LUẬN VĂN:
Thất nghiệp và những giải pháp
tìm kiếm việc làm
Lời nói đầu
Thất nghiệp là một vấn đề trung tâm của mọi xã hội, mọi nền kinh tế; nhất là
trong thời đại hiện nay khi tốc độ phát triển kinh tế - xã hội ngày càng nhanh chóng.
Thất nghiệp luôn luôn tồn tại trong các nước, kể cả các nước phát triển cũng như các
nước đang phát triển trong hầu hết các giai đoạn phát triển của mình.
Do thất nghiệp tồn tại một cách khách quan cho nên để phát triển một nền kinh
tế đòi hỏi đặt ra là: Sự tăng trưởng kinh tế cân đối với tỷ lệ thất nghiệp
(Tỷ lệ thất nghiệp cao đến mức độ nào thì chấp nhận được ?). Hiện nay,mỗi
quốc gia đều có các chính sách, các biện pháp để nhằm mục đích giảm tỷ lệ thất
Một quan niệm khác cho rằng thất nghiệp là tình trạng tồn tại khi một số nguời
trong lực lượng lao động muốn làm việc, nhưng không thể tìm được việc làm ở mức
tiền công đang thịnh hành, còn những người thất nghiệplà những người trong độ tuổi
lao động, có khả năng lao động, trong tuần lễ tham khảo (tức tuần lễ tiến hành điều
tra thu nhập thông tin không có việc làm đang có nhu cầu tìm việclàm và có đăng kí
tìm việc làm theo quy định).
Để thống nhất trong điều tra việc làm năm 1996. Bộ Lao động Thương binh và
Xã hội quy định: người thất nghiệp là người đủ 15 tuổi trở lên trong nhóm dân số
hoạt động kinh tế mà trong tuần lễ trước điều tra không có việc làm nhưng có nhu
cầu làm việc.
I.2 Tỷ lệ thất nghiệp
Để đánh giá mức độ hay tình trạng thất nghiệp,bên cạnh chỉ tiêu số lượng tuyệt
đối người ta dùng chỉ tiêu tương đối thông qua các tỷ lệ thất nghiệp ở các thời kỳ. Tỷ
lệ thất nghiệp thường được thể hiện qua tỷ lệ thất nghiệp chung và tỷ lệ thất nghiệp
các loại. Tỷ lệ thất nghiệp chung có được bằng cách so sánh tổng số người thất nghiệp
các loại với lực lượng lao động, còn tỷ lệ thất nghiệp một loại nào đó được tính trên
cơ sở so sánh tổng số người thất nghiệp loại đóvới tổng số người thất nghiệp các loại
hoặc lực lượng lao động. D.Begg cho rằng tỷ lệ thất nghiệp là số phần trăm của lực
lượng lao động không có việc làm mặc dầu có đăng ký là muốc làm việc và sẵn sàng
làm việc.
Bên cạnh đó, D.Begg còn đưa ra khái niệm thất nghiệp tự nhiên: Tỷ lệ thất
nghiệp tự nhiên là mức mà ở đó các thị trường lao động khác biệt ở trạng thái cân
bằng, ở một số thị trường thì cầu quá mức (hoặc nhiều việc không có người làm)
trong khi đó ở những thị trường khác thì cung quá mức (hay thất nghiệp). Gộp lại, tất
cả các nhân tố hoạt động để sức ép đối với tiền lương và giá cả trên tất cả các thị
trường đều cân bằng.
- Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên luôn phải lớn hơn số 0.Vì trong một nước rộng lớn,
Thất nghiệp hữu hình xãy ra khi người có sức lao động muốn tìm kiếm việc làm
nhưng không tìm kiếm được trên thị trường, còn thất nghiệp trá hình khi người lao
động làm các công việc với năng suất rất thấp không có góp phần tạo ra sản phẩm xã
hội và thu nhập quốc dân gì đáng kể mà cốt có thu nhập lấy từ tái phân phối để sống,
hoặc ẩn náu trong các cơ quan nhà nước.
Thất nghiệp còn được chia ra thất nghiệp dài hạn và thất nghiệp ngắn hạn. Thất
nghiệp dài hạn là những người thất nghiệp liên tục từ 12 tháng trở lên tính từ ngày
đăng ký thất nghiệp hoặc từ tuần lễ tham khảo trở về trước, còn những người thất
nghiệp ngắn hạn là những người thất nghiệp dưới 12 tháng tính từ ngày đăng ký thất
nghiệp hoặc từ tuần lễ tham khảo trở về trước.
II. Thực trạng thất nghiệp ở Việt Nam
II.1 Tình hình thất nghiệp ở Việt Nam
Tỷ lệ thất nghiệp của lao động độ tuổi tham gia hoạt động kinh tế khu vực thành
thị cả nước là 6,74%. Nếu đem so sánh với 1999 tỷ lệ này giảm 0,11%. Trong 8 vùng lãnh thổ có một vùng tỷ lệ thất nghiệp ở mức 8% (Đồng Bằng
Sông Hồng). Một vùng trên mức 7% (Bắc Trung Bộ). Các vùng còn lại tỷ lệ thất
nghiệp giao động 6% đến dưới 7% so với các năm trước tỷ lệ thất nghiệp các vùng
đều giảm nhưng không đáng kể.
Trong 61 tỉnh thành phố có 20 tỉnh tỷ lệ thất nghiệp năm 2000 tăng so với 1999,
trong đó có một tỉnh gia tăng ở mức trên 2%, 2 tỉnh tăng từ mức 4 đến dưới 2%, 6
tỉnh tăng từ 0,5 đến dưới 1%, 11 tỉnh ở mức dưới 0,5%. Cả nước có 41 tỉnh giảm tỷ
lệ thất nghiệp so với 1999, trong đó hầu hết giảm ở dưới mức 0,5%.
Riêng các tỉnh thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng tỷ lệ thất nghiệp tuy giảm
nhưng vẫn ở mức cao (trên 8%) và thành thị có xu hướng tăng. Thời gian nhàn rỗi,
thiếu việc làm ở nông thôn là: Năm 1998 là 29,12%; Năm 1999 là 31,14%.
II.2. Thực trạng lực lượng lao động ở Việt Nam
II.2.1 Quy mô lực lượng lao động ở Việt Nam giai đoạn 1997 - 2001:
Tính đến 1/7/2001, tổng lực lượng lao động cả nước có 38.643.089 người, so
năm 2001 giảm xuống còn 20,49%. Bình quân hàng năm giảm được 338.021 người
với tốc độ giảm 3,86%/năm.
- Số người tốt nghiệp cấp III tăng nhanh cả về số lượng và tỷ lệ: Năm 1997 tỷ lệ
này là 13,47%, đến năm 2001 tăng lên 17,23%; bình quân hàng năm tăng thêm
495.258 người với tốc độ tăng 9,22%/năm.
ở khu vực thành thị, nông thôn tình hình cũng diễn ra tương tự, tuy nhiên trình
độ học vấn của lực lượng lao động ở thành thị vẫn vượt khá xa so với nông thôn.
- Lao động đã qua đào tạo tư sơ cấp, học nghề trở lên tăng đáng kể cả về số
lượng và tỷ lệ chiếm trong tổng lực lượng lao động.Năm 1997, tỷ lệ này là 11,81%
đến năm 2001 tăng lên 15,51%; bình quân hàng năm tăng thêm 472.038 người,với
tốc độ tăng 9,92%/năm. Trong đó tăng nhiều nhất và nhanh nhất là lao động được
đào tạo ở trình độ từ cao đẳng, đại học trở lên (174.343 người với tốc độ tăng
16,86%/năm), tiếp đến là lao động đã qua đào tạo nghề - công nhân kỹ thuật
(131.905 người với tốc độ tăng 7,58%/năm); thấp nhất là tốt nghiệp trung học chuyên
nghiệp cũng tăng thêm được hàng năm 131.905 người với tốc độ tăng 8,64%/năm; ở
các vùng lãnh thổ, khu vực thành thị, nông thôn, các tỉnh trọng điểm và nhiều tỉnh
trong cả nước cũng diễn ra xu hướng tương tự. II.2.3 Cơ cấu lực lượng lao động có việc làm thường xuyên chia theo nhóm
ngành:
Năm 2001 có sự dịch chuyển rõ rệt so với năm 1997 theo hướng: giảm cả về số
lượng và tỷ lệ lao động làm việc trong nhóm ngành nông nghiệp, tăng cả về số lượng
và tỷ lệ lao động làm việc trong nhóm ngành Công nghiệp,
Xây dựng và Dịch vụ. Năm 1997 có 23.601.918 người làm việc trong các ngành
nông, lâm, ngư, chiếm 69,80% so với tổng số lao động đang làm việc trong các
ngành kinh tế quốc dân nói chung, đến năm 2001 giảm xuống còn 22.669.907 người
chiếm 62,56%; trong khi đó lao động làm việc trong các ngành Công nghiệp và Xây
dựng tăng từ 3.566.513 người (năm 1997) lên 4.743.705 người (năm 2001) và tỷ lệ
so với tổng số đã tăng từ 10,55% lên 13,15%; lao động làm việc trong các ngành dịch
không tạo được điều kiện giải quyết việc làm thường đi đôi với hiện tượng các doanh
nghiệp sử dụng quỹ lương hạn chế nên xảy ra hiện tượng dư thừa lao động là tất yếu.
Đáng chú ý nhất là thất nghiệp do yếu tố ngoài thị trường hay còn gọi là thất nghiệp
theo lý thuyết cổ điển: nó xảy ra khi tiền lương được ấn định không bởi các lực lượng
thị trường và cao hơn mức lương cân bằng. Sự thể hiện được thông qua mô hình sau:
Khoảng cách giữa hai đường cung biểu thị con số thất nghiệp tự nguyện (EF
hoặc BC). Đường LD là đường cầu lao động, do nhu cầu lao động của các doanh
nghiệp quyết định.
Mức
lương LS
'
LS
W D A B C
W
*
G E F
E
'
LD
'
LD O N
4
N
3
nhận một công việc mà lần đầu tìm thấy cho nên anh ta sẽ di chuyển để tìm cho mình
một công việc thích hợp và mức lương tương xứng.
- Sự điều chỉnh của Chính phủ đối với lực lượng lao động bằng hàng loạt các
chính sách về tiền lương hay đào tạo hoặc phân vùng đôi khi không phù hợp
thường gây ra thất nghiệp ngoài mong muốn
* Ngoài ra, các chính sách khác của Chính phủ như: Chính sách tài khoá, sự
điều chỉnh lạm phát tác động ngược chiều với sự giảm của tỷ lệ thất nghiệp hay
việc đầu tư mất cân đối cũng gây ra sự dư thừa lao động trong nền kinh tế III ảnh hưởng của thất nghiệp đến phát triển kinh tế - xã hội và các giải pháp
chủ yếu nhằm làm giảm bớt thất nghiệp
III.1 ảnh hưởng của thất nghiệp đến phát triển kinh tế - xã hội
Khi nói đến ảnh hưởng của thất nghiệp, người ta thường tập trung vào ảnh
hưởng tiêu cực của nó, thất nghiệp ảnh hưởng kinh tế lẫn xã hội
Xét về mặt kinh tế, thất nghiệp gắn chặt với đói nghèo. Tỷ lệ thất nghiệp cao
không những gây thiệt hại lớn cho nền kinh tế mà còn gây nhiều khó khăn cho cuộc
sống người lao động. Những người thất nghiệp tuy không sản xuất ra sản phẩm,
nhưng vẩn phải tiêu dùng một lượng nhất định, đặc biệt ở độ tuổi trưởng thành, mức
tiêu dùng tường lớn hơn các độ tuổi khác. Giả sử số người thất nghiệp đó nếu được
làm việc, họ sẽ tạo ra một lượng giá trị tối thiểu mà họ tiêu dùng (thực tế thường
nhiều hơn) thì mỗi năm Nhà nước thiệt hại về mặy kinh tế hàng nghìn tỷ đồng do thất
nghiệp gây nên. Thất nghiệp không chỉ ảnh hưởng đến nền kinh tế mà còn ảnh hưởng
đến cuộc sống của những người thất nghiệp. Đối với nước ta, những ngươì thất
nghiệp là những người không có nguồn thu nhập, phải sống nhờ vào nguồn thu nhập
khác của gia đình. Hơn nữa, những người thất nghiệp là những người chủ trong gia
đình, nguồn thu nhập của họ cá ảnh hưởng rất lớn và nhiều khi có tính chất quyết
định đến đời sống kinh tế của cả gia đình họ nữa. Do tính chất quyết định của kinh tế,
khi đời sống kinh tế gia đình khó khăn, thất nghiệp tác động đến mọi mặt của cuộc
sống gia đình. Đây chính là nguyên nhân và nguồn gốc của những phức tạp xã hội.
tố có liên quan đến cung lao động. Những yếu tố đó chủ yếu bao gồm:
- Những yếu tố liên quan đến dân số, trong đó bao gồm quy mô dân số, cơ cấu dân
số theo tuổi và giới tính, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của các nhóm tuổi và di
dân. Việc giảm áp lực gia tăng dân số được tiến hành thông qua việc thực hiện mạnh
mẽ chính sách dân số, trước hết là chính sách giảm tỷ lệ sinh. Bên cạnh đó, đối với
những vùng dân cư tập trung đông đúc (thành phố, các khu công nghiệp ) cần có
chính sách di dân và phân bố dân cư và lực lượng lao động hợp lý nhằm ngăn chặn
dòng dân tự do vào các khu đô thị lớn, đồng thời tạo ra các dòng phản di dân, có
chính sách khuyến khích người dân ra nước ngoài sinh sống, lao động và học tập.
- Nhà nước có thể thông qua hàng loạt các biện pháp và chính sách khác liên
quan đến thay đổi độ tuổi lao động, chính sách trợ cấp thất nghiệp, chính sách trợ cấp thất nghiệp, chính sách trợ cấp thất nghiệp, chính sách tuyển dụng lao dụng lao động,
chính sách tuyển dụng lao động, chính sách tiền lương nhằm giảm bớt sức ép về
cung lao động trong từng thời kỳ nhất định.
Các giải pháp cung lao động không phải là những giải pháp cơ bản lâu dài mà
chỉ mang tính chất nhất thời, ứng phó nhiều hơn.
III.2.2 Các giải pháp tăng cầu lao động
Thực chất của các giải pháp tăng cầu lao động là tạo thêm nhiều việc làm cho
người lao động. Đây là những giải pháp vừa cơ bản vừa lâu dài vừa khó khăn, phức
tạp. Trong điều kiện khả năng vốn, đầu tư còn hạn chế như ở nước ta hiện nay, đòi
hỏi chúng ta cần cân nhắc kỹ lưỡng trong việc xác định cơ cấu đầu tư và lựa chọn
phương án đầu tư thích hợp để đầu tư và lựa chọn phương án đầu tư thích hợp để tạo
ra được nhiều việc làm, mà còn tạo điều kiện tăng trưởng kinh tế. Các nhà kinh tế
cho rằng đầu tư vào ngành nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, các ngành thuộc khu
vực phi kết cấu sẽ tạo ra được nhiều việc làm hơn là đầu tư vào ngành công nghiệp
và các ngành hiện đại khác, nhưng lại tạo ra ít tổng sản phẩm quốc dân (GDP) hơn;
chẳng hơn, cùng lượng vốn đầu tư như nhau, nếu đầu tư vào nông nghiệp sẽ tạo được
việc làm nhiều gấp 20 lần so với đầu tư vào công nghiệp. Tuy nhiên, nếu đầu tư vào
Kết Luận
Thất nghiệp là một hiện tượng kinh tế xã hội tồn tại một cách khách quan và
gây ra những hậu quả xấu ngăn cản sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế. Vì vậy, vấn
đề giải quyết thất nghiệp là vấn đề cấp bách hơn bao giờ hết, giảm bớt thất nghiệp
không những tạo điều kiện để phát triển kinh tế mà còn thúc đẩy ổn định xã hội. Một
xã hội có nền kinh tế phát triển, tỷ lệ thất nghiệp, những người thất nghiệp được bảo
hiểm thất nghiệp, kỷ cương xã hội được thiết lập, duy trì và đẩy mạnh thấp thì tệ nạn
xã hội sẽ bị đẩy lùi, đời sống nhân dân được nâng cao.
Bởi vậy, các chủ trương chính sách nhằm phát triển kinh tế- xã hội phải được
kết hợp một cách đồng bộ và có hiệu quả với giảm thiểu tỷ lệ thất nghiệp, tạo ra
nhiều công ăn việc làm cho người lao động tạo điều kiện để nước ta tiến lên XHCN
một cách vững chắc.
Tài liệu tham khảo
1/ Nguyễn Quang Hiển: “Thị trường lao động thực trạnh và giải pháp,
Nhà xuất bản thống kê 2001.
2/ Nguyễn Quang Hiển: “Xu hướng vận động của thị trường lao động nước ta”.
Tạp chí kinh tế dự báo số 1/2001
3/ Trần Đình Hoan và Lê Mạnh Khoa: “Sử dụng nguồn lao động và giải quyết
việc làm ở Việt nam” Nhà xuất bản - Hà nội 2000
4/ Trần Minh Trung: “Để có việc làm cho người lao động”. Tạp chí thương mại,
12/2001
5/ Một số nhiệm vụ và giải pháp có tính chiến lược về lao động xã hội đến năm
2001. Đề tài cấp bộ - Bộ lao động - thương binh và xã hội 2001.