Thực trạng công tác hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu tại XN thép và vật liệu XD HN - Pdf 11

PHẦN I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM
I- SẢN PHẨM VÀ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM
1. Sản phẩm
1.1 Khái niệm sản phẩm
Tuỳ theo nội dung từng môn học mà sản phẩm được nghiên cứu từ
nhiều góc độ khác nhau..
Theo Mác: " Sản phẩm là kết quả của quá trình lao động dùng để phục
vụ cho việc làm thoả mãn nhu cầu của con người trong nền kinh tế thị trường
"
Theo quan niệm của môn học Marketing: "Sản phẩm là bất cứ thứ gì
có thể mang ra thị trường nhằm tạo ra sự chú ý mua sắm và tiêu dùng"
Ngày nay, cùng với sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật,
của văn hoá xã hội, từ thực tế cạnh tranh trên thị trường , sản phẩm được quan
niệm khá rộng rãi: " Sản phẩm là kết quả của các hoạt động hay của các quá
trình". (theo TCVN 5814)
Sản phẩm là kết quả của các quá trình hoạt động, của tất cả các ngành
sản xuất vật chất và dịch vụ trong nền kinh tế quốc dân. Như vậy, sản phẩm
không chỉ là những sản phẩm thuần vật chất mà còn bao gồm các dịch vụ.
Sản phẩm được chia làm hai nhóm chính:
+ Nhóm sản phẩm thuần vật chất: là những vật phẩm mang các đặc
tính lý hoá nhất định.
+ Nhóm sản phẩm phi vật phẩm: là các dịch vụ, thông tin...
1.2 Các thuộc tính của sản phẩm
Thuộc tính của sản phẩm là tất cả những đặc tính vốn có của sản phẩm
qua đó sản phẩm tồn tại và nhờ đó mà có thể phân biệt được sản phẩm này
với sản phẩm khác.
Nghiên cứu tính chất, đặc trưng của sản phẩm giúp xác định được quá
trình gia công chế tạo thích hợp và trang bị những kiến thức để khảo sát, quy
định các chỉ tiêu chất lượng của sản phẩm, xác định những biện pháp, điều
Trang 1

- Hình thức trang trí phù hợp với từng loại sản phẩm, cái đẹp của sản
phẩm phải thể hiện được tính dân tộc, hiện đại, phổ biến, chống mọi kiểu cách
bảo thủ, nệ cổ, hoặc bắt trước, lai căng.
- Tính thẩm mỹ của sản phẩm phải thể hiện sự kết hợp giữa giá trị sử
dụng với giá trị thẩm mỹ.
Nhóm thuộc tính kinh tế- xã hội
Nhóm thuộc tính này quyết định mức chất lượng của sản phẩm, phản
ánh chi phí lao động xã hội cần thiết để chế tạo sản phẩm, cũng như những chi
phí thoả mãn nhu cầu. Đây cũng là thuộc tính quan trọng khi thẩm định thiết
kế sản phẩm được thể hiện qua các chỉ tiêu như : chi phí sản xuất thấp, giá cả
hợp lý, chi phí bảo dưỡng, sử dụng vừa phải phù hợp với nhu cầu thị hiếu, lợi
nhuận cao, khả năng sinh lợi lớn trong khi sử dụng.
2. Chất lượng sản phẩm
2.1 Khái niệm chất lượng sản phẩm
Có nhiều cách lập luận khác nhau về quản lý chất lượng sản phẩm.
Giáo sư người Mỹ Philíp B. Crosby nhấn mạnh: "Chỉ có thể tiến hành có hiệu
quả công tác quản lý chất lượng sản phẩm hàng hoá khi có quan niệm đúng
đắn, chính xác về chất lượng". Chất lượng sản phẩm hàng hoá đã trở thành
mối quan tâm hàng đầu của nhiều người, nhiều ngành. Có thể tổng hợp ra mấy
khuynh hướng sau:
- Khuynh hướng quản lý sản xuất: " Chất lượng của một sản phẩm
nào đó là mức độ mà sản phẩm ấy thể hiện được những yêu cầu, những chỉ
tiêu thiết kế hay những quy định riêng cho sản phẩm ấy".
- Khuynh hướng thoả mãn nhu cầu: "Chất lượng của sản phẩm là
năng lực mà sản phẩm ấy thoả mãn những nhu cầu của người sử dụng".
- Theo TCVN 5814 - 94:" Chất lượng là đặc tính của một thực thể,
đối tượng tạo cho thực thể đối tượng đó có khả năng thoả mãn nhu cầu đã
nêu ra hoặc tiềm ẩn"
Như vây chất lượng của một sản phẩm là trình độ mà sản phẩm ấy thể
hiện được những yêu cầu (tiêu chuẩn- kinh tế - kỹ thuật) về chế tạo quy định

luật lệ quốc tế, thống nhất về yêu cầu chất lượng và đảm bảo chất lượng.
Trang 4
Hội nhập vào thị trường kinh tế thế giới là chấp nhận sự cạnh tranh,
chịu sự tác động của quy luật cạnh tranh.
Quy luật cạnh tranh vừa là đòn bẩy để các Doanh nghiệp tiến lên đà
phát triển, hoà nhập với thị trường khu vực và trên thế giới, nhưng đồng thời
cũng là sức ép lớn đối với mỗi Doanh nghiệp. Trong quản trị kinh doanh, nếu
không lấy chất lượng làm mục tiêu phấn đấu trước tiên, nếu chạy theo lợi
nhuận trước mắt , rõ ràng Doanh nghiệp sẽ bị đẩy ra ngoài vòng quay của thị
trường và dẫn đến thua lỗ phá sản.
Chính vì vậy, mà cạnh tranh không phải là thực tế đơn giản, nó là kết
quả tổng hợp của toàn bộ các nỗ lực trong quá trình hoạt động của Doanh
nghiệp.
Chất lượng sản phẩm chính là một trong những phương thức Doanh
nghiệp tiếp cận và tìm cách đạt được những thắng lợi trong sự cạnh tranh gay
gắt ấy trên thương trường, nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển của Doanh
nghiệp .
Hiện nay vấn đề chất lượng sản phẩm đã trở thành nhân tố chủ yếu
trong chính sách kinh tế của mỗi Doanh nghiệp. Như vậy, có thể tóm tắt tầm
quan trọng của chất lượng sản phẩm như sau:
* Chất lượng sản phẩm đã trở thành yếu tố cạnh tranh hàng đầu, là
điều kiện tồn tại và phát triển của mỗi Doanh nghiệp . Nó là sự sống còn
của mỗi Doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường hiện nay.
* Chất lượng sản phẩm là yếu tố hạ giá thành sản phẩm và tăng lợi
nhuận cho Doanh nghiệp
* Chất lượng sản phẩm là điều kiện quan trọng nhất đê không
ngừng thoả mãn nhu cầu thay đổi liên tục của con người.
2.3. Những tính chất, đặc trưng của chất lượng sản phẩm
Khi đề cập đến vấn đề chất lượng sản phẩm, tức là nói đến mức độ
thoả mãn nhu cầu của sản phẩm trong những điều kiện tiêu dùng xác định, phù

đều có các yếu tố ảnh hưởng tác động với mức độ khác nhau. Đứng ở góc độ
những nhà sản xuất kinh doanh thì chất lượng sản phẩm là một vũ khí cạnh
tranh nên nó chịu tác động của một số yếu tố sau:
2.4.1 Một số yếu tố tầm vi mô
Trang 6
Nhóm yếu tố nguyên nhiên vật liệu
Đây là yếu tố cơ bản của đầu vào, nó ảnh hưởng quyết định đến chất
lượng sản phẩm. Muốn có sản phẩm đạt chất lượng tốt điều trước tiên, nguyên
vật liệu để chế tạo phải đảm bảo những yêu cầu về chất lượng, mặt khác phải
dảm bảo cung cấp cho cơ sở sản xuất những nguyên nhiên vật liệu đúng số
lượng, đúng kì hạn, có như vậy cơ sở sản xuất mới chủ động ổn định quá trình
sản xuất và thực hiện đúng kế hoạch sản xuất.
Nhóm yếu tố kỹ thuật - công nghệ - thiết bị
Nếu yếu tố nguyên vật liệu là yếu tố cơ bản quyết định tính chất và chất
lượng của sản phẩm thì yếu tố kỹ thuật - công nghệ - thiết bị lại có tầm quan
trọng đặc biệt, có tác dụng quyết định việc hình thành chất lượng sản phẩm
Trong quá trình sản xuất hàng hoá, người ta sử dụng và phối trộn nhiều
nguyên vật liệu khác nhau về thành phần, về tính chất, công dụng. Nắm vững
được đặc tính của của nguyên vật liệu để thiết kế sản phẩm là điều cần thiết,
song trong quá trình chế tạo, việc theo dõi khảo sát chất lượng sản phẩm theo
tỷ lệ phối trộn là điều quan trọng để mở rộng mặt hàng, thay thế nguyên vật
liệu, xác định đúng đắn các chế độ gia công để không ngừng nâng cao chất
lượng sản phẩm.
Nhìn chung các sản phẩm hiện đại phải có kết cấu gọn nhẹ, thanh nhã,
đơn giản, đảm bảo thoả mãn toàn diện các yêu cầu sử dụng.
Công nghệ: quá trình công nghệ có ảnh hưởng lớn quyết định chất
lượng sản phẩm. Đây là quá trình phức tạp, vừa làm thay đổi ít nhiều, hoặc bổ
sung, cải thiện nhiều tính chất ban đầu của nguyên vật liệu theo hướng sao cho
phù hơp với công dụng của sản phẩm.
Bằng nhiều dạng gia công khác nhau: gia công cơ, nhiệt, lý, hoá ..vừa

2.4.2. Một số yếu tố tầm vĩ mô
Chất lượng sản phẩm hàng hoá là kết quả của một quá trình thực hiện
một số biện pháp tổng hợp : kinh tế - kỹ thuật - hành chính xã hội ... những
yếu tố vừa nêu trên mang tính chất của lực lượng sản xuất. Nếu xét về quan hệ
sản xuất, thì chất lượng sản phẩm hàng hoá còn phụ thuộc chặt chẽ vào các
yếu tố sau:
Nhu cầu của nền kinh tế
Trang 8
Chất lượng của sản phẩm chịu sự chi phối của các điều kiện cụ thể của
nền kinh tế, thể hiện ở các mặt: đòi hỏi của thị trường, trình độ, khả năng cung
ứng của sản xuất, chính sách kinh tế của Nhà nước ..
Nhu cầu của thị trường đa dạng phong phú về số lượng, chủng loại...
nhưng khả năng của nền kinh tế thì có hạn: tài nguyên, vốn đầu tư, trình độ kỹ
thuật công nghệ, đổi mới trang thiết bị , kỹ năng, kỹ sảo của cán bộ công nhân
viên... Như vậy, chất lượng của sản phẩm còn phụ thuộc vào khả năng hiện
thực của toàn bộ nền kinh tế.
Sự phát triển của khoa học kỹ thuật
Ngày nay, khoa học kỹ thuật đang phát triển như vũ bão trên toàn thế
giới. Cuộc cách mạng này đang thâm nhập và chi phối hầu hết các lĩnh vực
hoạt động của xã hội loài người. Chất lượng của bất ký một sản phẩm nào
cũng gắn liền với sự phát triển của khoa học - kỹ thuật hiện đại, chu kỳ công
nghệ của sản phẩm được rút ngắn, công dụng của sản phẩm ngày càng phong
phú, da dạng nhưng cũng chính vì vậy mà không bao giờ thoả mãn với mức
chất lượng hiện tại, mà phải thường xuyên theo dõi những biến động của thị
trường về sự đổi mới của khoa học kỹ thuật liên quan đến nguyên vật liệu kỹ
thuật, công nghệ, thiết bị... để điều chỉnh kịp thời nhằm nâng cao chất lượng
sản phẩm, phát triển Doanh nghiệp.
Hiệu lực của cơ chế quản lý
Trong nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, sự quản lý
ấy thể hiện bằng nhiều biện pháp: kinh tế - kỹ thuật- hành chính xã hội ...cụ

Trang 10
Các yếu tố ảnh
hưởng đến CLSP
Yếu tố vi mô Các yếu tố vĩ mô
- Nguyên vật liệu
- Kỹ thuật- CN- TB
- Phương pháp Q L
- Con người
- Nhu cầu thị trường
- Sự phát triển KHKT
-Hiệu lực cơ chế Q L
- Tập quán, thói quen,
tiêu dùng
Do đó, khi xây dựng các yêu cầu đối với chất lượng sản phẩm cần chú
trọng các vấn đề sau:
- Chất lượng của sản phẩm phải phù hợp với công dụng, mục đích chế
tạo, với nhu cầu của thị trường.
- Trình độ chất lượng thể hiện mức độ thoả mãn nhu cầu
- Sản phẩm phải tiện dùng, vệ sinh an toàn
- Sản phẩm phải có tính thẩm mỹ cao
- Sản phẩm phải phù hợp về mức chi phí, giá cả.
2.6. Một số chỉ tiêu chất lượng của sản phẩm
Khi đề cập đến chỉ tiêu chất lượng của sản phẩm, người ta thường
phân biệt ra hai hệ thống chỉ tiêu chất lượng.
2.6.1 Hệ thống chỉ tiêu xác nghiên cứu, xác định chất lượng trong
chiến lược phát triển kinh tế.
Trong chiến lược phát triển kinh tế của Doanh nghiệp một trong những
vấn đề chủ yếu phải xác định được chiến lược sản phẩm trong một thời gian
nhất định, mà nội dung quan trọng là phải nghiên cứu một số chỉ tiêi chất
lượng nhằm:

vào sự nghiệp phát triển của Doanh nghiệp.
2.6.2. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá chất lượng sản phẩm trong sản
xuất - kinh doanh
Khi kiểm tra đánh giá chất lượng sản phẩm hàng hoá phải dựa vào tiêu
chuẩn Nhà nước, tiêu chuẩn nghành, tiêu chuẩn của hợp đồng kinh tế... Đây là
cơ sở đúng đắn hợp pháp nhất.
Tuỳ theo mục đích sử dụng, chất lượng sản phẩm hàng hoá có thể chia
làm 4 nhóm cơ bản:
Nhóm chỉ tiêu sử dụng
Đây là nhóm chỉ tiêu chất lượng mà người tiêu dùng khi mua hàng
thường quan tâm đánh gía chất lượng của sản phẩm hàng hoá.
Nhóm chỉ tiêu sử dụng bao gồm:
+ Thời gian sử dụng ( tuổi thọ, độ bền)
+ Mức độ an toàn trong sử dụng
+ Khả năng sửa chữa, bảo dưỡng, thay thế các chi tiết
+ Hiệu quả sử dụng ( sinh lợi, tiện lợi)
Trang 12
Nhóm chỉ tiêu kỹ thuật - công nghệ
Đây là nhóm chỉ tiêu mà cơ quan nghiên cứu, thiết kế, sản xuất, kinh
doanh thường dùng để đánh giá giá trị sử dụng của sản phẩm hàng hoá. Những
chỉ tiêu này thường được quy định trong các vắn bản tiêu chuẩn, hợp đồng gia
công mua bán...
Các chỉ tiêu kỹ thuật công nghệ rất nhiều, nhưng quan trọng hơn cả là
những chỉ tiêu kích thước, cơ lý, chỉ tiêu thành phần hoá học ....
+ Chỉ tiêu về kích thước
+ Chỉ tiêu về cơ lý: như khối lượng, các thông số, các yêu cầu về
kỹ thuật như độ bền, độ chính xác, độ tin cậy, dộ an toàn trong sử dụng ... là
những chỉ tiêu chất lượng quan trọng của hầu hết các loại sản phẩm.
+ Các chỉ tiêu về sinh - hoá: như thành phần hoá học biểu thị giá
trị dinh dưỡng của thực phẩm, khả năng sinh nhiệt , hệ số tiêu hoá...

xuất phát từ thị trường và trở về với thị trường, trong một chu trình khép kín,
vòng sau của chất lượng sản phẩm sẽ hoàn chỉnh hơn.
Sự hình thành chất lượng sản phẩm có thể được chia thành 3 phân hệ
và mỗi phân hệ có nhiều quá trình khác nhau:
Phân hệ trước sản xuất
- Nghiên cứu: nhu cầu về số lượng, yêu cầu về chất lượng, mục tiêu
kinh tế cần đạt...
- Thiết kế: xây dựng quy định chất lượng sản phẩm, xác đinh nguồn
nguyên vật liệu, nơi tiêu thụ sản phẩm ...
Phân hệ trong sản xuất
- Nghiên cứu triển khai: thiết kế dây chuyền công nghệ, sản xuất thử,
đầu tư xây dựng cơ bản, dự toán chi phí sản xuất, giá thành, giá bán...
- Chế tạo sản phẩm
- Kiểm tra chất lượng sản phẩm, tìm biện pháp đảm bảo chất lượng
quy định, bao gói, thu hoá... chuẩn bị xuất xưởng.
Phân hệ sau sản xuất
- Vận chuyển sang mạng lưới kinh doanh, tổ chức dự trữ, bảo quan
- Bán hàng, dịch vụ kỹ thuật - bảo hành, hướng dẫn sử dụng.
- Trưng cầu ý kiến khách hàng về chất lượng, số lượng...của sản phẩm,
lập dự án cho bước sau, thanh lý sau sử dụng.
Trang 14
Có thể tóm tắt bằng sơ đồ sau:
Hình 2: Quá trình hình thành chất lượng sản phẩm
2.8. Các mức chất lượng của sản phẩm hàng hoá
Dựa vào quá trình hình thành chất lượng sản phẩm người ta chia ra các
mức chất lượng của sản phẩm như sau:
Mức chất lượng thiết kế
Mức chất lượng thiết kế của sản phẩm là các chỉ tiêu đặc trưng của sản
phẩm được phác thảo qua văn bản, trên cơ sở nghiên cứu nhu cầu thị trường,
các đặc điểm của sản xuất - tiêu dùng, đồng thời có so sánh với chỉ tiêu chất

Mức chất lượng tối ưu tuỳ thuộc vào dặc điểm tiêu dùng cụ thể của
từng nước, từng vùng.
II - NỘI DUNG, CÔNG CỤ PHÂN TÍCH CHẤT LƯỢNG SẢN
PHẨM
1. Nội dung phân tích chất lượng sản phẩm
Trong kinh doanh không có gì đảm bảo chắc chắn rằng một sản
phẩm đã được giới thiệu với thị trường và được tiếp nhận là sản phẩm sẽ
tiếp tục thành công. Trừ khi chất lượng của nó luôn được cải tiến, nâng
cao và các bước tiến hành được tổng kết đánh giá kịp thời. Do vậy, các
nhà kinh doanh muốn giữ vững uy tín của sản phẩm và muốn chiếm vĩ
trí độc quyền trong việc sản xuất một loại sản phẩm nào đó, không còn
con đường nào khác là phải luôn nâng cao chất lượng sản phẩm của
mình. Muốn làm được điều đó,việc phân tích chất lượng sản phẩm phải
đươc tiến hành thường xuyên.
Việc phân tích chất lượng sản phẩm có thể thông qua một số nội
dung sau:
- Phân tích các chỉ tiêu chất lượng
- Tình hình chất lượng của công ty
- Đánh giá tình hình chất lượng của công ty
+ Đánh giá tình hình sai hỏng trong sản xuất
+ Đánh giá thứ hạng chất lượng sản phẩm
- Phân tích các nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm
Trang 16
2. Các công cụ dùng để phân tích chất lượng sản phẩm
Phân tích chất lượng sản phẩm có thể sử dụng rất nhiều công cụ để
đảm bảo, cải tiến và nâng cao chất lượng sản phẩm. Trong đó, phân tích bằng
thống kê (SPC) đóng một vai trò quan trọng.
SPC là việc áp dụng phương pháp thống kê để thu thập, phân tích các
dữ liệu một cách đúng đắn, chính xác và kịp thời nhằm theo dõi, kiểm soát, cải
tiến các khuyết tật gây ra trong quá trình sản xuất sản phẩm, giảm tính biến

2.5 Biểu đồ cây
Biểu đồ cây chia cắt một cách hệ thống một chủ đề thành các yếu tố
tạo thành nó. Các ý kiến phát sinh từ tấn công não được vẽ thành đồ thị hoặc
được tụ hợp lại thành biểu đồ quan hệ có thể biến đổi thành biểu đồ cây để chỉ
các mắc xích liên tiếp và thống nhất.
2.6 Biểu đồ nhân quả
Đây là một công cụ sử dụng để suy nghĩ và trình bày mối quan hệ giữa
một kết quả cho sự biến động của một đặc trưng chất lượng với nguyên nhân
tiềm tàng có thể ghép lại thành nguyên nhân chính và nguyên nhân phụ để
trình bày giống như một xương cá. Vì vậy, công cụ này còn
được gọi là biểu đồ xương cá.
Công nghệ, thiết bị Nguyên vật liệu
Phương pháp Q L Con người
Hình 3: Biểu đồ nhân quả
2.7 Biểu đồ tiến trình
Là dạng biểu đồ mô tả một quá trình bằng cách sử dụng các hình ảnh
hoặc những ký hiệu kỹ thuật...nhằm cung cấp sự hiểu biết đầy đủ về các đầu
ra và dòng chảy của quá trình. Tạo điều kiện cho việc điều tra các cơ hội cải
tiến bằng việc có được hiểu biết chi tiết về quá trình làm việc của nó.
Trang 18
Chỉ
tiêu
CL
Bằng cách xem xét từng bước trong quá trình có liên quan đến các bước
khác nhau thế nào, người ta có thể khám phá ra nguồn gốc tiềm tàng của
những trục trặc. Biểu đồ này có thể áp dụng cho tất cả các khía cạnh của bất cứ
quá trình nào, từ nhập nguyên liệu cho đến các bước trong việc bán và làm
dịch vụ hco một sản phẩm .
2.8 Biểu đồ kiểm soát
Là biểu đồ có một đường tâm để chỉ giá trị trung bình của quá trình và

Trong kin doanh không có gì đảm bảo chắc chắn rằng một sản phẩm đã
được giới thiệu với thị trường và được tiếp nhận là sản phẩm sẽ tiếp tục thành
công. Trừ khi chất lượng của nó luôn được cải tiến, nâng cao và các bước tiến
hành được tổng kết, đánh giá kịp thời. Do vậy các nhà kinh doanh muốn giữ
vững uy tín của sản phẩm và muốn chiếm vị trí độc quyền trong sản xuất một
loại sản phẩm nào đó, không còn con đường nào khác là luôn nâng cao chất
lượng của mình. Nâng cao chất lượng làm tăng giá trị sử dụng, kéo dài thời
gian sử dụng của sản phẩm , tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiêu thụ sản phẩm
, tăng nhanh tốc độ luân chuyển vốn và nâng cao doanh lợi của Doanh nghiệp.
Việc nâng cao chất lượng sản phẩm có tầm quan trọng sống còn đối
với mỗi Doanh nghiệp.
2. Hướng nâng cao chất lượng sản phẩm
- Huấn luyện, đào tạo, nâng cao nhận thức về chất lượng cho toàn thể
cán bộ công nhân viên trong Công ty
- Cải tiến và đầu tư đổi mới máy móc, thiết bị
- Tăng cường sự kiểm tra, khắc phục phòng ngừa
- Tăng cường sự quản lý trong suốt quá trình hình thành nên chất lượng
sản phẩm từ nghiên cứu- thiết kế - sản xuất - tiêu dùng.
Trang 20
PHẦN II
ĐẶC ĐIỂM - TÌNH HÌNH SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA
CÔNG TY DỆT- MAY HÀ NỘI
I-ĐẶC ĐIỂM CỦA CÔNG TY DỆT- MAY HÀ NỘI
1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty
Tên doanh nghiệp: Công ty Dệt- May Hà Nội
Tên giao dịch quốc tế: HANOSIMEX
Địa chỉ : Số I - Mai Động - HBT - HN
Do xu thế phát triển chung của thế giới và tránh tụt hậu quá lâu.
Nhà nước ta đã có sự chuyển đổi mạnh dạn, kịp thời từ nền kinh tế có cơ
chế bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước.

Ngay từ khi mới thành lập , Công ty đã vấp phải khó khăn là sự sụp đổ
của chế độ XHCN ở Liên Xô và một số quốc gia Đông Âu. Điều này cũng có
nghĩa là Công ty mất đi một thị trường tiêu thụ sản phẩm lớn và tương đối dễ
tính. Đứng trước tình hình đó Công ty đã phải chủ động tìm kiếm bạn hàng
mới và thay đổi hướng sản xuất kinh doanh phù hợp, đặc biệt Công ty đã
không ngừng hoàn thiện cơ cấu quản lý và nhân sự cho phù hợp với tình hình
mới của xã hội và của Công ty.
Công ty mạnh dạn đầu tư, không ngừng mở rộng phạm vi sản xuất, mở
rộng chủng loại sản phẩm sản. Đầu tư các dây chuyền hiện đại để sản xuất ra
những sản phẩm có chất lượng cao, nhằm chiếm lĩnh thị trường .
Trang 22
Tháng 12/89: Đầu tư xây dựng dây chuyền dệt kim số một với công
xuất 1500 tấn nguyên liệu một năm
- Tháng 4/90: Bộ kinh tế đối ngoại cho phép xí nghiệp được kinh doanh
xuất nhập khẩu trực tiếp ( có tên giao dịch là Hanosimex)
- Tháng 4/91: Bộ công nghiệp nhẹ quyết định tổ chức và hoạt động của
nhà máy sợi Hà Nội thành Xí nghiệp liên hợp Sợi- Dệt kim Hà nội.
-Tháng 6/93: xây dựng dây chuyền dệt kim số II và tháng 3/94 đưa vào
hoạt động.
- Tháng 10/93: Bộ công nghiệp nhẹ quyết định sát nhập nhà máy Sợi
Vinh thuộc tỉnh Nghệ An vào xí nghiệp liên hợp.
- Ngày 19/5/94: Khánh thành nhà máy dệt kim ( gồm cả 2 dây chuyền I
và II)
- Tháng 1/95: Khởi công xây dựng nhà máy may thêu Đông Mỹ
- Tháng 3/95: Xát nhập thêm nhà máy Dệt Hà Đông vào xí nghiệp liên
hợp.
- Tháng 6/95: Bộ công nghiệp nhẹ quyết định đổi xí nghiệp liên hợp
thành công ty Dệt Hà Nội
- Tháng 9/95: Khánh thành nhà máy May- Thêu Đông Mỹ.
- Tháng 6/2000: Đổi tên thành Công ty Dệt- May Hà Nội

nhiều tâm huyết để lao động sáng tạo trong sản xuất kinh doanh. Những năm
qua Công ty Dệt- May Hà Nội đã vinh dự đón nhận nhiều phần thưởng cao
quý do Đảng và Nhà nước trao tặng, đã trở thành một trong những Công ty
hàng đầu của ngành dệt may Việt Nam.
2. Lĩnh vực hoạt động, chức năng nhiệm vụ của Công ty
2.1 Lĩnh vực hoạt động và mặt hàng chủ yếu
Với một dây chuyền đồng bộ và khép kín cùng với trang thiết bị máy
móc của Đài Loan, Nhật Bản, CHLB Đức, Hàn Quốc, Italia... công ty chuyên
sản xuất kinh doanh, xuất khẩu các loại sản phẩm có chất lượng cao như:
Bảng : Một số sản phẩm chủ yếu của công ty Dệt- May Hà nội
Nhà máy sản xuất Tên sản phẩm
Nhà máy sợi + Sợi Vinh - Sợi đơn từ Ne 1- Ne 60
- Sợi xe từ Ne 1- Ne 60
Nhà máy Dệt- nhuộm - Vải bò
- Vải dệt kim
Trang 24
Nhà máy may I,II,III - áo Poloshirt
- áo T- shirt Hineck
- Bộ quần áo thể thao trẻ em
- Bộ quần áo trẻ em
- áo sơ mi dài tay
- áo sơ mi ngắn tay
Nhà máy Dệt Hà đông - Sản phẩm khăn các loại
- Sản phẩm mũ
- Sản phẩm lều bạt
2.2 Chức năng của Công ty
- Công ty thực hiện việc sản xuất kinh doanh thuộc lĩnh vực sợi, may
mặc
- Xuất nhập khẩu trực tiếp các loại sợi và các mặt hàng may mặc
- Thực hiện việc hạch toán kinh doanh độc lập, có hiệu quả, có tài


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status