LUẬN VĂN: Học thuyết của Mác, xem xét tới vai trò của lợi nhuận pot - Pdf 11

LUẬN VĂN:

Học thuyết của Mác, xem xét tới
vai trò của lợi nhuận

LờI NóI Đầu

Sự phát triển của Việt Nam cũng như của các nước Xã Hội Chủ Nghĩa (XHCN) khác
được đánh dấu bằng sự chuyển hướng trong tư tưởng,nhận thức của các Đảng va Nhà
Nước về Chủ Nghĩa Xã Hội(CNXH) và con đường đi lên CNXH.ở Việt Nam,từ sau

quan trọng trong công cuộc xây dựng CNXH ở nước ta.
Hơn nữa,do những hạn chế về mặt lịch sử cho nên dù các học thuyết này có đúng đến
mấy cũng luôn đòi hỏi phải được vận dụng một cách hợp lý vào điều kiện hoàn cảnh
của mỗi quốc gia .Chính vì vậy mà đề án này,không chỉ phân tích nguồn gốc,bản chất
của lợi nhuận trong quan điểm của một số các trường phái từ trước đến nay,đặc biệt là
học thuyết của Mác , xem xét tới vai trò của lợi nhuận như là một động lực cơ bản của
nền kinh tế thị trường(KTTT) mà còn xem xét tới quá trình vận dụng lý luận vào thực
tiễn ở nước ta để thấy được rõ nét hơn vai trò động lực của lợi nhuận.

PHầN I : Nguồn gốc và bản chất của lợi nhuận

i/ Quan điểm về lợi nhuận trong các học thuyết phi Mác-xít:

1/Quan điểm của trường phái Trọng Thương về lợi nhuận:
Về mặt hoàn cảnh lịch sử,Chủ Nghĩa Trọng Thương(CNTT) được ra đời vào thời kỳ
tích luỹ nguyên thuỷ của giai cấp tư bản.ở giai đoạn này,vấn đề được quan tâm hàng
đầu và mang một ý nghĩa cực kỳ quan trọng đó là tiền.Mọi cá nhân,mọi tổ chức,thậm
chí là mọi quốc gia đều tìm mọi cách để tích trữ thật nhiều tiền,như nhận xét của Engels
sau này thì
"các dân tộc chống đối nhau như những kẻ bủn xỉn,hai tay ôm khư khư túi tiền quí báu,
nhìn sang người láng giềng với con mắt ghen tỵ,đa nghi".
Do được hình thành trong một hoàn cảnh lịch sử như vậy cho nên toàn bộ học thuyết
của CNTT nói chung và quan điểm về lợi nhuận nói riêng đều được xây dựng trên cơ sở
đồng nhất giá trị với tiền bạc và lấy đối tượng nghiên cứu của Kinh Tế Chính
Trị(KTCT) là lĩnh vực lưu thông,coi KTCT "là khoa học về của cải thương mại mà
nhiệm vụ của nó là bán nhiều mua ít".Chính vì vậy,CNTT cho rằng lợi nhuận là do lĩnh
vực lưu thông,do sự mua bán trao đổi mà sinh ra.Nó là kết quả của việc mua ít bán

Nông,A.Smith hay D.ricardo mà ta sẽ xem xét sau đây.
Trước tiên là phái Trọng Nông,mặc dù thừa nhận quy luật giá trị tuy nhiên họ lại cho
rằng chỉ có lao động trong nông nghiệp mới tạo ra giá trị,tạo ra cái mà họ gọi là sản
phẩm thuần tuý còn lao động trong các nghành nghề khác như trong công nghiệp hay
thương nghiệp thì không tạo ra giá trị.Sở dĩ như vậy,theo họ giải thích,là do trong nông
nghiệp ngoài sức lao động của chính mình ra thì người nông dân còn được sự trợ giúp
của thiên nhiên.Vì vậy mà lợi nhuận,theo quan điểm của họ,chính là phần thu nhập
không lao động của nhà tư bản do người nông dân tạo ra.ở đây,mặc dù còn hạn chế khi
cho rằng chỉ có lao động nông nghiệp mới tạo ra sản phẩm thuần tuý tuy nhiên trường
phái Trọng Nông đã có một đóng góp quan trọng đó là bước đầu tìm ra nguồn gốc của
cái gọi là sản phẩm thuần tuý,xét về bản chất chính là GTTD.Ngoài ra,trong lý luận của
phái Trọng Nông,đã xuất hiện những mầm mống tư tưởng về lợi nhuận bình quân và xu
hướng giảm sút của tỷ suất lợi nhuận.
Đến A.Smith,người được coi là đại biểu của trường phái TSCĐ trong thời kỳ công
trường
thủ công,thì đã có những bước tiến đáng kể về lý luận so với phái Trọng Nông.Ông
khẳng định rằng không chỉ lao động trong nông nghiệp mà tất cả mọi hình thức lao
động khác cũng đều tạo ra giá trị và lao động chính là thước đo của giá trị.Dựa trên
quan điểm đúng đắn về giá trị lao động,A.Smith đã đưa ra những lý luận của mình về
lợi nhuận.Ông cho rằng phần giá trị mà người lao động tạo ra được phân chia thành tiền
lương trả cho người lao động,địa tô trả cho địa chủ và lợi nhuận trả cho nhà tư bản.Nói
như vậy có nghĩa là nếu như ta coi địa tô là khoản khấu trừ thứ nhất thì lợi nhuận chính
là khoản khấu trừ thứ hai vào sản phẩm của người lao động và chúng đều có chung một
nguồn gốc là lao động không dược trả công của người lao động.Xét về mặt lượng thì địa
tô và lợi nhuận chính là những khoản dôi ra ngoài tiền lương của người lao động còn xét
về mặt chất thì chúng phản ánh quan hệ bóc lột của tư bản và địa chủ đối với người lao
động.Ông chỉ rõ rằng " Khi sở hữu TBCN xuất hiện,người công nhân trở thành lao động

nữa,vào lúc đó,chưa có một học thuyết nào,đứng về phe giai cấp công nhân,được hình
thành để giải quyết mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân và chủ tư bản.Chính vì vậy cho
nên các nhà lý luận của giai cấp tư bản mới có thể đưa ra các học thuyết ít nhiều còn
mang tính khoa học.
Tuy nhiên,trong giai đoạn sau của CNTB,sự phát triển của CNTB đã bắt đầu bộc lộ
ngày càng rõ nét những mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản.Đã bắt
đầu có những xung đột ngày càng gay gắt về quyền lợi giữa hai giai cấp được thể hiện
qua các hiện tượng xã hội như khủng hoảng,thất nghiệp,sự phá sản của sản xuất nhỏ hay
quá trình bần cùng hoá giai cấp vô sản vv Các phong trào đấu tranh của công nhân
bùng nổ ngày càng nhiều.Đặc biệt là từ sau khi xuất hiện CN M-L ,với vai trò như một
lý luận chỉ đường cho giai cấp công nhân,chỉ ra sứ mệnh lịch sử của họ trong việc xoá
bỏ và thay thế PTSX TBCN bằng một PTSX tiến bộ hơn,PTSX XHCN ,thì sức ép lên
giai cấp tư sản ngày càng tăng.Chính vì vậy,trong giai đoạn này,các nhà lý luận của giai
cấp tư bản đã ra sức xuyên tạc,bẻ cong những lú luận đúng đắn trước kia và đưa ra
những lý luận sai lầm nhằm giải thích các hiện tượng xã hội kể trên với mục đích che
dấu bản chất bóc lột của CNTB.Do đó
các học thuyết hình thành trong thời kỳ này nói chung và các lý luận về lợi nhuận nói
riêng không còn mang tính khoa học nữa.Sau đây chúng ta sẽ xem xét một số trường
phái như vậy,trên cơ sở phân tích các lý luận về lợi nhuận để thấy rõ bản chất phi khoa
học của các học thuyết này.

3/Quan điểm về lợi nhuận của trường phái Hậu Cổ Điển:
Trường phái Hậu Cổ Điển(HCĐ),mặc dù xuất hiện ngay sau trường phái TSCĐ
nhưng các nhà lý luận của trường phái HCĐ lại hoàn toàn xa rời những lý luận cuả
trường phái TSCĐ.Họ rời bỏ phương pháp trừu tượng hoá khoa học,không đi sâu vào
phân tích bản chất của sự vật,hiện tượng mà chỉ xem xét hời hợt bên ngoài.Đặc biệt là
họ đã áp dụng phương pháp tâm lý chủ quan trong phân tích kinh tế,"coi KTCT là khoa


Xuất hiện trong giai đoạn bắt đầu sự chuyển đổi từ CNTB tự do cạnh tranh sang
CNTB độc quyền,đặc biệt là được hình thành sau khi CN Mác ra đời,trường phái Cổ
Điển Mới (CĐM) ra đời nhằm mục đích biện hộ cho CNTB trước những hiện tượng
kinh tế mới phát sinh như tình trạng độc quyền và những hậu quả về mặt xã hội của nó
vv Ngoài ra nó còn có một nhiệm vụ khác là phê phán CN Mác,phủ nhận những lý
luận khoa học của Mác về bản chất bóc lột của giai cấp tư bản,sự diệt vong tất yếu của
CNTB và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân vv nhằm bảo vệ lợi ích của giai cấp
tư sản.ủng hộ tư tưởng tự do cạnh tranh,áp dụng phép phân tích vi mô nền kinh tế,kế
thừa và tiếp tục phát triển lý thuyết giá trị tâm lý chủ quan là các đặc điểm nổi bật của
trường phái CĐM.Dựa trên các đặc điểm cơ bản đó thì mỗi đại biểu của trường phái
CĐM lại có những quan điểm khác nhau về lợi nhuận.
Với J.B.Clark,ông đã phát triển lý thuyết 'ích lợi giới hạn' lên thành lý thuyết 'năng
suất giới hạn' và từ đó đưa ra lý thuyết 'năng lực chịu trách nhiệm' của các nhân tố sản
xuất.Ông cho rằng thu nhập là năng lực chịu trách của các nhân tố sản xuất,cụ thể là,tiền
lương là năng lực chịu trách nhiệm của lao động,địa tô là năng lực chịu trách nhiệm của
đất đai còn lợi nhuận là năng lực chịu trách nhiệm của tư bản.Nói như vậy có nghĩa là
lợi nhuận,thực chất,được coi là tiền lương trả cho nhà sản xuất-kinh doanh.Hoặc như
Alfred Marshall thì lại coi lợi nhuận như là khoản tiền thù lao thuần túy cho năng khiếu
quản lý kinh doanh,sử dụng tư bản và năng lực tổ chức hoạt động sản xuất.
Nhìn chung,các quan điểm về lợi nhuận của một số trường phái phi Mácxit kể
trên,mặc dù có một số trường phái có những quan điểm tiến bộ,đặc biệt là các trường
phái trước Mác, nhưng chúng vẫn chưa thể có được tính chính xác và khoa học một
cách trọn vẹn.Sở dĩ như vậy là vì các quan điểm này được xây dựng trên cơ sở những
luận điểm,hoặc là chưa đúng đắn,chính xác hoặc là sai lầm hoàn toàn,về giá trị.Vì vậy
mà ngay cả những nhà tư tưởng tiến bộ nhất của trường phái TSCĐ cũng chưa thể xác
định được đầy đủ và chính xác về nguồn gốc và bản chất của lợi nhuận.Chỉ đến khi CN
Mác xuất hiện,trên cơ sở kế thừa và phát triển tiếp tục những quan điểm đúng đắn của
các trường phái trước đó,mới có thể giải thích một cách khoa học,chính xác và đầy đủ
về nguồn gốc và bản chất của lợi nhuận.

hiệu là (v).Toàn bộ phần tư bản này được gọi là tư bản ứng trước(TBƯT).Tuy
nhiên,theo Mác thì không phải toàn bộ phần TBƯT này đều được chuyển dịch hết vào
giá trị của hàng hoá mà chỉ có một phần lượng tư bản được dùng để ứng trước cho
TLSX và toàn bộ lượng tư bản được dùng để ứng trước cho lao động là cấu tạo trực tiếp
nên giá trị của hàng hoá. Phần giá trị này được Mác gọi là CPSX ,được ký hiệu là (k) và
được biểu diễn dưới công thức:
k=c+v
Với sự hình thành khái niệm CPSX,nhà tư bản đã bước đầu che dấu được sự hình
thành của giá trị thặng dư(GTTD) và tạo điều kiện để hình thành nên khái niệm lợi
nhuận.Có thể thấy rõ được điều này qua việc nghiên cứu những phân tích của Mác về
công thức của CFSX trên.
Trước tiên,ta hãy xen lại định nghĩa của Mác về GTTD.Theo Mác thì "giá trị thặng
dư là giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động do công nhân tạo ra và bị nhà tư bản
chiếm không".Như vậy,theo Mác thì GTTD chính là phần lao động không được trả công
của người công nhân mà nhà tư bản đã chiếm đoạt,điều đó có nghĩa là GTTD (hay
chính là phần giá trị mới) dược tạo ra bởi lao động của người công nhân.Nói cách
khác,chính lao động của người công nhân và chỉ duy nhất một mình nó là tạo ra
GTTD.Lý luận về GTTD của Mác đã vạch trần bản chất bóc lột của CNTB,chỉ rõ nguồn
gốc sự giàu có của CNTB nói chung và của nhà tư bản nói riêng chính là nhờ chiếm
đoạt GTTD.
Tuy nhiên,với sự hình thành khái niệm CPSX (k=c+v) thì nguồn gốc và bản chất bóc
lột của GTTD đã bị che lấp.ở đây,dường như phần giá trị mới được tạo ra là do tác động
của toàn bộ lượng tư bản mà nhà tư bản đã ứng ra.Có nghĩa là,cả bộ phận tư bản bỏ vào
lao động (v) và bộ phận tư bản bỏ vào TLSX (c) đều có vai trò như nhau trong việc tạo
ra phần giá trị mới,như Mác đã viết:"Bộ phận tư bản bỏ vào lao động,khác với bộ phận
tư bản bỏ vào TLSX,vào bông hay than chẳng hạn,ở chỗ là nó được dùng để trả tiền cho
một yếu tố sản xuất khác về mặt vật chất,chứ hoàn toàn không phải là vì,do chức năng

đó.Khi tiến hành một hoạt động sản xuất hàng hoá,mục tiêu của nhà tư bản không phải
là hàng hoá được sản xuất ra cũng không phải là giá trị sử dụng của hàng hoá đó.Cái mà
nhà tư bản cần là cái phần giá trị mới thừa ra so với toàn bộ phần tư bản đã tiêu dùng,nó
được nhà tư bản gọi dưới cái tên là lợi nhuận.Mặc dù cái đích cuối cùng của mọi hoạt
động sản xuất-kinh doanh của nhà tư bản là lợi nhuận tuy nhiên nhà tư bản lại chẳng
quan tâm xem phần lợi nhuận đó được tạo ra từ đâu,từ TBBB hay từ TBKB vv Đối với
nhà tư bản,lợi nhuận được tạo nên từ toàn bộ phần tư bản đã tiêu dùng,đúng như Mác đã
viết :" nhà tư bản trông mong là tất cả các bộ phận của tư bản mà hắn ứng ra đều sẽ
đem lại lợi nhuận như nhau cả ".Từ quan niệm trên đã nảy sinh khái niệm về tỷ suất lợi
nhuận.Theo định nghĩa của Mác thì "Tỷ suất lợi nhuận (p') là tỷ số tính theo phần trăm
giữa giá trị thặng dư và toàn bộ tư bản ứng trước".Ta có : p'=(m/(c+v))*100%.
Với sự xuất hiện khái niệm tỷ suất lợi nhuận,ta có thể thấy rằng,một lần nữa bản chất
bóc lột của CNTB lạiđược che dấu đi.Nếu như tỷ suất GTTD (m') đã phản ánh được sự
bóc lột của nhà tư bản đối với công nhân làm thuê,là thước đo trình độ bóc lột của giai
cấp tư sản thì tỷ suất lợi nhuận,đơn thuần,chỉ phản ánh mức lãi của việc đầu tư tư
bản,nó chỉ cho nhà tư bản biết nên đầu tư vào đâu thì có lợi hơn.
Trên đây,chúng ta đã nghiên cứu,xem xét về sự hình thành của tỷ suất lợi nhuận cũng
như vai trò của nó trong phản ánh mức lãi của hoạt động đầu tư.Tuy nhiên,tỷ suất lợi
nhuận chỉ phản ánh trong phạm vi một nghành sản xuất,mỗi nghành có một tỷ suất lợi
nhuận riêng.Còn trong nền kinh tế TBCN với sự đa dạng về nghành nghề thì tất yếu dẫn
tới sự hình thành khái niệm tỷ suất lợi nhuận bình quân.Sở dĩ hình thành khái niệm này
là do trong nền kinh tế TBCN luôn tồn tại sự cạnh tranh,đó là hình thức đấu tranh gay
gắt giữa những người sản xuất hàng hoá dựa trên chế độ sở hữu khác nhauvề
TLSX,nhằm giành giật những điều kiện có lợi nhất về sản xuất và tiêu thụ hàng
hoá.Trong nền kinh tế TBCN,do chế độ chiếm hữu tư nhân TBCN cho nên sự tồn tại
tình trạng cạnh tranh là tất yếu dưới hai dạng là cạnh tranh trong nội bộ nghành và cạnh
tranh giữa các nghành.Mỗi hình thức cạnh tranh sẽ đem lại một kết quả khác nhau.Với

Một là,tổng số lợi nhuận của toàn bộ giai cấp tư sản thì đúng bằng với tổng số GTTD
do lao động không công của giai cấp công nhân tạo ra.Và do đó,tỷ suất lợi nhuận bình
quân cao hay thấp là do lượng GTTD được tạo ra trong xã hội quyết định.Sở dĩ như vậy
vì,như trên đã phân tích,nguồn gốc của lợi nhuận chỉ có thể xuất phát từ lao động không
công của công nhân bị nhà tư bản chiếm đoạt chứ không thể từ một nguồn gốc nào
khác.Các nhà tư bản,như Mác nói,sẽ không thể bóc lột lẫn nhau,bóc lột trên lưng nhau
được.
Hai là, mặc dù trên thực tế,trong một số nghành,giá cả sản xuất của một hàng hoá có
thể cao hơn giá trị của nó trong khi ở một số nghành khác thì giá cả sản xuất của hàng
hoá lại thấp hơn giá trị của nó.Nhưng xét về tổng thể,trên phạm vi toàn xã hội,thì tổng
số giá cả sản xuất vẫn đúng bằng tổng số giá trị của tất cả hàng hoá.
Ba là,giá trị của một hàng hoá biến động tăng hoặc giảm cũng sẽ kéo theo sự biến
động tương ứng của giá cả sản xuất của hàng hoá đó.
Nói tóm lại,Mác đã giải thích được một cách chính xác và khoa học về nguồn
gốc,bản chất của lợi nhuận cũng như các khái niệm khác liên quan tới lợi nhuận,đặc biệt
là những khái niệm về tỷ suất lợi nhuận bình quân và giá cả sản xuất.Điều này thể hiện
sự tiến bộ vượt trội của học thuyết kinh tế của Mác so với các học thuyết kinh tế
khác.Hơn thế nữa, không chỉ lý giải về sự hình thành của tỷ suất lợi nhuận bình quân
mà Mác còn giải thích và chứng minh một cách đúng đắn và khoa học về quy luật tỷ
suất lợi nhuận giảm dần.Một quy luật mà mặc dù một số nhà lý luận của trường phái
TSCĐ như A.Smith hay D.Ricardo tuy đã nhận thức được về sự hiện diện của quy luật
này nhưng vẫn chưa thể giải thích được nó một cách đúng đắn và khoa học.
Mác đã chứng minh rằng sự tồn tại của quy luật tỷ suất lợi nhuận có xu hướng giảm
dần là do sự tăng lên của TBBB so với tổng tư bản đã dẫn tới sự giảm sút một cách
tương đối của TBKB so với tổng tư bản.Kết quả là TBBB sẽ tăng lên một cách tương
đối so với TBKB và do đó làm cho tỷ suất lợi nhuận cũng giảm dần.Sở dĩ có hiện tượng
TBBB tăng lên tương đối so với TBKB,theo Mác giải thích, là do " sự phát triển ngày

tuyệt đối.Sở dĩ như vậy là do nhà tư bản không ngừng nâng cao tỷ suất giá trị thặng dư
cũng như không ngừng tăng thêm tổng số lao động bị tư bản bóc lột.Hơn thế nữa,quy
luật này còn làm cho nhà tư bản càng tăng cường bóc lột công nhân tới mức tối đa nhằm
kìm hãm xu hướng giảm sút của tỷ suất lợi nhuận.Ngoài ra,nó còn làm cho cuộc tranh
giành phân chia tổng khối lượng lợi nhuận ngay trong nội bộ giai cấp tư bản cũng diễn
ra ngày càng gay gắt.
Không chỉ có vậy mà trong nỗ lực tìm mọi cách kìm hãm xu hướng giảm dần của tỷ
suất lợi nhuận và nhằm mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận,nhà tư bản đã đua nhau đầu tư tư
bản ra nước ngoài đặc biệt là các quốc gia kém phát triển nơi có nguồn nhân công giá rẻ
và cấu tạo hữu cơ của tư bản thấp hơn so với các nước phát triển.ở các nước này,bọn tư
bản ra sức vơ vét,bóc lột nhân dân các nước thuộc địa.Điều đó làm cho mâu thuẫn giữa
các nước tư bản phát triển và các nước chậm tiến,giữa chính quốc và các nước thuộc địa
ngày càng gay gắt.
Ngoài ra,với tham vọng tăng thêm lợi nhuận để bù đắp vào chỗ giảm sút lợi nhuận do
xu hướng giảm sút lợi nhuận gây ra,nhà tư bản đã tăng cường mở rộng quy mô sản
xuất,đẩy sức cung của thị trường vượt xa khỏi giới hạn nhu cầu của người mua.Đây là
một trong các nguyên nhân dẫn tới các cuộc khủng hoảng thừa,loại khủng hoảng đặc
trưng của CNTB.
Nói tóm lại,có thể thấy rằng,quy luật tỷ suất lợi nhuận có xu hướng giảm dần không
chỉ đơn thuần phản ánh xu hướng giảm dần của tỷ suất lợi nhuận trong xã hội tư bản mà
nó còn làm cho những mâu thuẫn nội tại của CNTB ngày càng trở nên sâu sắc và từ
đó,chỉ ra các hạn chế mang tính chất lịch sử của PTSX TBCN .Vì vậy,việc giải thích
một cách khoa học sự hình thành cũng như các tác động của quy luật tỷ suất lợi nhuận
giảm dần trong xã hội tư bản đã làm cho học thuyết kinh tế của Mác nói riêng và toàn
bộ hệ thống lý luận của Mác nói chung tăng thêm tính khoa học và phù hợp với thời
đại.Những lý luận này góp phần làm sáng tỏ những hạn chế mang tính lịch sử của
CNTB.Nó chỉ ra rằng tới một lúc nào đó thì những mâu thuẫn nội tại của CNTB cũng
như những hạn chế lịch sử của nó sẽ làm cho PTSX TBCN trở thành một trở ngại ngăn
nhau. Nhà tư bản sau khi sản xuất ra sản phẩm rồi phải tự mình mang sản phẩm ra thị
trường để tiêu thụ do đó toàn bộ tư bản của họ ban đầu không chỉ được đầu tư vào mỗi
quá trình sản xuất mà còn phải chi phí cho cả quá trình bán hàng do vậy lợi nhuận của
nhà tư bản Công nghiệp sẽ bị giảm đáng kể.Còn tư bản Thương nghiệp trong giai đoạn
này,hay còn được gọi là Thương nghiệp cổ xưa với chức năng lưu thông hàng hoá dựa
trên cơ sở “mua rẻ, bán đắt” và vì vậy lợi nhuận Thương nghiệp lúc này thực chất là kết
quả của việc “ăn cắp và lừa đảo”. Ta có thể thấy rõ điều này qua quan điểm của trường
phái trọng thương, cho rằng lợi nhuận là kết quả của sự trao đổi không ngang giá , cho
rằng “không một người nào thu được lợi mà không làm thiệt kẻ khác”.
Nhưng trong giai đoạn TBCN,do nhu cầu của sự chuyên môn hoá và hợp tác hoá thì
Công nghiệp và Thương nghiệp hay nói rộng hơn là quá trình sản xuất và lưu thông
không thể tách biệt độc lập mà đã trở nên phụ thuộc, gắn kết lẫn nhau. Lúc này thì tư
bản Thương nghiệp, thực chất “là một bộ phận của tư bản Công nghiệp tách rời ra, phục
vụ qúa trình lưu thông hàng hoá của nhà tư bản Công nghiệp”. Khi đó, với sự hình
thành của tư bản Thương nghiệp thì cả tư bản Công nghiệp và tư bản Thương nghiệp
đều thu được những lợi ích mà được thể hiện ra là lợi nhuận Công nghiệp và lợi nhuận
Thương nghiệp. Đối với tư bản Thương nghiệp, mặc dù chỉ tham gia vào lĩnh vực lưu
thông, tức là chỉ tham gia vào việc thực hiện giá trị, trong đó có giá trị thặng dư, chứ
không hề tham gia vào quá trình sản xuất ra giá trị nhưng vẫn thu được một phần lợi
nhuận. Phần lợi nhuận này được gọi là lợi nhuận Thương nghiệp. Nếu chỉ xét tới vai trò
của tư bản Thương nghiệp là thực hiện giá trị của hàng hoá mà tạm thời bỏ qua chức
năng tiếp tục quá trình sản xuất trong lĩnh vực lưu thông của nó thì đúng là tư bản
Thương nghiệp không hề tạo ra giá trị và giá trị thặng dư do vậy nhìn bề ngoài có thể
lầm tưởng lợi nhuận Thương nghiệp là do mua rẻ, bán đắt mà có . Tuy nhiên,lợi nhuận
Thương nghiệp thực chất, “là một phần giá trị trị thặng dư được sáng tạo ra trong lĩnh
vực sản xuất mà nhà tư bản Công nghiệp nhường cho nhà tư bản Thương nghiệp”.
Sở dĩ nhà tư bản Công nghiệp chịu nhường và phải nhường một phần của thặng dư mà

các tỉ suất lợi nhuận của hai nghành Công nghiệp và Thương nghiệp. Ta có thể thấy rõ
điều này khi phân tích ví dụ sau:
Một nhà Tư bản Công nghiệp có một lượng tư bản là 800 với cấu tạo: 700c + 100v
với tỉ suất giá trị thặng dư: m’ = 100% => giá trị hàng hóa là: 700c + 100v + 100 = 900
Tỉ suất lợi nhuận nghành Công nghiệp sẽ là:
P’
CN
= 100/800 * 100% = 12,5%
Bây giờ,nếu có thêm một nhà tư bản Thương nghiệp bỏ ra 200 để mua hàng hoá =>lúc
đó ta có tỉ suất lợi nhuận bình quân sẽ bằng:
100
*100% = 10%

800 + 200
Theo tỉ suất lợi nhuận chung mới này thì phần lợi nhuận Công nghiệp và lợi nhuận
Thương nghiệp tương ứng sẽ bằng:
LnCN = 800 * 10% = 80
LnTN = 200 * 10% = 20
Khi đó nhà tư bản Thương nghiệp sẽ mua hàng hoá từ nhà tư bản Công nghiệp với giá
thấp hơn giá trị:
800 + 80 = 880 (<900)
và sẽ bán với giá đúng bằng giá trị và thu được lợi nhuận Thương nghiệp:
880 + 20 = 900
Như vậy là, với sự hình thành tỉ suất lợi nhuận chung giữa hai ngành Công nghiệp và
Thương nghiệp thì lợi nhuận Thương nghiệp đã được thực hiện. Với sự xuất hiện của
lợi nhuận Thương nghiệp trong xã hội tư bản,đã hình thành nên hai loại giá cả sản xuất
là giá cả sản xuất Công nghiệp và giá cả sản xuất thị trường. Nó cũng góp phần che dấu

cho người đó quyền sử dụng lượng tư bản tiền tệ đó chứ không cho quyền sở hữu lượng
tư bản đó. Do vậy mà ở tư bản cho vay thì quyền sử dụng và quyền sở hữu được tách rời
nhau, đây cũng là sự khác biệt căn bản của tư bản cho vay với tư bản Công nghiệp và tư
bản Thương nghiệp.
Như trên đã phân tích, nhà tư bản cho vay cho người khác sử dụng lượng tư bản tiền
tệ nhàn rỗi của mình không phải do lòng tốt hay vì một cái gì khác mà chỉ đơn thuần là
để kiếm lời. Chính vì vậy mà nhà tư bản đi vay phải trả cho nhà tư bản cho vay một số
tiền nào đó, khoản tiền này được gọi là lợi tức và nó dược trích từ phần lợi nhuận thu
được của nhà tư bản đi vay sau khi anh ta sử dụng lượng tư bản đi vay vào quá trình
sản xuất.
Vậy lợi tức là một phần lợi nhuận bình quân mà nhà tư bản đi vay phải trả cho nhà tư
bản cho vay căn cứ vào món tiền mà nhà tư bản cho vay đã đưa cho nhà tư bản đi vay
sử dụng. Như vậy thì xét cho cùng nguồn gốc của lợi tức chính là phần giá trị thặng dư
mà nhà tư bản Công nghiệp chiếm đoạt của người lao động.
Với sự hình thành của tư bản cho vay và tương ứngvới nó là lợi tức cho vay thì lúc
này phần lợi nhuận bình quân mà các nhà tư bản Công nghiệp và tư bản Thương nghiệp
thu được không còn thuộc hoàn toàn về họ mà phần lợi nhuận bình quân đó được chia
ra thành lợi tức cho vay là khoản đem trả cho nhà tư bản cho vay, phần còn lại sau khi
trả lợi tức được gọi là thu nhập của chủ xí nghiệp. Lượng lợi tức đem trả nhiều hay ít
tuỳ theo quan hệ cung cầu về tư bản cho vay và nó phụ thuộc vào tỉ suất lợi tức, là tỉ lệ
phần trăm giữa tổng số lợi tức và tổng số tư bản tiền tệ cho vay.
Nếu kí hiệu lợi tức là Z còn tỉ suất lợi tức là Z’ thì ta có:
Z’ = ( Z/tư bản cho vay) * 100%
Phần lợi tức cao hay thấp là do tỉ suất lợi tức quy định,đến lượt nó thì tỉ suất lợi tức
lại bị quy định bởi các yếu tố:
Giới hạn cao nhất của tỉ suất lợi tức chính là tỉ suất lợi nhuận bình quân do vậy mà sự
thay đổi của tỉ suất lợi nhuận bình quân cũng dẫn tới sự thay đổi thuận chiều tương ứng

vụ Ngân hàng và cộng với các khoản thu nhập khác về kinh doanh tiền tệ.Khác với lợi
tức vận động theo quy luật tỉ suất lợi tức giảm dần, lợi nhuận ngân hàng hoạt động theo
quy luật tỉ suât lợi nhuận bình quân giảm dần,có nghĩa là lợi nhuận ngân hàng ngang
bằng với lợi nhuận bình quân.
c/ Địa tô Tư bản Chủ nghĩa:
ở trên chúng ta đã nghiên cứu và xem xét sự hình thành và xâm nhập của CNTB vào
lĩnh vực Thương nghiệp và tín dụngvà tương ứng là sự hình thành nên các bộ phận tư
bản Thương nghiệp; tư bản cho vay và tư bản Ngân hàng. Đến phần này, chúng ta sẽ
xem xét sự xâm nhập của CNTB vào trong Nông nghiệp dẫn tới sự hình thành bộ phận
tư bản kinh doanh trong Nông nghiệp và sự xuất hiện một hình thức mới của lợi nhuận
là địa tô Tư bản Chủ nghĩa.
Trước tiên, ta sẽ xem xét sự xâm nhập của PTSX TBCN vào trong Nông nghiệp. Với
sự phát triển của CNTB, giai cấp Tư bản không chỉ thống trị nghành Công nghiệp mà
còn dần dần thao túng cả lĩnh vực Nông nghiệp. Sự xâm nhập của CNTB vào lĩnh vực
Nông nghiệp có thể diễn ra theo hai cách sau
Một là, trước hết vẫn duy trì về căn bản nền kinh tế phong kiến địa chủ trước kia và
sau đó thông qua các cuộc cải cách mà dần dần chuyển sang đường lối kinh tế theo kiểu
Tư bản Chủ nghĩa.
Cách thứ hai là,ngay từ đầu, thông qua con đường Cách mạng Tư sản lật đổ chế độ
kinh tế phong kiến cũ; giải phóng lực lượng sản xuất thoát khỏi xiềng xích nông nô.
Trên cơ sở đã xoá bỏ quan hệ sản xuất phong kiến, thiết lập QHSX TBCN trong Nông
nghiệp từ đó phát triển nhanh chóng Nông nghiệp theo con đường các ấp trại TBCN.
Như vậy, dù sự xâm nhập của PTSX TBCN vào Nông nghiệp được thực hiện theo
cách nào đi chăng nữa thì hậu quả của sự xâm nhập này vẫn là hình thành nên trong nền
Nông nghiệp TBCN ba giai cấp chủ yếu là giai cấp địa chủ,giai cấp tư bản Nông nghiệp
và giai cấp công nhân Nông nghiệp. Nhưng cần phải thấy rằng giai cấp địa chủ lúc này
không phải là những địa chủ xuất thân từ tầng lớp quí tộc, tăng lữ như trong giai đoạn
phong kiến mà địa chủ lúc này, thực chất là những nhà tư sản,đã đầu tư tư bảnđể nhằm
thu gom,thao túng ruộng đất, gây ra tình trạng'lũng đoạn quyền tư hữu ruộng đất'.


lĩnh vực Nông nghiệp mang tính ổn định, lâu dài và khá phổ biến. Sở dĩ như vậy là vì
trong Nông nghiệp, một tư liệu lao đông chủ yếu là đất đai lại có tính chất hạn chế,đại
bộ phận đất đai là xấu, cằn cỗi chỉ có một số ít là đất trồng trọt mầu mỡ. Hơn thế nữa,
các ruộng đất xấu thì hoặc là không thể cải tạo được hoặc là cải tạo được nhưng đòi hỏi
những chi phí rất lớn còn các ruộng đất tốt thì lại bị độc quyền kinh doanh kiểu TBCN.
Chính vì vậy mà các nhà tư bản Nông nghiệp bắt buộc phải thuê ruộng đất xấu. Điều đó
dẫn tới thực trạng là các nhà tư bản kinh doanh trên ruộng đất tốt luôn tốn ít chi phí hơn
các nhà tư bản kinh doanh trên ruộng đất xấu để cùng sản xuất ra một đơn vị sản phẩm.
Hơn nữa,nếu như trong Công nghiệp, giá cả là do giá thành sản xuất trong điều kiện
trung bình quyết định thì trong Nông nghiệp,vì ruộng đất tốt sản xuất không đủ sản
phẩm để thoả mãn nhu cầu do vậy bắt buộc phải tiến hành sản xuất trên ruộng đất xấu.
Vì vậy nếu vẫn để giá cả sản xuất do điều kiện sản xuất trung bình quyết định thì các
nhà sản xuất kinh doanh trên ruộng đất xấu sẽ thu được ít lợi nhuận hơn. Điều đó làm
cho họ sẽ chuyển sang kinh doanh lĩnh vực khác và sẽ gây ra khan hiếm các sản phẩm
Nông nghiệp. Chính vì vậy mà trong Nông nghiệp thì giá cả sản xuất là do điều kiện sản
xuất trên ruộng đất xấu quyết định.
Từ hai nguyên nhân trên,đã dẫn tới việc hình thành nên lợi nhuận siêu ngạch trong
sản xuất Nông nghiệp. Dạng lợi nhuận siêu ngạch này khi nộp cho chủ đất dưới dạng
địa tô còn được gọi là địa tô chênh lệch. Vậy địa tô chênh lệch chính là phần lợi nhuận
thừa ra ngoài lợi nhuận bình quân, thu được trên những ruộng đất có điều kiện sản xuất
trung bình và tốt, trên cơ sở giá cả sản xuất cá biệt nhỏ hơn giá cả sản xuất chung do
điều kiện sản xuất xấu nhất quy định. Xét cho cùng thì nguồn gốc của địa tô chênh lệch
cũng chính là một phần giá trị thặng dư do công nhân Công nghiệp tạo ra.
Nhà tư bản có thể có được địa tô chênh lệch nhờ hai cách và do đó tương ứng có hai
dạng địa tô chênh lệch khác nhau. Cách thứ nhất, địa tô chênh lệch có được nhờ việc
kinh doanh trên ruộng đất có độ mầu mỡ tự nhiên hoặc có vị trí giao thông thuận
lợi,theo cách này thì địa tô chênh lệch được gọi là địa tô chênh lệch I. Ngoài ra cũng có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status