Luận văn: Một số giải pháp nhằm tăng cường vai trò tích cực của FDI vào Việt Nam trong thời gian tới pot - Pdf 11


1
Luận văn
Một số giải pháp nhằm
tăng cường vai trò tích cực
cảu FDI vào Việt Nam
trong thời gian tới

2

Lời Mở đầu

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay có thể khẳng định các hoạt động đầu tư
trong đó có đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đóng vai trò là một nhân tố quan
trọng để phát triển kinh tế, là chìa khoá của sự tăng trưởng. Thực vậy, đối với các
nước đang phát triển, đầu tư đóng vai trò như “một cái hích ban đầu” tạo đà cho sự
cất cánh của nền kinh tế bởi phát triển về bản chất được coi là vấn đề đảm bảo các
nguồn vốn đầu tư đủ để đạt được một tỷ lệ tăng thêm sản phẩm quốc dân dự kiến.
Có thể coi FDI là một biện pháp rất hữu hiệu để khắc phục tình trạng thiếu vốn -
một vấn đề đang đặt ra đối với hầu hết các nước đang phát triển.
Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tuy mới bắt đầu từ năm 1988
nhưng đã đạt được những thành tựu đáng kể. Đặc biệt kể từ khi thực hiện Luật đầu
tư nước ngoài năm 1996 và sửa đổi bổ sung năm 2000 hoạt động FDI đã có những
bước phát triển mới. Việc đánh giá vai trò của FDI đối với tăng trưởng kinh tế nhằm
thấy rõ hơn tầm quan trọng của nguồn vốn đầu tư này từ đó có các biện pháp thu hút
và sử dụng FDI ngày càng có hiệu quả hơn.
tiền tệ, tỷ giá hối đoái mà chủ đầu tư trong nước không phải lo lắng.

II/ Vai trò của FDI đối với tăng trưởng kinh tế
1) FDI tác động đến tổng cung và tổng cầu:
- Về mặt cầu: Đầu tư tăng lên làm cho tổng cầu tăng (đường D dịch chuyển
sang D’) kéo sản lượng cân bằng từ tăng theo từ Q
0
đến Q
1
và giá cả của các đầu vào
của đầu tư tăng từ P
0
đến P
1.
Điểm cân bằng dịch chuyển từ E
0
đến E
1
.

4 P
S
P
1
E
1



2) FDI có tác động hai mặt đến sự ổn định kinh tế:
Đầu tư làm cho sản lượng tăng, giá cả giảm, kích thích sản xuất, tạo việc làm
và duy trì sự phát triển ổn định của nền kinh tế. Tuy nhiên, khi tăng đầu tư làm cho
giá các hàng hoá có liên quan tăng (giấ chi phí vốn, công nghệ, lao động, vật tư )
tăng từ đó dẫn đến tình trạng lạm phát, thất nghiệp. Như vậy, đầu tư vừa duy trì sự
phát triển ổn định của nền kinh tế đồng thời cũng phá vỡ sự ổn định của nền kinh tế.
Do đó, trong điều hành vĩ mô nền kinh tế, các nhà hoạt động chính sách cần thấy
hết hai mặt này để đưa ra các chính sách nhằm hạn chế các tác động xấu, phát huy
tác dụng tích cực, duy trì được sự ổn định của nền kinh tế.
3) FDI làm tăng khả năng khoa học và công nghệ của đất nước:
Về công nghệ hiện nay, trình độ của Việt Nam rất thấp so với các nước trên
thế giới (theo UNIDO nếu chia quá trình phát triển công nghệ làm 7 giai đoạn thì
Việt Nam đang ở giai đoạn thứ 2- là một trong những nước kém nhất về công nghệ).
Công nghệ là trung tâm, là điều kiện rất quan trọng để tiến hành công
nghiệp hoá do đó để cải thiện tình hình này thì ngoài việc tự nghiên cứu nhất thiết
phải nhập công nghệ từ nước ngoài. Và như vậy vốn đầu tư là rất quan trọng bởi

5

mọi phương án đổi mới công nghệ đều không khả thi nếu không gắn với nguồn
vốn đầu tư.
4) FDI góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế:
Cơ cấu kinh tế được xác định bởi số lượng tỷ trọng các bộ phận trong nền
kinh tế và mối quan hệ giữa các bộ phận đó. Kinh nghiệm của các nước trên thế
giới cho thấy muốn phát triển kinh tế thì cần tập trung vào các bộ phận tạo ra
tăng trưởng cao là khu vực công nghiệp và dịch vụ. Như vậy, chính đầu tư đã
quyết định quá trình chuyển dịch cơ cấu nhằm đạt tốc độ tăng trưởng nhanh của
toàn bộ nền kinh tế.
Về cơ cấu lãnh thổ, FDI có tác động giải quyết những mất cân đối về phát

hoặc giảm hệ số ICOR. Quản lý tốt, không để thất thoát lãng phí, suất đầu tư nhỏ, sẽ
tạo điều kiện để giảm hệ số vốn đầu tư.

6

Như vậy, việc bố trí cơ cấu đầu tư hợp lý sẽ tạo điều kiên để tăng hiệu quả
đầu tư, tác động không cho hệ số vốn tăng nhanh. Tuy nhiên, xu thế hệ số vốn sẽ
tăng dần do càng ngày càng có nhiều công trình dự án với quy mô lớn hơn, càng
ngày càng phải đầu tư các dự án ở những nơi kém lợi thế hơn về mặt sử dụng tài
nguyên thiên nhiên, suất đầu tư lớn hơn.
Trước mắt, việc kết hợp giữa yêu cầu tăng trưởng kinh tế và xoá đói giảm
nghèo, tạo nhiều việc làm, giải quyết công bằng xã hội cũng là những yếu tố làm
tăng hệ số vốn đầu tư. Do vậy vấn đề đặt ra là phải tìm ra cơ cấu đầu tư thât hợp lý
cả về cơ cấu ngành, lĩnh vực; cơ cấu quy mô các loại dự án; cơ cấu điều đầu tư theo
các thành phần kinh tế đồng thời phải có chính sách thích hợp để quản lý tốt hơn
nguồn vốn đầu tư.
Do đặc điểm của FDI là ít lệ thuộc vào mối quan hệ chính trị, bên nước ngoài
trực tiếp tham gia quản lý sản xuất nên FDI ngày càng có vai trò to lớn thúc đẩy quá
trình phát triển kinh tế ở các nước đầu tư và nước nhận đầu tư. Cụ thế là:
+ Đối với các nước đầu tư, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài giúp nâng cao hiệu
quả sử dụng những lợi thế sản xuất ở nơi tiếp nhận đầu tư, hạ giá thành sản phẩm và
nâng cao tỷ suất lợi nhuận của vốn đầu tư và xây dựng. Mặt khác, thông qua việc
đầu tư ra nước ngoài các nước đầu tư sẽ mở rộng được thị trường tiêu thụ, tránh
hàng rào bảo hộ mậu dịch của các nước.
+ Đối với nước nhận đầu tư đặc biệt là các nước đang phát triển, FDI giúp
đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế thông qua việc tạo ra những doanh nghiệp mới,
thu hút thêm lao động, giải quyết một phần nạn thất nghiệp. Quan trọng hơn, FDI
còn giúp tăng thu ngân sách thông qua việc đánh thuế các công ty nước ngoài.
Ngoài ra, với các máy móc, thiết bị cũng như những kiến thức quản lý kinh
tế, xã hội hiện đại được đưa vào sản xuất, FDI sẽ giúp các nước đang phát triển tiếp

doanh thoả thuận nhưng không được thấp hơn 30% vốn pháp định của doanh nghiệp
liên doanh và trong quá trình hoạt động không được giảm vốn pháp định.
Doanh nghiệp liên doanh là hình thức đầu tư phổ biến được các nước chủ
nhà đặc biệt là các nước đang phát triển khuyến khích áp dụng bởi ưu điểm của hình
thức này là nước nhận đầu tư được tham gia vào điều hành quá trình kinh doanh do
đó tiếp thu được công nghệ tiên tiến đồng thời nâng cao được kinh nghiệm quản lý.
3) Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài:
Là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài (tổ chức hoặc cá
nhân người nước ngoài) do nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại nước chủ nhà, tự
quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh.
Theo quy định của Luật đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp 100% vốn
nước ngoài được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, có tư
cách pháp nhân.
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là hình thức được các nhà đầu tư nước
ngoài ưa chuộng vì được tự mình quản lý và hưởng lợi nhuận do kết quả đầu tư tạo
ra đồng thời giữ được các bí mật về công nghệ.
Ngoài ra, còn có một vài dạng đặc biệt của hình thức đầu tư 100% vốn nước
ngoài áp dụng đối với các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật:
+ Hợp đồng xây dựng- kinh doanh- chuyển giao (BOT): Với hình thức này,
các chủ đầu tư chịu trách nhiệm tiến hành xây dựng, kinh doanh công trình trong
một thời gian đủ để thu hồi vốn đầu tư và có lợi nhuận hợp lý. Saukhi dự án kết
thúc, toàn bộ công trình sẽ được chuyển giao cho nước chủ nhà mà không thu bất cứ
một khoản tiền nào.

8

+ Hợp đồng xây dựng- chuyển giao- kinhdoanh (BTO): Khác với hình thức
BTO, sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công trình cho nước chủ nhà.
Chính phủ nước chủ nhà giành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình đó
trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư và có lợi nhuận hợp lý.

- Quản lý hoạt động đầu tư nước ngoài: Trong quá trình hình thành và
triển khai dự án, chủ đầu tư phải chịu sự quản lý của các cơ quan có thẩm quyền
đại diện cho nước chủ nhà từ khâu cấp giấy phép, thẩm định dự án đến quản lý
việc thực hiện dự án. Theo đó, một dự án được chấp nhận phải có sự nhất trí của

9

tất cả các cơ quan này gây không ít khó khăn cho các nhà đầu tư. Để khắc phục
những hạn chế này, một số nước đã áp dụng hình thức “một cửa”, có nghĩa là
nhà đầu tư chỉ phải liên hệ với một cơ quan chức năng để đề nghị thẩm định dự
án của mình. Mọi thủ tục thẩm định sẽ do cơ quan này phối hợp với các cơ quan,
tổ chức có liên quan khác tiến hành. Hình thức này đã được áp dụng tại một số
nước như Thái Lan, Malayxia, Singapore
- Các chính sách và quy định khác như chính sách về công nghệ, chính sách
môi trường, chính sách lao động tiền lương, chính sách sử dụng các nguồn tài
nguyên, thủ tục khai báo hải quan, quy định về việc khiếu nại, tranh chấp
1.3 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên:
Đó là những yếu tố tự nhiên như khí hậu, tài nguyên, dân số liên quan đến
việc lựa chọn lĩnh vực để đầu tư và khả năng sinh lời của dự án. Khí hậu nhiệt đới
gió mùa thường ảnh hưởng không tốt đến tuổi thọ của máy móc thiết bị có nguồn
gốc từ phương Tây. Nguồn nguyên vật liệu đầu vào phong phú sẽ thu hút các nhà
đầu tư, giảm chi phí và giá thành. Dân cư đông sẽ là nguồn cung ứng sức lao động
dồi dào và là thị trường tiềm năng để tiêu thụ hàng hoá.
1.4 Điều kiện phát triển kinh tế
Mức độ phát triển về quản lý kinh tế vĩ mô thấp dẫn tới các hiện tượng lạm
phát cao, nợ nước ngoài nhiều, tham nhũng, thủ tục hành chính rườm rà, tăng
trưởng kinh tế thấp là nguyên nhân tiềm ẩn gây nên khủng hoảng.
Chất lượng dịch vụ cơ sở hạ tầng kém ảnh hưởng trực tiếp tới sự vận hành
các hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như đời sống của các nhà đầu tư nước
ngoài, khiến tăng chi phí sản xuất, chất lượng sản phẩm không cao.

nước ngoài được thể hiện ở chỗ: các ưu đãi khuyến khích xuất khẩu trong các hiệp
định thương mại sẽ khiến cho hàng hoá và dịch vụ của nước đầu tư có cơ hội thuận
lợi thâm nhập thị trường nước khác, do đó động cơ đầu tư ra nước ngoài để vượt
qua rào cản thương mại sẽ giảm mạnh. Đối với nhập khẩu cũng vậy, nếu nước đầu
tư hạ mức rào cản đối hàng hóa từ nước ngoài nhất là từ các nước đang phát triển
thì các nhà đầu tư trong nước sẽ có nhiều cơ hội tiến hành hoạt động đầu tư ra nước
ngoài nhằm khai thác triệt để lợi thế so sánh trong phân công lao động quốc tế, tìm
kiếm nguồn nguyên liệu mới để sản xuất hàng hoá và lại nhập khẩu lại nước mình.
Nếu nước đầu tư nới lỏng các chính sách quản lý ngoại hối theo hướng tự do
hoá thị trường vốn thì các nhà đầu tư được quyền tự do chuyển vốn ra nước ngoài
và ngược lại. Thực tế cho thấy việc xoá bỏ các quy định quản lý ngoại hối của một
số nước như Nhật Bản(1983), Anh (1979), Thuỵ Điển (1980) đã thúc đẩy mạnh
mẽ dòng đầu tư ra nước ngoài của những quốc gia này.
2.2 Các hoạt động thúc đẩy đầu tư ra nước ngoài
Việc ký kết các hiệp định đầu tư với nước ngoài là cơ sở pháp lý quan trọng
hàng đầu để đảm bảo tin tưởng cho các nhà đầu tư nươc ngoài. Các hiệp định đầu tư
song phương và các hiệp định đa biên được ký nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các
nhà đầu tư. Thực tế cho thấy, từ cuối những năm 80, số hiệp định đầu tư song
phương giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển tăng nhanh khiến cho
dòng đầu tư ra nước ngoài của các nước phát triển vào các nước đang phát triển
cũng tăng theo.
Cùng với các hiệp định trên, hiệp định tránh đánh thuế hai lần giữa nước đầu
tư với nước ngoài cũng tạo sức hấp dẫn cho các nhà đầu tư bởi họ chỉ chịu một lần
thuế ở nước nhận đầu tư mà thôi.

11
Việc các nước đầu tư áp dụng chính sách bảo hiểm vốn đầu tư cũng là yếu tố
tác động mạnh đến luồng đầu tư ra nước ngoài. Chẳng hạn, năm 1992, chính phủ
Nhật Bản tuyên bố bảo hiểm đầu tư cho các nhà đầu tư Nhật Bản vào Việt Nam đã
khiến cho dòng đầu tư của Nhật vào Việt Nam tăng mạnh.


12
Chương Hai
Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài

I/ Khái quát về môi trường đầu tư tại Việt Nam thời gian qua
1) Vài nét về Luật đầu tư nước ngoài ở Việt Nam
Luật đầu tư nước ngoài có hiệu lực từ năm 1/1/1988, là một trong những cải
cách quan trọng được hình thành trong khuôn khổ đường lối đổi mới của Đảng và
Nhà nước ta trong thời kỳ đổi mới. Tuy nhiên, Bộ luật này còn rất nhiều điều chưa
đồng bộ, chưa hoàn thiện và chưa phù hợp với thông lệ quốc tế cần được sửa đổi.
Chính vì vậy, Luật đầu tư nước ngoài đã được sửa đổi bổ xung lần thứ nhất vào
ngày 30 tháng 6 năm năm 1990, lần thứ hai vào tháng12 năm 1992 và đặc biệt Luật
đầu tư nước ngoài được tiến hành sửa đổi bổ xung lần thứ 3 vào cuối năm 1996 với
một số nội dung mới như sau:
- Quy định một số điều kiện cởi mở hơn nhằm khuyến khích ĐTNN tập
trung vào các hướng ưu tiên trong chính sách phát triển kinh tế hướng mạnh về xuất
khẩu, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước.
- Theo Luật ĐTNN sửa đổi lần 3, chế độ miễn thuế nhập khẩu nguyên liệu bị
thu hẹp để xích lại gần với chính sách thuế của doanh nghiệp trong nước nhằm đảm
bảo sự bình đẳng hơn trong cạnh tranh giữa các loại hình doanh nghiệp. Ngược lại,
ưu đãi nhiều hơn đối với các dự án có tỷ lệ sản phẩm xuất khẩu cao, đầu tư vào
những ngành ưu tiên. Mức ưu đãi cao nhất là thuế lợi tức: thuế suất áp dụng ở mức
thấp 10% và được miễn thuế suất lợi tức 8 năm thay vì 4 năm trước đây và giảm
50% trong 4 năm tiếp theo như trước đây.
- Ngoài những khuyến khích về thuế, luật năm 1996 còn quy định một số các
chính sách và biện pháp khuyến khích hỗ trợ khác như: (1) Bảo đảm việc cân đối
ngoại tệ cho các dự án quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam nhưng thiếu khả
năng tự tái tạo ngoại tệ để thu hồi vốn. (2) Cho phép Bên nước ngoài góp vốn bằng
tiền Việt Nam có nguồn gốc đầu tư tại VN thay vì chỉ bó hẹp bằng ngoại tệ phải

Về quản lý ngoại hối: các doanh nghiệp có vốn ĐTNN, bên nước ngoài tham gia
hợp đồng hợp tác kinh doanh được mua ngoại tệ ngân hàng thương mại để đáp ứng
các giao dịch vãng lai và các giao dịch khác được phép theo quy định của pháp luật
về quản lý ngoại hối (trước đây là doanh nghiệp phải tự cân đối). (5) Vè thế chấp tài
sản vay vốn: cho phép các doanh nghiệp có vốn ĐTNN được thế chấp tài sản gắn
liền đất và giá trị quyền sử dụng đất để đảm bảo vay vốn tại các TCTD được phép
hoạt động tại Việt Nam.
Bên cạnh Luật ĐTTN, Chính phủ và các cấp ngành có liên quan đã ban hành
hàng loạt các văn bản dưới luật để ngày càng hoàn thiện môi trường pháp lý cho
hoạt động ĐTNN ở Việt Nam.
Nói tóm lại, kể từ khi Luật ĐTNN chính thức có hiệu lực, trong quá trình
thực hiện nhà nước ta đã bổ sung nhằm hoàn thiện dần và ngày càng lôi cuốn được
các nhà đầu tư. Nếu so sánh với các nước ASEAN Luật ĐTNN của Việt Nam đã đạt
tới mức tương đối hấp dẫn tuy nhiên vẫn cần phải tiếp tục hoàn thiện để phù hợp
hơn với thông lệ quốc tế nhằm thu hút và thực hiện có hiệu quả hơn nữa đầu tư trực
tiếp nước ngoài vào Việt Nam.
2) Vài nét về kinh tế- xã hội
2.1 Về tình hình phát triển kinh tế:

14
Sau một số năm giảm sút do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế, tài
chính khu vực và những khó khăn nội tại nền kinh tế, từ năm 2000, nền kinh tế của
Việt Nam đã và đang ngày càng được phục hồi duy trì được khả năng tăng trưởng
cao. Kinh tế phát triển theo chiều hướng tích cực, năm sau tăng hơn năm trước
+ Trong nông nghiệp đã có sự chuyển dịch đáng kể về cơ cấu sản xuất, cơ
cấu sản phẩm. Kinh tế nông thôn phát triển theo hướng đa dạng hoá ngành nghề,
tăng tỷ trọng của công nghiệp và dịch vụ, giảm sản xuất thuần nông.
Nhiều làng nghề đã được khôi phục, cơ sở hạ tầng nông thôn nhất là đường
giao thông, thuỷ lợi, cấp điện, cấp nước, trường học, bệnh xá, chợ đã được chú ý
đầu tư. Thu nhập của người nông dân cũng từng bước được cải thiện.

2.2 Về các mặt văn hoá - xã hội:
Nhìn chung, các hoạt động xã hội đều có bước phát triển, đời sống nhân dân
được cải thiện, tình hình chính trị và an toàn xã hội được đảm bảo. Cụ thể là:
+ Công tác xoá đói giảm nghèo đã đạt được các kết quả đáng khích lệ.
+ Số lượng lao động được giải quyết việc làm cũng như cơ cấu lao động có
sự dịch chuyển theo hướng tích cực.
+ Hệ thống cung cấp y tế đã được mở rộng và ngày càng hoàn thiện, tuổi thọ
bình quân ngày càng được nâng lên.
+ Công tác dân số kế hoạch hóa gia đình đạt kết quả khá.
+ Lĩnh vực văn hoá thông tin và thể dục thể thao đã có những hoạt động sôi
nổi thúc đẩy các hoạt động kinh tế và ổn định đời sống xã hội.
+ Cơ cấu lao động đã sự chuyển dịch theo hướng tích cực. Tỷ lệ thất nghiệp
giảm, tỷ trong lao động lao động trong ngành nông, lâm, ngư nghiệp giảm trong khi
tỷ trọng lao động làm việc trong các ngành lao động, dịch vụ lại tăng lên
+ Lĩnh vực giáo dục đã có những chuyển biến tích cực trong các bậc học,
ngành học.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực đã đat được, về mặt văn hoá - xã
hội vẫn còn rất nhiều vấn đề bức xúc như tệ nạn xã hôị, nạn tham nhũng, tai nạn
giao thông, trật tự trị an ở một số vùng còn phức tạp cần tiếp tục khắc phục trong
thời gian tới.
II/ Vai trò của FDI tại Việt Nam thời gian qua.
1)Các số liệu thực hiện:
1.1) Về quy mô vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
Theo“Báo cáo nghiên cứu đánh giá giữa kỳ,dựa trên kết quả kế hoạch phát
triển kinh tế – xã hội 5 năm2006-2010”(Bộ Kế hoạch và Đầu tư) vừa thực hiện đó
cho thấy: “Số vốn FDI đăng ký và thực hiện tăng kỷ lục trong cả ba năm, năm sau
cao hơn năm trước, nên tỷ trọng FDI trong tổng vốn đầu tư xã hội tăng từ 14,9%
năm 2005 lên 31,5% năm 2008. Điều này phản ánh niềm tin của các nhà đầu tư
nước ngoài vào môi trường kinh doanh minh bạch và thuận lợi hơn sau khi Việt
Nam trở thành thành viên của WTO.”

Công nghiệp nặng được xếp hàng đầu với khoảng 21% tổng FDI đăng ký, tiếp theo
là xây dựng và khách sạn, nhà ở.
Nông nghiệp, ngư nghiệp và lâm nghiệp chỉ chiếm khoảng 6% tổng số vốn
cam kết mặc dù Chính phủ Việt Nam đã áp dụng nhiều biện pháp ưu đãi để khuyến
khích FDI trong những lĩnh vực này.
Sự đóng góp của FDI vẫn thể hiện một vị trí tương đối nhỏ trong các lĩnh
vực dịch vụ do vẫn còn rào cản lớn. Các lĩnh vực này bao gồm cả ngân hàng, viễn
thông, quảng cáo, văn hoá, y tế và giáo dục. Với mối lo nếu như mở rộng các lĩnh
vực này sẽ ảnh hưởng lớn đến các công ty nội địa hoặc đưa các lĩnh vực này nằm
ngoài sự kiểm soát của Chính phủ, Chính phủ đã ban hành hàng loạt quy định hạn
chế FDI trong các lĩnh vực này (cụ thể là dự án 100% vốn nước ngoài trong viễn
thông, quảng cáo, …). Quy tắc này có thể cần được thay đổi do Hiệp định Thương
mại Song phương và việc Việt Nam tham gia vào WTO.
Đóng góp theo lĩnh vực của FDI thể hiện sự thay đổi cơ cấu trong suốt 10
năm qua. Trong giai đoạn đầu, trọng tâm của dòng FDI có vẻ như được đặt vào thị
trường dịch vụ trong nước như xây dựng, khách sạn và nhà ở, nguyên liệu xây
dựng, ngân hàng và tài chính, viễn thông. Thời gian trôi qua, nhiều hoạt động FDI
liên quan đến sản xuất hàng xuất khẩu như may mặc, điện tử, đẫ trở nên rõ nét hơn.
Xu hướng này dẫn đến sự thay đổi từ khuyến khích về vốn sang khuyến khích về
công nghiệp lao động. Điều đó có thể dễ nhận thấy qua việc tiếp tục giảm quy mô
trung bình của dự án đầu tư. Xu hướng này phản ánh sự thay đổi của các chính sách
FDI từ thay thế hàng nhập khẩu sang các hàng xuất khẩu. Trên cơ sở các điều kiện
của thị trường, đây không phải là một dấu hiệu bất lợi.
Một yếu tố quan trọng dẫn đến sự thay đổi trong mô hình FDI là sự phát triển
về số lượng các nhà đầu tư doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME).

17Như vậy, FDI chủ yếu tập trung hướng mạnh vào xuất khẩu, xây dựng kết

dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đồng thời thúc đẩy sự
phát triển của các ngành công nghiệp và dịch vụ tại Việt Nam.

18
Năm 2009, khu vực FDI đã tạo ra 36,2% giá trị sản lượng công nghiệp,
32,7% sản lượng thép cán, 50,3% về sứ vệ sinh, 89,4% về ô tô, 25% về thực phẩm
và đồ uống, 76% về dụng cụ y tế
Đối với các địa bàn trọng điểm (Hà nội, TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình
Dương, Bà Rịa- Vũng Tàu ) khu vực có vốn FDI đã chiếm tỷ trọng lớn trong tổng
vốn đầu tư, giá trị sản xuất công nghiệp, xuất khẩu, thu ngân sách, cũng như góp
phần quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế , nhờ đó các địa phương này có
tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn nhiều so với các nơi khác trong cả nước.
Ngoài ra, việc thu hút FDI đã chú trọng kết hợp các dự án công nghệ hiện đại
với các dự án thu hút nhiều lao động đã góp phần nâng cao trình độ công nghệ trong
nhiều ngành nghề, nâng cao trình độ kinh nghiệm quản lý kin h doanh từ đó góp
phần thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước cải tiến chất lượng, nâng cao khả năng
cạnh tranh.
Thông qua sự đóng góp của khu vực FDI, các quan hệ thương mại, đầu tư
giữa Việt Nam với các nước ngày càng mở rộng đã tạo thêm nhu cầu và khả năng
phát triển các ngành dịch vụ. Ngược lại, sự phát triển của các ngành dịch vụ cũng
góp phần quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
2.2) Hạn chế và nguyên nhân
Bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt được, hoạt động FDI trong thời gian
qua vẫn còn nhiều mặt hạn chế cần khắc phục. Cụ thể là:
- Vốn đầu tư đăng ký tuy tăng, nhưng vẫn còn dưới mức tiềm năng.
- Vốn đầu tư thực hiện tuy tăng qua các năm nhưng tỷ trọng vốn FDI trong
tổng vốn đầu tư toàn xã hội lại có xu hướng giảm dần do vốn FDI thực hiện tăng
chậm hơn so với vốn đầu tư của các thành phần kinh tế khác. Tỷ trọng FDI giảm từ
24% trong thời kỳ 1996 -2000 xuống còn khoảng 17,6% trong thời kỳ 2001- 2004.
Thời kỳ 2005-2009 chỉ còn 13,8%

kiện tiên quyết để phân cấp quản lý đầu tư và xây dựng có hiệu quả đã bị xem nhẹ
hoặc lãng quên. Đó là: năng lực của cơ quan được phân cấp phải đủ mạnh để thực
hiện nhiệm vụ được giao; quyền được phân cấp phải gắn liền với trách nhiệm về
quyết định đã ra; phải có các chế tài kiểm tra, giám sát thường xuyên.
Đê có thể chọn lọc được các dự án FDI phù hợp với lợi ích dài hạn của quốc
gia cần phải có bộ máy thẩm định, đánh giá dự án có năng lực. Tuy nhiên, không
phải địa phương nào cũng có đủ năng lực đánh giá dự án. Trách nhiệm về việc ra
quyết định phê duyệt dự án sai cũng ít khi bị truy cứu và có biện pháp sử lý thích
đáng. Công tác giám sát của các cơ quan quản lý nhà nước, trong đó có Bộ Kế
hoạch và Đầu tư vẫn còn những bất cập
Đó là một trong các nguyên nhân chính dẫn đến bảy nguy cơ tiềm ẩn trong
nhiều dự án đầu tư mới đăng ký gần ba năm qua tại Việt Nam. Bao gồm: Nguy cơ
“thổi phồng” về vốn và lợi nhuận; nguy cơ sử dụng quá nhiều nguồn lực khan hiếm
hoặc đang thiếu trầm trọng như đất đai, năng lượng, tài nguyên thiên nhiên; nguy cơ
hủy hoại và gây ô nhiễm môi trường; nguy cơ không phù hợp với quy hoạch phát
triển dài hạn, hoặc gây mất cân đối về cơ cấu trong quá trình phát triển dài hạn;
nguy cơ sử dụng công nghệ lạc hậu, thải loại; Nguy cơ “cướp vốn” của khu vực
kinh tế tư nhân trong nước. Và cuối cùng là nguy cơ thiếu hụt ngoại tệ và rủi ro tỷ
giá.

Nguyên nhân của những mặt hạn chế nói trên là :
Thứ nhất, nhận thức và quan điểm về FDI chưa thực sự thống nhất và
chưa được quán triệt đẩy đủ ở các cấp, các ngành. Sự phối hợp giữa các cơ quan

20
quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài còn yếu, đôi khi còn chưa thống nhất
quan điểm giữa các Bộ, ngành nên công tác xử lý dự án, thẩm định dự án còn
tình trạng kéo dài.
Thứ hai, môi trường đầu tư nước ta tuy đã được cải thiện nhưng tiến bộ đạt
được còn chậm hơn so với các nước trong khu vực, môi trường kinh tế, môi trường

giới, đó là những ngành: điện tử, tin học, các ngành công nghệ cao
- Phát triển những ngành đóng vai trò nền móng của toàn bộ nền công nghiệp
như: khai khoáng, luyện kim, hoá chất, vật liệu xây dựng
- Phát triển mạng lưới những ngành mang tính dịch vụ như: tài chính, ngân
hàng, thương mại, viễn thông, du lịch, khách sạn.
- Cải tạo và nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng, coi đó là nhiệm vụ cấp bách
nhất.
- Về cơ cấu vùng, lãnh thổ, phát triển cân đối trong một tương quan hợp lý
giữa các địa phương có tác động rất mạnh đến toàn bộ nền kinh tế, hiệu quả đầu tư.
Tập trung thu hút đầu tư vào các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao
đã được thành lập; xây dựng khu kinh tế mở với chính sách ưu đãi đặc thù để tạo
nên các vùng tăng trưởng mới có tác động lôi kéo, thúc đẩy nền kinh tế. Bên cạnh
việc đầu tư vào những các vùng trọng điểm cũng cần có chiến lược phân bố vốn cho
các vùng khác, tạo tiền đề phát huy tối đa, lâu dài lợi thế của từng vùng trong khả
năng vốn có thể của những năm tới. Còn về lâu dài, cần phải tạo ra các điều kiện
căn bản để giảm sự chênh lệch về khả năng và cơ hội hấp dẫn đầu tư giữa các địa
phương trong cả nước.
2) Mở rộng các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài:
Các hình thức FDI trên thế giới hiện nay rất đa dạng và phong phú; sự
chuyển hoá giữa các hình thức đầu tư cũng đòi hỏi rất linh hoạt do đòi hỏi của đời
sống kinh tế và tuỳ thuộc vào sự lựa chọn, quyết định của nhà đầu tư. Các dự án

22
FDI dù dưới hình thức nào cũng có tác động tích cực vào quá trình phát triển kinh
tế- xã hội ở Việt Nam, nếu dự án triển khai tốt. Vì vậy, ngoài những hình thức chủ
yếu truyền thống (hợp đồng hợp tác kinh doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước
ngoài, doanh nghiệp liên doanh) cần mở rộng và phát huy các hình thức khác như:
BOT, BT, BTO, KCX, KCN và khu công nghệ cao
3) Mở rộng thị trường đầu tư, tăng khả năng hội nhập với thế giới: hợp
tác đầu tư với nước ngoài phải góp phần mở rộng thị trường, từng bước hội

23
tư nhân vừa qua còn ít sản xuất lớn, do vậy việc chuyển giao công nghệ hiện đại,
tiên tiến hầu như chưa đặt ra. Đến nay, nhiều doanh nghiệp nhỏ đã lớn mạnh đến
mức độ cần thiết và có thể trang bị thiết bị tiên tiến, hoặc có điều kiện chuyển từ
kinh doanh thương mại là chính sang sản xuất công nghiệp, có nhu cầu trang bị
công nghệ và kỹ thuật hiện đại. Hơn nữa, sau nhiều năm khó khăn, nhiều nghề
thủ công truyền thống đã có sự phục hồi nhất định, đòi hỏi phải cải tiến, hiện đại
cả sản phẩm lẫn công nghệ truyền thống cho phù hợp với yêu cầu của thị trường.
Như vậy, việc chuyển giao công nghệ tới mọi thành phần kinh tế cần được thực
hiện và mở rộng.
Ba là, việc chuyển giao công nghệ cần được thực hiện một cách linh hoạt,
nhưng phải theo một chiến lược hoặc một phương hướng được cân nhắc, lựa chọn
trên những căn cứ khoa học. Cần đảm bảo tính linh hoạt về mặt hình thức chuyển
giao (mua công nghệ, tiếp nhận công nghệ ), thời điểm , đối tượng, quy mô, đối
tác để các doanh nghiệp có thể được thuận lợi, dễ dàng trong việc thực hành
chuyển giao công nghệ. Tuy vậy, cần phải có những chiến lược, phương hướng về
đổi mới công nghệ để một mặt có căn cứ lựa chọn, tránh tuỳ tiện, tiêu cực trong
chuyển giao. Mặt khác để đảm bảo những yêu cầu và mục tiêu vĩ mô, những
phương hướng chiến lược này không nhất thiết chỉ là của các cơ quan quản lý nhà
nước đề ra mà còn phải là bản thân các doanh nghiệp lập ra để thực hiện
Bốn là tăng cường vai trò của nhà nước đối với việc chuyển giao công nghệ.
Trong lĩnh vực này vai trò của Nhà nước cần thể hiện rõ trên các mặt sau đây:
- Xác định những tiêu chuẩn, giới hạn nhất định đối với các công nghệ được
chuyển giao.
- Thực hành giám định và kiểm tra đối với công nghệ được chuyển giao.
- Tổ chức quan hệ hợp tác nhằm phát triển công nghệ.
- Tổ chức mạng lưới thông tin công nghệ và hỗ trợ hoạt động tư vấn chuyển
giao công nghệ.
- Tổ chức công tác đào tạo nhằm tăng năng lực và trình độ kỹ thuật tình độ
công nghệ của lực lượng lao động kể cả lao động kỹ thuật, cán bộ nghiên cứu và

Danh mục đó sẽ sẽ bao gồm các dự án trọng điểm phù hợp với yêu cầu phát triển
của đất nước trong giai đoạn mới, đồng thời đáp ứng tốt hơn đòi hỏi và mong muốn
của các nhà đầu tư.
+Hệ thống luật pháp, chính sách về FDI cũng sẽ tiếp tục được hoàn thiện
theo hướng hình thành một mặt bằng pháp lý chung, đảm bảo tính công bằng và
minh bạch phù hợp với yêu cầu của hội nhập quốc tế.
Trong quá trình đó, Chính phủ Việt Nam sẽ tiếp tục nghiên cứu, mở rộng
lĩnh vực thu hút FDI và đa dạng hoá các hình thức đầu tư trong đó có việc mở cửa
lĩnh vực dịch vụ theo các cam kết quốc tế đã ký kết.
+Tiếp tục cải tiến thủ tục đầu tư, nâng cao hiệu quả lực quản lý nhà nước về
FDI, mở rộng phân cấp về FDI
+ Để hỗ trợ cho các doanh nghiệp nâng cao hiệu quản hoạt động và sức cạnh
tranh Chính phủ Việt Nam sẽ tiếp tục đẩy nhanh lộ trình áp dụng cơ chế một giá và
cắt giảm một số chi phí sản xuất, xóa bỏ phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư trong
nươc và các nhà đầu tư nước ngoài.
+Tăng cường đổi mới công tác vận động xúc tiến đầu tư nươc ngoài vào các
địa bàn trọng điểm, các tập đoàn xuyên quốc gia, các dự án sử dụng công nghệ cao
thuộc các lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế quốc dân.

25
III./ Một số giải pháp nhằm tăng cường vai trò tích cực của FDI vào Việt
nam trong thời gian tới.
Để tiếp tục thu hút FDI cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong đó
có việc đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế đất nước trong thời gian tới, đòi hỏi
chúng ta phải áp dụng đồng bộ nhiều giải pháp nhằm nâng cao tính hấp dẫn của
môi trường đầu tư tại Việt Nam. Những giải pháp chủ yếu cần được thực hiện trong
thời gian tới đó là:
1)Tiếp tục ban hành các cơ chế chính sách về FDI nhằm cải thiện
hơn nữa môi trường đầu tư:
- Rà soát và hệ thống hoá toàn bộ các văn bản pháp luật có liên quan đến


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status