LUẬN VĂN: Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam - Pdf 11


LUẬN VĂN:

Phát triển nền kinh tế thị
trường định hướng Xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam LờI Nói đầu

Cho đến cuối những năm 80, về cơ bản nền kinh tế nước ta là nến kinh tế tự
nhiên được quản lý bằng cơ chế tập trung quan liêu bao cấp. Nền kinh tế tự cấp tự túc
đã bộc lộ rõ những hạn chế trong thời đại mới. Chính vì vậy nó làm cho nền kinh tế
nước ta ngày càng đi xuống và trở nên khủng hoảng trầm trọng. Nhận thức được vấn
đề này ở Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI Đảng ta đã đề ra chủ trương đổi mới cơ
chế quản lý kinh tế, chuyển từ cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế
PHầN I:
lý luận chung về kinh tế thị trường
I. Kinh tế thị trường.
Lịch sử phát triển của sản xuất và đời sống xã hội của nhân loại đã và đang trải
qua hai kiểu tổ chức kinh tế thích ứng với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và
phân công lao động xã hội, hai thời đại kinh tế khác nhau về chất. Đó là: thời đại kinh
tế tự nhiên, tự cung – tự cấp; và thời đại kinh tế hàng hoá, mà giai đoạn cao của nó
được gọi là kinh tế thị trường.
Kinh tế tự nhiên là kiểu tổ chức kinh tế xã hội đầu tiên của nhân loại. Đó là
phương thức sinh hoạt kinh tế ở trình độ thấp ban đầu là sử dụng những tặng vật của tự
nhiên và sau đó được thực hiện thông qua những tác động trực tiếp vào tự nhiên để tạo
ra những giá trị sử dụng trong việc duy trì sự sinh tồn của con người. Nó đã tồn tại và
thống trị trong các xã hội cộng sản nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ, phong kiến và tuy
không còn giữ địa vị thống trị nhưng vẫn còn tồn tồn tại trong xã hội tư bản cho đến
ngày nay. Kinh tế tự nhiên gắn liền với kém phát triển và lạc hậu.
Kinh tế hàng hoá, bắt đầu bằng kinh tế hàng hoá giản đơn, ra đời từ khi chế độ
cộng sản nguyên thuỷ tan rã, dựa trên hai tiền đề cơ bản là có sự phân công lao động
xã hội và có sự tách biệt về kinh tế do chế độ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất.
Chuyển từ kinh tế tự nhiên, tự cung, tự cấp sang kinh tế hàng hoá là đánh dấu bước
chuyển sang thời đại kinh tế của sự phát triển, thời đại văn minh của nhân loại.
Kinh tế hàng hoá ra đời là một sự phát triển tất yếu của nền sản xuất - xã hội.
Nó đối lập với nền kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc. Kinh tế hàng hoá là sản phẩm tất
yếu khách quan của một quá trình lịch sử phát triển lâu dài trên lĩnh vực tổ chức kinh
tế của xã hội loài người.
Kinh tế thị trường là kinh tế hàng hoá phát triển ở trình độ cao; là sản xuất để
trao đổi gắn liền với phân công lao động xã hội mở rộng và trình độ chuyên môn hoá
phát triển gắn liền với hệ thống các loại thị trường; với hệ thống luật pháp bảo đảm
cho nền kinh tế phát triển năng động và kỷ cương.

nhân dân lao động, của toàn thể xã hội, là sự thiết lập một trật tự xã hội với mục tiêu
công bằng và văn minh.
3. Những tiền đề cần thiết để phát triển kinh tế thị trường ở nước ta
- Nguồn lao động dồi dào, người lao động cần cù, có trình độ tay nghề và năng
lực lao động khá cao. Đây thực sự là một yếu tố thuận lợi và là một nguồn lực chủ yếu
có tính chất quyết định để phát triển kinh tế thị trường ở nước ta. Nhưng hiện nay lực
lượng lao động đó chưa được sử dụng một cách đầy đủ và hợp lý.
- Cơ sở vật chất – kỹ thuật và trình độ công nghệ mặc dù chưa lớn, chưa đồng
bộ, chưa hiện đại, nhưng với những gì mà chúng ta đã có, nếu biết tổ chức quản lý và
sử dụng có hiệu quả hơn, thì chắc chắn đây là một khả năng hết sức to lớn để phát triển
kinh tế thị trường.
Sự phát triển nhanh chóng của cuộc cách mạng khoa học công nghệ trên thế
giới là điều kiện tốt để ta có thể tiếp thu và ứng dụng, nhanh chóng đưa nền kinh tế
nước ta phát triển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
- Các tiềm năng về khí hậu, tài nguyên, vị trí địa lý khá thuận lợi, dồi dào
phong phú.
- Nguồn vốn trong và ngoài nước đầu tư để phát triển kinh tế nói chung và phát
triển kinh tế hàng hoá nói riêng đang tăng lên với tốc độ khá nhanh và quy mô lớn.
- Thị trường trong nước giàu tiềm năng, thị trường ngoài nước ngày càng được
mở rộng cùng với xu thế quốc tế hoá, khu vực hoá và tự do thương mại thế giới.
Như vậy, việc xây dựng nền kinh tế hàng hoá ở nước ta trong thời kỳ quá độ
chẳng những là một tất yếu cần thiết mà nước ta còn có đủ khả năng, điều kiện để thực
hiện. Thực tiễn những năm qua đã chứng minh điều này.
II. Những đặc điểm chủ yếu của nền kinh tế hàng hoá ở nước ta hiện nay
1. Đặc điểm phát triển kinh tế thị trường ở nước ta
a. Phát triển nền kinh tế hàng hoá trên cơ sở của một nền kinh tế kém phát triển
- Nhìn chung, nước ta còn nghèo và kém phát triển. Nền kinh tế vẫn mang tính

Với điểm xuất phát thấp như nước ta thì tranh thủ nguồn lực bên ngoài là vấn
đề quan trọng. Vì vậy, phải có chính sách rộng mở và khôn khéo, cách làm có hiệu quả
để mở rộng hợp tác với bên ngoài, nhằm khai thác tốt nhất lợi thế trong nước và cũng
là phù hợp với xu thế chung của thời đại. Thông qua quan hệ kinh tế quốc tế, chúng ta
có thể giải quyết được về nguồn vốn, về khoa học – kỹ thuật và công nghệ tiên tiến,
hiện đại; về thị trường tiêu thụ hàng hoá; về kinh nghiệm tổ chức quản lý.

1
Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ IX, Nxb .Chính trị quốc gia, Hà nội,2001, tr.86)

Nhưng cũng cần thấy được tính chất hai mặt của chính sách kinh tế mở (mặt
tích cực và mặt tiêu cực). Cho nên, khi hoạch định chiến lược và chính sách phát triển
kinh tế đối ngoại, chúng ta cần quán triệt điều đó.
d. Nền kinh tế nước ta trong quá trình chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung
quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước.
Cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp với đặc trưng vốn có của nó đã
gây ra những tác động tiêu cực và để lại những hậu quả nặng nề đối với các vấn đề
kinh tế – xã hội.
Vì vậy, chúng ta chủ trương xoá bỏ cơ chế lỗi thời đó, đồng thời phải từng bước
xây dựng cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước. Hiện nay, về cơ bản cơ chế cũ
đã được xoá bỏ, nhưng chưa thật triệt để; cơ chế mới đã được hình thành và đang trở
thành cơ chế vận hành của nền kinh tế, nhưng chưa thật hoàn thiện và vững chắc. Điều
đó nói lên tính chất khó khăn, phức tạp của giai đoạn quá độ từ cơ chế cũ sang cơ chế
mới.
2. Đặc trưng của mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta
Đại hội IX Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: Nền kinh tế thị trường định

PHầN II:
thực trạng nền kinh tế thị trường ở Nước ta hiện nay.

I. Những thành tựu chủ yếu: Tốc độ tăng của một số ngành và một số lĩnh vực kinh tế
2001-2004

Chỉ tiêu
Năm
2001
Năm
2002
Năm
2003
Năm 2004
Số báo
cáo Quốc
hội tháng
10/2004
Số
ước cuối
năm
(12/2
004)
- Tốc độ tăng t
ổng sản phẩm
trong nước (GDP) (%)
6,9 7,1 7,3 7,6 7,7

vượt
9,8% so với dự toán năm;
(8) Bội chi ngân sách nhà nước là 5% GDP, bằng dự toán đề ra; (9) Vốn đầu tư
toàn xã hội đạt 35,4% GDP (kế hoạch đề ra là 36%);
(10) Giá hàng tiêu dùng tăng 9,5% (kế hoạch đề ra là dưới 5%);
(11) Tạo việc làm và bổ sung việc làm mới cho 1,55 triệu người, đạt kế hoạch;
(12) Số học sinh học nghề tuyển mới tăng 7%, đạt kế hoạch;
(13) Tỷ lệ hộ đói nghèo còn 8,3%, so với kế hoạch là dưới 10%;
(14) Tỷ lệ sinh giảm 0,037%, (kế hoạch là 0,04%);
(15) Giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng xuống còn 26%, đạt kế hoạch.
Trên cơ sở tình hình phát triển kinh tế - xã hội 3 năm 2001 - 2003 và kết quả thực
hiện kế hoạch năm 2004 như trên, có thể đánh giá tình hình thực hiện các mục tiêu và
nhiệm vụ 4 năm 2001 - 2004 so với kế hoạch 5 năm như sau:
1- Kinh tế tăng trưởng liên tục với tốc độ tương đối cao và cơ cấu kinh tế tiếp
tục chuyển dịch theo hướng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Nền kinh tế trong 4 năm qua duy trì được tốc độ tăng trưởng khá và ổn định; nhịp
độ tăng trưởng GDP bình quân 4 năm 2001 - 2004 khoảng 7,2% (năm 2001 tăng 6,9%,
năm 2002 tăng 7,1%, năm 2003 tăng 7,3%, năm 2004 tăng 7,7%); tuy thấp hơn 0,3%
so với mức kế hoạch bình quân chung 5 năm 2001 - 2005; nhưng trong điều kiện khó
khăn cả ở trong và ngoài nước thì mức tăng trưởng đạt được trong 4 năm qua là một cố
gắng rất lớn; đây là mức tăng trưởng khá cao so với các nước trong khu vực.
Giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp tăng bình quân trong 4 năm (2001 - 2004)
là 5,2% (kế hoạch là 4,8%). Tuy nhiên, giá trị tăng thêm (GDP nông nghiệp) dự kiến
chỉ đạt khoảng 3,4%, thấp hơn mục tiêu đề ra (mục tiêu 5 năm là 4%/năm).
Giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân trong 4 năm (2001 - 2004) tăng
15,3%, (kế hoạch 5 năm 2001 - 2005 là 13,1%). Tuy nhiên, do chi phí sản xuất còn
cao nên giá trị tăng thêm của công nghiệp bình quân 4 năm chỉ đạt 10%, thấp hơn kế

ngành dịch vụ bắt đầu có sự thay đổi theo hướng gia tăng tỷ trọng các ngành dịch vụ
có chất lượng cao như tài chính, ngân hàng, bảo hiểm Các hoạt động thương mại
diễn ra sôi động, đáp ứng tốt hơn nhu cầu tiêu dùng và sản xuất kinh doanh. Tỷ trọng
của ngành thương nghiệp tăng từ 36% năm 2003 lên 36,5% năm 2004. Các sản phẩm
xuất khẩu đã qua chế biến được nâng dần qua các năm (Năm 2000, hàng qua chế biến
chiếm 44,2% tổng giá trị xuất khẩu, năm 2001: 46,7%; năm 2002: 50,4%; năm 2003:
55%; năm 2004: 57%).
2- Vốn đầu tư phát triển và cơ sở hạ tầng của nền kinh tế đã tăng lên đáng kể.
Đầu tư phát triển là một trong những yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế và
giải quyết nhiều vấn đề xã hội vì hoạt động này trực tiếp làm tăng tài sản cố định, tài
sản lưu động, tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực; đồng thời góp phần quan trọng vào
việc thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia nhằm nâng cao mức sống dân cư và
mặt bằng dân trí; bảo vệ môi trường sinh thái và đưa các chương trình phát triển kinh
tế-xã hội khác vào cuộc sống.
Do nhận thức được vai trò quan trọng của đầu tư phát triển như vậy nên trong
những năm vừa qua chúng ta đã có nhiều chính sách và giải pháp khơi dậy nguồn nội
lực và tranh thủ các nguồn lực từ bên ngoài để huy động vốn cho đầu tư phát triển.
Như vậy, tổng số vốn đầu tư phát triển đưa vào nền kinh tế 4 năm 2001 - 2004 (tính
theo giá 2000) khoảng 731 nghìn tỷ đồng, đạt khoảng 88% kế hoạch 5 năm đề ra.
Trong đó, vốn đầu tư thuộc ngân sách nhà nước chiếm 21,9%; vốn tín dụng đầu tư của
Nhà nước chiếm 14,7%; vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước chiếm 17,7%; vốn đầu
tư của tư nhân và dân cư chiếm 25,7%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm 17,3%.
Trong 4 năm 2001 - 2004 cam kết ODA dự kiến đạt khoảng 10,5 tỷ USD; giải ngân
ODA ước đạt khoảng 6,2 tỷ USD.
Nguồn lực huy động cho đầu tư phát triển đa dạng hơn, phát huy nội lực tốt hơn,
nguồn vốn trong nước đạt khá, nhất là nguồn vốn đầu tư của dân. Vốn đầu tư của dân
cư và doanh nghiệp tư nhân đạt 67 nghìn tỷ đồng, tăng 15,3%. Vốn đầu tư trực tiếp

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 (trên 8%). Trong khi đó trong cùng thời kỳ này,
một số nước trong khu vực đã vươn lên có tốc độ tăng trưởng cao hơn nhiều hoặc tốc
độ tăng trưởng cao hơn năm trước.(Theo đánh giá của Ngân hàng Phát triển Châu á
(ADB), trong cùng thời kỳ, Trung Quốc tăng 8,8%; Malaixia tăng 6,8%, cao hơn 1,6%
so với năm 2003; Singapore tăng 8,1%.)
Năng suất lao động thấp. Đóng góp vào tăng trưởng kinh tế vẫn chủ yếu là yếu tố
vốn và lao động, yếu tố về tiến bộ khoa học công nghệ và quản lý tuy đã có xu hướng
tăng lên nhưng vẫn chiếm tỷ trọng nhỏ.
Ngành nông nghiệp bị ảnh hưởng nặng nề bởi dịch bệnh và thiên tai, tuy giá trị
sản xuất đạt cao, nhưng giá trị gia tăng tăng trưởng thấp so với kế hoạch.( Kế hoạch
đặt ra là 4%, nhưng chỉ ước đạt 3,3%) Trong ngành công nghiệp, tuy tỷ trọng giá trị
gia tăng so với giá trị sản xuất đã tăng lên, song mức chênh lệch giữa tốc độ tăng
trưởng giá trị sản xuất và giá trị gia tăng vẫn còn lớn. (Hàng năm giá trị sản xuất
ngành công nghiệp tăng 15,5-16%, nhưng giá trị gia tăng của ngành tăng khoảng 10-
10,5%.) Ngành công nghiệp chế biến, chế tác là ngành có đóng góp vào tăng trưởng
của toàn ngành công nghiệp khoảng từ 55 - 65% lại phụ thuộc vào nhập khẩu nguyên
liệu nên thiếu tính ổn định. Chi phí sản xuất trong ngành công nghiệp tuy đã giảm,
song vẫn còn cao so với các nước trên thế giới. (Năm 2003 giá trị sản xuất công
nghiệp (giá năm 1994) tăng 16%, nhưng giá trị tăng thêm chỉ tăng 10,28%, dự kiến
năm 2004 giá trị sản xuất công nghiệp tăng khoảng 15,6% nhưng giá trị tăng thêm của
ngành công nghiệp đã tăng khoảng 10,7%. Tuy nhiên, chênh lệch giữa tốc độ tăng về
giá trị sản xuất và giá trị tăng thêm còn cao so với các nước trong khu vực.) .
Sức cạnh tranh của một số sản phẩm tuy có được cải thiện song vẫn còn yếu so
với các nước trong khu vực. Lĩnh vực dịch vụ là lĩnh vực đóng góp lớn vào tăng
trưởng nhưng năm 2004 tốc độ tăng trưởng vẫn thấp (dự kiến tăng 7,3%). Khu vực
kinh tế nhà nước còn nhiều yếu kém, đặc biệt là khu vực doanh nghiệp nhà nước,
nhiều tiêu cực trong các Tổng công ty nhà nước được phát hiện. Hiệu quả hoạt động

3. Nguồn nhân lực tương đối lớn nhưng chất lượng chưa đáp ứng được yêu
cầu của sự nghiệp đổi mới và của tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất
nước.
Nước ta được xếp vào hàng các quốc gia có trình độ học vấn cao nhưng do xuất
phát điểm là nước nông nghiệp lạc hậu, tiếp theo đó là những năm dài nền kinh tế vận
hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung cao độ, quan liêu bao cấp nên đã để lại hậu
quả nặng nề về đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế cũng như đội ngũ những người lao
động.
Nước ta hiện nay có trên 50 triệu người từ 15 tuổi trở lên, nhưng tỉ lệ qua đào tạo
nghề nghiệp và chuyên môn kĩ thuật rất thấp. Theo kết quả điều tra dân số 1-4-1999 thì tới
thời điểm điều tra chỉ có 7,6% dân số từ 13 tuổi trở lên có bằng cấp về một trình độ
chuyên môn kĩ thuật nào đó, tức là đã qua trường lớp đào tạo, trong đó 2,3% là công nhân
kĩ thuật và nhân viên nghiệp vụ có bằng cấp; 2,8% có trình độ trung học chuyên nghiệp;
0,7% cao đẳng; 1,7% đại học và 0,1% có trình độ trên đại học. Tỷ lệ qua đào tạo đã thấp,
cơ cấu đào tạo lại bất hợp lý. Quan hệ tỷ lệ đào tạo giữa 3 loại trình độ chuyên môn kỹ
thuật; (1) đại học và trên đại học; (2) Trung học chuyên nghiệp; (3) Công nhân kỹ thuật
theo thông lệ quốc tế là: 1 - 4 - 10 hoặc 1 - 3 - 5, nhưng ở nước ta các tỷ lệ này tới thời
điểm tổng điều tra dân số năm 1- 4-1989 là 1 - 1,16 - 0,96 và đến thời điểm tổng điều
tra dân số 1-4-1999 còn bất hợp lý hơn với quan hệ tỷ lệ: 1- 1,13 - 0,92.
Cơ cấu đào tạo bất hợp lý nên tình trạng “thừa thầy, thiếu thợ” trong nền kinh tế
có xu hướng ngày càng trầm trọng. Sinh viên ra trường không có việc làm, nhưng các
doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp đầu tư nước ngoài lại không tìm được công nhân
kỹ thuật và thợ lành nghề.
Nền kinh tế nước ta đang trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa và nhân loại đang bước vào nền kinh tế tri thức mà bản thân người lao động không
biết nghề hoặc biết nghề không đến nơi đến chốn thì rất khó tìm việc làm vì ngày nay
người ta quan tâm chủ yếu đến chất lượng lao động chứ không tập trung vào khai thác

Mục tiêu và động lực trực tiếp của kinh tế hàng hoá về mặt kinh tế là phải thu
được lợi nhuận tối đa. Vì vậy, trước hết cần xác định được cơ cấu kinh tế phù hợp nhất
cho từng đơn vị, từng ngành và giữa các vùng, các ngành cũng như trên phạm vi cả
nước.
Cơ cấu kinh tế mới, hợp lí nghĩa là cơ cấu kinh tế đó phải theo hướng tiến lên
hiện đại, tạo những điều kiện thuận lợi cho phát triển lực lượng sản xuất, khoa học –
kỹ thuật công nghệ; khai thác và phát huy được những lợi thế so sánh của đất nước về
tài nguyên, nhân lực, vị trí địa lý kinh tế. tăng cường giao lưu hợp tác quốc tế, sản
xuất ra nhiều hàng hoá có giá trị xuất khẩu cao, thay thế nhập khẩu một cách có hiệu
quả, đưa nền kinh tế đất nước hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Ngoài ra,
trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế cần chú ý đến tính ổn định, trên cơ sở đó để xác định
đúng đắn và có hiệu quả kinh tế các phương án đầu tư.
Muốn vậy, Nhà nước cần có quy hoạch tổng thể, mang tính chất định hướng;
phải xác định được khá chính xác nhu cầu hiện tại và dự đoán nhu cầu tương lai
2. Thực hiện nhất quán chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần, tạo
động lực và môi trường thuận lợi hơn nữa cho các thành phần kinh tế và các loại
hình doanh nghiệp phát triển nhanh, có hiệu quả cao
Cần khẳng định chính sách kinh tế nhiều thành phần có ý nghĩa chiến lược lâu
dài và nhất quán, có tính quy luật từ sản xuất nhỏ đi lên chủ nghĩa xã hội, có tác dụng
to lớn trong việc phát triển lực lượng sản xuất.
- Đối với kinh tế nhà nước, điều quan trọng và cấp bách là tiếp tục sắp xếp và
đổi mới hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, hướng tới một cơ cấu sản xuất và đầu
tư năng động của nền kinh tế, cho phép tận dụng và phát huy được lợi thế so sánh về
tài nguyên, nguồn lực con người . Nâng cao vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước
(trong đó có doanh nghiệp nhà nước) trong nền kinh tế quốc dân với tư cách là một
công cụ có sức mạnh để nhà nước điều tiết, hướng dẫn nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần phát triển đúng hướng.

hợp lý thì Nhà nước phải có trách nhiệm tạo mọi điều kiện thuận lợi và tổ chức một
cách có quy hoạch trong phạm vi từng ngành, từng vùng và cả nước. Mặt khác, ở từng
ngành, từng địa phương, cơ sở và người lao động cần tạo mọi điều kiện tìm việc làm,
tiến hành việc phân công lao động tại chỗ là chủ yếu.
Trước mắt, cần tập trung đẩy mạnh sự phân công lao động trong nông nghiệp
theo tinh thần Nghị quyết Trung ương V (khoá IX), nhằm khai thác hợp lý các tiềm
năng to lớn trong nông nghiệp (về lao động, vốn, thị trường) tạo ra nhiều sản phẩm
hàng hoá phục vụ cho nhu cầu thị trường trong và ngoài nước.
Đẩy mạnh quá trình tham gia vào phân công lao động quốc tế bằng nhiều hình
thức thích hợp.
4. Đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng những thành tựu mới của khoa học
và công nghệ vào sản xuất
Khoa học và công nghệ tiên tiến là một yếu tố quan trọng đối với phát triển
kinh tế hàng hoá. Bởi vì, chính nó làm tăng năng suất lao động, tạo ra khối lượng hàng
hoá lớn với chất lượng cao, giá thành hạ. Do đó, nó thoả mãn nhu cầu đa dạng và tăng
cường khả năng cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước.
Để thực hiện được giải pháp này, cần phát triển khoa học và công nghệ, nâng
cao năng lực nội sinh, tiếp thu thành tựu khoa học thế giới, lựa chọn và làm chủ công
nghệ chuyển giao và Việt Nam, từng bước đưa công nghệ nước ta đạt trình độ trung
bình của khu vực; bước đầu phát triển một số lĩnh vực công nghệ cao như: điện tử và
tin học; công nghệ sinh học, vật liệu mới và tự động hoá; từng bước chuyển biến rõ
nét về bảo vệ môi trường sinh thái.
5. Tiếp tục xây dựng phát triển các ngành công nghiệp, xây dựng kết cấu
hạ tầng
Đối với phát triển công nghiệp, cần quan tâm phát triển một số ngành công
nghiệp mũi nhọn trong các lĩnh vực: chế biến lương thực và thực phẩm, khai thác và
chế biến dầu khí, công nghiệp điện tử và tin học, cơ khí chế tạo, sản xuất vật liệu

Hai là, chỉnh đốn hoạt động của các tổ chức thương nghiệp thuộc các thành
phần kinh tế. Đổi mới hệ thống thương nghiệp nhà nước để làm tốt vai trò chủ đạo;
khắc phục tình trạng buông lỏng thị trường nông thôn, miền núi.
Ba là, tổ chức quản lí và hướng dẫn tốt việc thuê mướn và sử dụng lao động.
Bốn là, quản lý chặt chẽ đất đai và thị trường bất động sản.
Năm là, xây dựng thị trường vốn, từng bước hình thành thị trường chứng
khoán.
7. Hoàn thiện các chính sách tài chính – tiền tệ, tín dụng ngân hàng
Tài chính – tiền tệ là một nhân tố, một phương tiện hữu hiệu nhất đảm bảo cho
nền kinh tế hàng hoá phát triển.
Nền tài chính-tiền tệ ổn định thì mới ổn định được các vấn đề kinh tế khác của
nền kinh tế, đến sản xuất và lưu thông hàng hoá, tạo cơ sở đề đồng tiền Việt Nam có
thể chuyển đổi được; ổn định giá cả thị trường; thực hiện sự cân đối xuất - nhập khẩu;
cân đối tiền – hàng; kiềm chế lạm phát.
Để đạt được điều đó, cần thực hiện đổi mới các chính sách tài chính, tiền tệ, giá
cả theo hướng sau đây:
- Chính sách tài chính phải nhằm mục tiêu thúc đẩy sản xuất phát triển; huy
động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực; tăng tích luỹ để tạo vốn cho đầu tư phát
triển; góp phần kiềm chế và kiểm soát lạm phát. Để tạo vốn đầu tư phát triển, giải
pháp cơ bản và lâu dài là phải làm ăn có hiệu quả, phát triển kinh tế, đổi mới chính
sách thuế
- Chuyển mạnh chính sách tiền tệ và hoạt động của ngân hàng phù hợp với cơ
chế thị trường.
- Tiếp tục hoàn thiện hệ thống giá cả và đổi mới công tác quản lý giá cả.
8. Tiếp tục mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại
Trong thời đại ngày nay, xu thế quốc tế hoá đời sống kinh tế đã trở thành phổ
biến và cần thiết đối với mọi quốc gia. Nó tạo điều kiện cho nền kinh tế mỗi nước phát

Nhân tố con người có vai trò to lớn và quyết định trong sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá nói chung và phát triển nền kinh tế hàng hoá nói riêng.
Từ một nước nông nghiệp lạc hậu bắt đâù đi vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá;
từ cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp chuyển sang cơ chế thị trường, chúng ta
cần nhanh chóng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ và người lao động có đủ năng lực
và bản lĩnh đáp ứng yêu cầu của thời kỳ phát triển kinh tế mới.
Nhìn chung, đội ngũ cán bộ hiện nay của nước ta, xét về chất lượng, số lượng
và cơ cấu có nhiều mặt chưa ngang tầm với đòi hỏi của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá. Đặc biệt là trong kinh tế thị trường thì đội ngũ cán bộ quản lý kinh
doanh bên cạnh những mặt tích cực là năng động, thích ứng nhanh với cơ chế mới thì
vẫn còn rất nhiều mặt yếu kém, ít kinh nghiệm, năng lực hạn chế, quan hệ với nước
ngoài còn nhiều sơ hở, mất cảnh giác. Đội ngũ những người lao động ở nước ta cho
đến nay, phần đông chưa được đào tạo và huấn luyện nghề nghiệp. Vì vậy, tuỳ theo
yêu cầu, chức năng, nhiệm vụ của từng loại cán bộ và đội ngũ người lao động trong
nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, mà định ra các chương trình và giải pháp cụ
thể để thực hiện công tác trên đây một cách có hiệu qủa cao.

Kết luận

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã xác định: phát triển nền
kinh tế thị trường, định hướng XHCN là mô hình tổng quát con đường quá độ lên
CNXH ở Việt Nam. Thực tế phát triển kinh tế xã hội của nước ta từ khi nền kinh tế
nước ta chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế
hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế kinh tế thị trường cho thấy nền kinh tế
nước ta đã đạt được nhiều thành tựu, tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm đều đạt khá.
Các thành tựu của nền kinh tế không chỉ được thể hiện qua tốc độ tăng trưởng kinh tế mà
còn được đánh giá qua sự phát triển toàn diện của xã hội. Tất cả những kết quả đó đã


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status