư
hạ tầng khu công nghiệp và đô thị số 18 thuộc Tổng công ty đầu tư và phát triển nhà
Hà nội là một doanh nghiệp nhà nước hạch toán độc lập. Đơn vị với cơ sở vật chất
kỹ thuật tương đối hiện đại, đội ngũ cán bộ và công nhân viên được đánh giá là có
I/ LỢI NHUẬN VÀ VAI TRÒ CỦA LỢI NHUẬN ĐỐI VỚI CÁC DOANH
NGHIỆP(DN).
1. Nguồn gốc lợi nhuận:
Theo sự phát triển chung của nhân loại thì có rất nhiều quan điểm khác nhau về
nguồn gốc của lợi nhuận.
Trường phái trọng nông với việc đánh giá cao vai trò của ngành nông nghiệp và
coi nó là lĩnh vực duy nhất trong xã hội tạo ra của cải. Ở đây, tiền lương công nhân
là thu nhập theo lao động còn sản phẩm ròng là thu nhập của nhà tư bản gọi là lợi
nhuận. Vậy lợi nhuận là thu nhập không lao động do công nhân tạo ra.
Trường phái trọng thương cho rằng: “ Lợi nhuận được tạo ra trong lĩnh vực lưu
thông. Lợi nhuận thương nghiệp là kết quả của sự trao đổi không ngang giá, do sự
lừa gạt mà có. Còn lĩnh vực nông nghiệp và công nghiệp, trừ khai thác vàng bạc,
đều không tạo ra lợi nhuận”.
C.Mác gọi AdamSmith là nhà lí luận tổng hợp thời kỳ công trường thủ công tư
bản chủ nghĩa. Theo A.Smith, lợi nhuận là khoản khấu trừ thứ hai trong sản phẩm
của người lao động( có nguồn gốc là lao động không được trả công của công nhân).
Nhưng mặt khác, ông lại cho rằng lợi nhuận là khoản thưởng cho sự mạo hiểm của
nhà tư bản hoặc là khoản thưởng cho lao động của tư bản.
Trang 4
Theo A.Smith, qui mô của tư bản quyết định qui mô của lợi nhuận. Ông đã
nghiên cứu mối quan hệ giữa lợi tức và lợi nhuận và cho rằng lợi tức là một bộ phận
của lợi nhuận mà nhà tư bản hoạt động bằng tiền đi vay phải trả cho chủ của nó để
được sử dụng tư bản. A.Smith đã nhìn thấy xu hướng bình quân hoá tỉ suất lợi
nhuận và xu hướng tỉ suất lợi nhuận giảm sút do khối lượng tư bản đầu tư tăng lên.
Và ông cũng nhận ra được mối quan hệ đối kháng giữa lợi nhuận và tiền lương.
Tăng lương không làm tăng lợi nhuận mà ngược lại nó làm giảm lợi nhuận; và
ngược lại giảm lương sẽ làm tăng lợi nhuận và đằng sau đó là mối quan hệ giữa hai
giai cấp vô sản và tư sản.
Tuy nhiên, A.Smith vẫn còn có hạn chế trong lí luận lợi nhuận của mình như
không thấy được sự khác nhau giữa giá trị thặng dư và lợi nhuận. Và ông cho rằng
trước mang hình thái chuyển hoá là lợi nhuận khi m chuyển thành p; (C+V) chuyển
thành k thì khi đó giá trị của hàng hoá là = k+p. Trong đó, C là tư bản bất biến là là
bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thức nguyên vật liệu, máy móc thiết bị; V là tư bản
khả biến là bộ phận tư bản dùng để mua sức lao động; m là giá trị thặng dư là giá trị
do người lao động tạo ra mà không được trả công; (C+V) = k là chi phí sản xuất tư
bản chủ nghĩa.
Qua đây, ta thấy lợi nhuận đã che đậy quan hệ bóc lột tư bản chủ nghĩa bởi vì
lợi nhuận được so với k =(C+V) và như vậy thì lợi nhuận được coi là con đẻ của k
nhưng thực chất lợi nhuận là biểu hiện bề ngoài của m mà m do V tạo ra cho nên p
cũng do V tạo ra chứ không phải là k.
Quan điểm của C.Mác về tư bản thương nghiệp là không tạo ra giá trị thặng
dư nhưng nó được phân phối lợi nhuận bởi nó đã làm việc cho nhà tư bản. Theo
C.Mác, lợi nhuận thương nghiệp là một bộ phận của giá trị thặng dư do công nhân
sản xuất tạo ra mà nhà tư bản công nghiệp “ nhường” cho nhà tư bản thương nghiệp.
Nhà tư bản thương nghiệp không phải bán hàng hoá cao hơn giá trị thì mới có lợi
Trang 6
nhuận mà vì họ mua hàng hoá thấp hơn giá trị. Vậy lợi nhuận thương nghiệp là sự
chênh lệch giữa giá bán và giá mua của thương nghiệp và nó cũng tuân theo quy luật
tỷ suất lợi nhuận do cạnh tranh.
Tóm lại, kể từ khi xuất hiện hoạt động sản xuất kinh doanh thì lợi nhuận
không chỉ là cái đích của mỗi doanh nghiệp mà nó còn trở thành đề tài nghiên cứu,
tranh luận của nhiều trường phái, nhiều nhà lý luận kinh tế. Mọi học thuyết, mọi
nghiên cứu của họ tuy còn có hạn chế nhưng tất cả đều cố gắng chỉ cho mọi người
thấy rõ nguồn gốc của lợi nhuận trong nền kinh tế.
2. Khái niệm lợi nhuận của DN:
Từ khi nước ta chuyển từ quan hệ bao cấp sang quan hệ hạch toán kinh tế hay
nói cách khác là chuyển từ quan hệ theo chiều dọc từ trên xuống sang quan hệ theo
chiều ngang mà trong đó mỗi DN là đơn vị hạch toán kinh tế độc lập. Điều kiện tiền
đề thực hiện quá trình chuyển đổi này là phân định rõ quyền sở hữu và quyền sử
dụng về tài sản và thực hiện quyền này về mặt kinh tế tức là các DN quốc doanh vẫn
Nền kinh tế thị trường là một nền kinh tế mở cộng với cơ chế hạch toán kinh
doanh thì phạm vi kinh doanh của DN ngày càng được mở rộng. Do đó mà DN có
thể đầu tư vào nhiều hoạt động thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau. Về cơ bản hoạt
động kinh doanh của DN bao gồm:
- Hoạt động SXKD: là các hoạt động như sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, hàng
hoá, dịch vụ của các ngành sản xuất kinh doanh chính, phụ.
Trang 8
- Hoạt động tài chính: là hoạt động đầu tư tài chính ngắn hạn, dài hạn nhằm
một mục đích là kiếm lời như góp vốn liên doanh, liên kết, đầu tư chứng
khoán, cho thuê tài sản, cho vay vốn, hay mua bán ngoại tệ....
- Hoạt động khác: là các hoạt động ngoài hoạt động kinh doanh ở trên. Nó diễn
ra không thường xuyên, không dự tính trước hoặc có dự tính nhưng ít có khả
năng xảy ra ví như các việc thanh lý, nhượng bán tài sản cố định, giải quyết
tranh chấp, vi phạm hợp đồng kinh tế; xử lý tài sản thừa, thiếu chưa rõ
nguyên nhân...
Căn cứ vào các hoạt động kinh doanh của DN mà lợi nhuận thu được cũng đa
dạng theo phương thức đầu tư của mỗi DN. Lợi nhuận của DN thường được kết cấu
như sau:
3.1. Lợi nhuận kinh doanh: đây là bộ phận lợi nhuận được cấu thành bởi lợi
nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hoá dịch vụ và lợi nhuận từ
hoạt động tài chính.
- Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ: tuỳ theo từng
phương thức, từng hoạt động đầu tư mà DN xác định đâu là lợi nhuận từ hoạt
động sản xuất kinh doanh hàng hoá dịch vụ. Lợi nhuận thu được từ hoạt
động sản xuất kinh doanh được hình thành từ việc thực hiện chức năng và
nhiệm vụ chủ yếu của doanh nghiệp. Những nhiệm vụ này được nêu trong
quyết định thành lập doanh nghiệp. Bộ phận lợi nhuận này thường chiếm tỷ
trọng tương đối trong tổng lợi nhuận của mỗi doanh nghiệp.
- Lợi nhuận từ hoạt động tài chính: ngoài lĩnh vực sản xuất kinh doanh, các
DN còn có thể tham gia vào các hoạt động tài chính. Hoạt động tài chính là
không điều đó phụ thuộc vào việc DN hoạt động có hiệu quả hay không? Qua đây,
vai trò của lợi nhuận được bộc lộ rõ nét hơn không chỉ là duy trì sự tồn tại, phát
triển của DN mà bên cạnh đó còn giúp cải thiện hơn nữa đời sống cho người lao
động và góp phần vào sự phát triển chung của nền kinh tế quốc dân.
Trang 10
4.1. Lợi nhuận đối với doanh nghiệp.
Lợi nhuận vừa là mục tiêu, vừa là động lực, vừa là điều kiện tồn tại và phát
triển của doanh nghiệp. Trong điều kiện hạch toán kinh doanh theo cơ chế thị
trường hiện nay, bất kỳ một DN nào muốn tồn tại và phát triển được thì hoạt động
sản xuất kinh doanh phải mang lại hiệu quả nghĩa là kinh doanh phải có lãi. Các DN
lúc này phải độc lập, tự chủ, chịu trách nhiệm hoàn toàn trước mọi hoạt động sản
xuất kinh doanh, thực hiện nguyên tắc lấy thu bù chi và đảm bảo có lãi. Để có thể
tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, DN phải bỏ ra những chi phí ban đầu như:
chi phí nguyên vật liệu, lao động, máy móc, đất đai, vốn...Đồng thời để hoạt động
sản xuất kinh doanh được diễn ra liên tục thì hoạt động đó phải có thu nhập để bù
đắp được chi phí bỏ ra và phải có lợi nhuận để tái đầu tư trở lại. Nếu hoạt động kinh
doanh không có lợi nhuận thì DN đó sẽ lâm vào tình trạng suy thoái và có thể dẫn
đến phá sản.
Ngoài ra, lợi nhuận còn là chỉ tiêu cơ bản để đánh giá hiệu quả sản xuất kinh
doanh của DN. Lợi nhuận cũng chính là thang điểm để DN tự đánh giá kết quả hoạt
động của mình. Từ khâu đầu tiên là nghiên cứu thị trường, tìm kiếm sản phẩm, tiến
hành sản xuất, cho đến phân phối và tiêu thụ sản phẩm.
Hoạt động của DN trong nền kinh tế thị trường là nhằm đạt tới mục tiêu lợi nhuận
trong khuôn khổ của pháp luật. Xuất phát từ mục tiêu đó, trong mọi hoạt động sản
xuất kinh doanh các DN luôn tìm cho mình một con đường riêng tối ưu để có thể
thoả mãn cao nhất nhu cầu của thị trường và đạt đến lợi nhuận tối đa. Tóm lại, động
lực lợi nhuận đã giúp các DN không những tự hoàn thiện mình hơn mà còn thúc đẩy
họ hoạt động ngày càng mở rộng. Và một lần nữa có thể khẳng định, lợi nhuận
chính là tiền đề vật chất giúp DN tồn tại và phát triển, giúp mở rộng quy mô kinh
doanh.
Trang 12
điều kiện để Nhà nước thực hiện vai trò to lớn của mình trên các mặt văn hoá, kinh
tế, chính trị và xã hội.
Tóm lại, lợi nhuận có vai trò rất quan trọng không những đối với sự tồn tại
và phát triển của doanh nghiệp mà còn đối với cả người lao động. Mỗi doanh nghiệp
với tư cách là một tế bào của cơ thể sống là nền kinh tế, thì doanh nghiệp có mạnh
thì nền kinh tế mới vững được. Điều đó phụ thuộc vào việc doanh nghiệp hoạt động
có thu được lợi nhuận hay không. Qua đây, ta thấy lợi nhuận cũng có vai trò quan
trọng đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân, bởi lợi ích của mỗi doanh nghiệp bao
giờ cũng gắn liền với lợi ích của Nhà nước, của toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
II/ PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH VÀ PHÂN PHỐI LỢI NHUẬN CỦA
DOANH NGHIỆP
1. Phương pháp xác định lợi nhuận.
Như chúng ta đã biết, lợi nhuận của mỗi doanh nghiệp bao gồm nhiều bộ phận
khác nhau do hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là đa dạng và phong
phú. Vì vậy mà mỗi bộ phận lợi nhuận thu được từ những hoạt động khác nhau thì
sẽ có phương pháp xác định khác nhau.
1.1. Đối với hoạt động kinh doanh.
1.1.1. Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hoá dịch vụ .
= -_ _
Trang 13
Lợi nhuận từ hoạt động
sản xuất kinh doanh hàng
hoá dịch vụ
Doanh
thu bán
hàng
Chi phí
kinh doanh
tiêu thụ trong
kỳ
CPQLDN phân
bổ cho hàng
tiêu thụ trong
kỳ
Lợi nhuận từ hoạt
động tài chính
Doanh thu từ hoạt
động tài chính
Chi phí từ hoạt
động tài chính
+ Lợi tức cổ phiếu.
+ Lãi tiền gửi ngân hàng hoặc lãi cho vay các đối tượng khác.
+ Thu từ hoạt động kinh doanh chứng khoán( chênh lệch giá mua bán tín
phiếu, trái phiếu, cổ phiếu).
+ Thu từ việc cho thuê tài sản.
+ Chiết khấu thanh toán được hưởng khi mua.
+ Doanh thu tài chính khác...
- Chi phí hoạt động tài chính là các khoản chi phí đầu tư tài chính ra ngoài doanh
nghiệp, nhằm sử dụng hợp lý các nguồn vốn, tăng thêm thu nhập và nâng cao hiệu
quả kinh doanh của doanh nghiệp. Các khoản chi phí này bao gồm:
+ Chi phí thực hiện hoạt động liên doanh liên kết( không bao gồm phần vốn
góp liên doanh).
+ Chi phí cho thuê tài sản.
+ Chi phí mua bán các loại chứng khoán, kể cả các tổn thất trong đầu tư (nếu
có).
+ Chiết khấu thanh toán dành cho khách hàng.
+ Chi phí lập dự phòng giảm giá chứng khoán.
+ Chi phí tài chính khác.
Phân phối lợi nhuận là một khâu không thể thiếu sau khi doanh nghiệp đã hoạt
động có lãi. Phân phối lợi nhuận trong doanh nghiệp không chỉ đơn thuần là việc
phân chia số tiền lãi thu được. Mà việc phân phối này còn phải đảm bảo nguyên tắc
giải quyết hài hoà mối quan hệ lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và công nhân
viên. Doanh nghiệp cũng phải dành phần thích đáng lợi nhuận để lại để giải quyết
các nhu cầu sản xuất kinh doanh của mình, đồng thời chú trọng đảm bảo lợi ích của
các thành viên trong đơn vị.
Tổng lợi nhuận mà doanh nghiệp thu được về ngoài việc nộp thuế, bù đắp chi
phí thiếu hụt trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh như chi phí nguyên
nhiên vật liệu, chi phí thuê sử dụng máy thi công.., chia liên doanh liên kết...thì phần
còn lại sẽ được trích lập vào các quỹ DN. Các DN khác nhau thì tỷ lệ trích lập các
quỹ là khác nhau nhưng cùng chung một mục đích là:
- Quỹ đầu tư phát triển được trích lập nhằm cải tiến, hiện đại hoá TSCĐ đáp
ứng yêu cầu phát triển sản xuất kinh doanh; đầu tư cho việc phát triển thị
trường và sản phẩm mới; bổ sung nhu cầu vốn lưu động tăng thêm...
- Quỹ dự phòng tài chính được trích lập nhằm để bù đắp những thiệt hại, tổn
thất do những rủi ro bất khả kháng trong hoạt động sản xuất kinh doanh đưa
đến...
- Quỹ khen thưởng, phúc lợi là một quỹ khuyến khích vật chất, nhằm nâng cao
hơn nữa về đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động giúp nâng cao
tinh thần trách nhiệm của họ đối với công việc. Quỹ này dùng để khen
thưởng định kỳ hay đột xuất cho tập thể và cá nhân; hay dùng để xây dựng
các công trình phúc lợi phục vụ đời sống và cải thiện điều kiện sinh hoạt,
chăm lo sức khoẻ cho lao động trong doanh nghiệp.
Trang 18
III/ CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ LỢI NHUẬN.
Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp có đứng vững hay không điều đó
tuỳ thuộc vào việc doanh nghiệp có tạo ra được lợi nhuận hay không. Lợi nhuận là
một chỉ tiêu phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp, là nguồn quan trọng để
doanh nghiệp tái đầu tư mở rộng sản xuất. Trên phạm vi xã hội, lợi nhuận là nguồn
3. Tỷ suất lợi nhuận/vốn kinh doanh.
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn kinh doanh là một chỉ tiêu tương đối phản ánh
quan hệ tỷ lệ giữa tổng lợi nhuận và tổng vốn kinh doanh sử dụng bình quân trong
kỳ.
= xx 100
Chỉ tiêu này cho thấy hiệu quả sử dụng vốn nghĩa là cứ 100 đồng vốn đem
đầu tư vào sản xuất kinh doanh thì sẽ thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Doanh
nghiệp sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư hay không đều được biểu hiện qua con số
này và thông qua đó giúp doanh nghiệp nắm bắt được tình hình sử dụng vốn cũng
như có biện pháp quản lý chặt chẽ sao cho vốn được sử dụng có hiệu quả nhất nhằm
tối đa hoá lợi nhuận.
4. Tỷ suất lợi nhuận/chi phí.
Trang 20
Tỷ suất lợi nhuận trên
vốn kinh doanh
Tổng lợi nhuận trong kỳ
Vốn kinh doanh bình quân trong kỳ
Tỷ suất lợi nhuận trên chi phí là chỉ tiêu tương đối phản ánh quan hệ tỷ lệ giữa
tổng lợi nhuận với tổng chi phí kinh doanh trong kỳ.
= x 100
Qua chỉ tiêu này cho thấy cứ 100 đồng chi phí bỏ ra thì mang lại bao nhiêu
đồng lợi nhuận cho doanh nghiệp mình. Chỉ tiêu này giúp doanh nghiệp nắm được
tình hình sử dụng chi phí trong đơn vị tiết kiệm hay lãng phí để từ đó đề ra biện
pháp quản lý sao cho có hiệu quả.
IV/ CÁC BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO LỢI NHUẬN.
Trong kinh doanh, lợi nhuận có ý nghĩa rất lớn đối với hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Bởi có lợi nhuận chứng tỏ doanh nghiệp đã hoàn
thành được kế hoạch của mình; có lợi nhuận chứng tỏ doanh nghiệp sẽ thực hiện
được nghĩa vụ đối với Nhà nước...Tuy nhiên, liệu doanh nghiệp có đạt được mức lợi
nhuận như đã đề ra hay không là còn phụ thuộc vào từng biện pháp cũng như kế
nhưng để có được khoản tiền đó thì doanh nghiệp phải trả cho người cho vay một
khoản tiền gọi là lãi vay.
Lãi vay phải được tính trên cơ sở tiền gốc, lãi suất và thời gian vay. Vì vậy,
lãi suất phần nào quyết định đến số tiền lãi vay phải trả. Nếu số tiền phải trả này lớn
thì lợi nhuận trong đơn vị sẽ giảm và ngược lại.
1.1.3. Thị trường và cạnh tranh:
Thị trường có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của doanh nghiệp bởi muốn
tồn tại và phát triển thì sản phẩm của doanh nghiệp phải đáp ứng được các nhu cầu
của người tiêu dùng. Mọi biến động về cung cầu trên thị trường đều có ảnh hưởng
Trang 22
tới khối lượng sản phẩm, hàng hoá mà doanh nghiệp định cung ứng . Vì vậy, doanh
nghiệp phải định hướng nhu cầu cho khách hàng tiềm năng đối với sản phẩm hiện
có và các sản phẩm mới. Mặt khác, doanh nghiệp cần quan tâm tới khả năng của các
đối thủ cạnh tranh, của những sản phẩm thay thế cho những sản phẩm của doanh
nghiệp bởi cạnh tranh là yếu tố không thể bỏ qua khi nhắc đến thị trường. Cạnh
tranh là một yếu tố khách quan mà mọi DN đều phải đối mặt. Cạnh tranh xảy ra
giữa các đơn vị cùng sản xuất kinh doanh một sản phẩm hàng hoá, hay những sản
phẩm có thể thay thế lẫn nhau làm ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp.
Cạnh tranh nhiều khi tạo ra những yếu tố tích cực giúp doanh nghiệp phát triển
nhưng nhiều khi chính nó là nguyên nhân dẫn đến tình trạng doanh nghiệp bị suy
thoái, phá sản. Vì vậy, mỗi một doanh nghiệp khi bắt tay vào thực hiện một vấn đề
gì cần nghiên cứu kỹ thị trường kèm theo các yếu tố cạnh tranh vốn có của nó để
tránh tình trạng bị “ cá lớn nuốt cá bé”.
1.1.4. Tình hình kinh tế, chính trị, xã hội:
Một đất nước mà tình hình kinh tế, chính trị, xã hội ổn định không có khủng
bố, chiến tranh...thì sẽ tạo ra một môi trường tốt kích thích doanh nghiệp sản xuất
kinh doanh có hiệu quả. Ngược lại, sẽ tạo ra những bất lợi ảnh không nhỏ đến mọi
kế hoạch trong kinh doanh của DN. Và nó sẽ làm cho lợi nhuận có xu hướng giảm.
1.1.5. Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật:
Một khi khoa học ngày càng tiến bộ thì đòi hỏi các doanh nghiệp cũng phải
doanh nghiệp dành được thời cơ trong kinh doanh, có điều kiện mở rộng thị trường
từ đó tạo điều kiện cho doanh nghiệp tăng doanh thu và tăng lợi nhuận.
Trang 24
1.2.3. Về trình độ quản lý chi phí sản xuất kinh doanh:
Chi phí sản xuất kinh doanh là những khoản chi phí phát sinh liên quan đến
mọi hoạt động trong doanh nghiệp, liên quan đến việc sử dụng các yếu tố đầu vào
có hiệu quả hay không. Chi phí là một nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận
bởi nếu chi phí được sử dụng một cách tiết kiệm và có hiệu quả thì lợi nhuận sẽ đạt
tối đa còn nếu không sẽ ngược lại. Vì vậy, vấn đề đặt ra với mỗi doanh nghiệp là phải
xác định mức ảnh hưởng của các nhân tố tới chi phí để từ đó có những biện pháp sử
dụng chi phí hợp lý góp phần tăng lợi nhuận.
1.2.4. Chất lượng sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ :
Cạnh tranh là điều tất yếu khi mà trên thị trường có trăm người bán có vạn
người mua. Để có thể cạnh tranh được thì sản phẩm, hàng hoá dịch vụ mà doanh
nghiệp cung ứng ra thị trường phải đạt chất lượng cao và được người tiêu dùng chấp
nhận. Chất lượng là yếu tố ảnh hưởng tới lợi nhuận và nó giữ vai trò quyết định đến
khối lượng sản phẩm, hàng hoá dịch vụ sẽ tiêu thụ ra thị trường. Khi doanh nghiệp
sản xuất ra được những sản phẩm, hàng hoá có chất lượng cao thì mức tiêu thụ cũng
sẽ cao và doanh thu cũng như lợi nhuận về doanh nghiệp sẽ tăng.
2. Các biện pháp nhằm nâng cao lợi nhuận:
Thông qua vai trò của lợi nhuận, chúng ta thấy lợi nhuận có ý nghĩa vô cùng
quan trọng không chỉ đối với doanh nghiệp mà còn đối với toàn xã hội. Chính vì
vậy, phấn đấu tăng lợi nhuận trên cơ sở phân tích kỹ các nhân tố ảnh hưởng tới nó
đang là vấn đề được mỗi doanh nghiệp đặt lên hàng đầu.
2.1. Tăng số lượng và nâng cao chất lượng sản phẩm tiến tới tăng doanh thu:
Trang 25