TIỂU LUẬN: Giải pháp nhằm thúc đẩy quá trình điện tử hoá ngân hàng tại ngân hàng Đầu Tư và Phát Triển Hà Nội potx - Pdf 11


TIỂU LUẬN:
Giải pháp nhằm thúc đẩy quá trình
điện tử hoá ngân hàng tại ngân
hàng Đầu Tư và Phát Triển Hà Nội Lời mở đầu
Kể từ khi bước sang thế kỷ mới, nghành ngân hàng Việt Nam đã có nhiều đổi mới để
phù hợp với kỷ nguyên của tin học và xu hướng phát triển hiện nay trên thế giới là “

I -Khái niệm về ngân hàng thương mại.
1-Khái niệm .
Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng thương mại gắn liền với lịch sử và phát
triển của nền sản xuất hàng hoá, như vậy, ngân hàng thương mại là một sản phẩm đặc
biệt của nền kinh tế hàng hoá, đồng thời là một trong những nghành công nghiệp lâu
đời nhất. Xem xét quá trình hình thành và phát triển của ngân hàng thương mại, từ các
hoạt động ban đầu là đổi tiền; nhận tiền gửi; cho vay và chi trả hộ, cũng như phát triển
theo quy mô và nghiệp vụ như nghiệp vụ bảo lãnh, đặc biệt là phát hành các tín phiếu
chứng nhận về tiền gửi được dùng để thanh toán chi trả gần giống như giấy bạc ngân
hành hiện nay, nhìn chung ngân hàng là một loại hình tổ chức quan trọng đối với nền
kinh tế. Các ngân hàng có thể được định nghĩa qua chức năng và nhiệm vụ, các dịch vụ
hoặc vai trò mà chúng thực hiện trong nền kinh tế, nhưng ở đây đặt ra vấn đề là những
yếu tố trên luôn luôn thay đổi , thực tế rất nhiều tổ chức tài chính bao gồm cả các công
ty kinh doanh chứng khoán, công ty môi giới chứng khoán, quỹ tương hỗ và các công
ty bảo hiểm hàng đầu đều đang cố gắng cung cấp các dịch vụ của ngân hàng, và ngược
lại, ngân hàng cũng đang đối phó với các đối thủ cạnh tranh(các tổ chức tài chính phi
ngân hàng) bằng cách mở rộng phạm vi cung cấp dịch vụ về bất động sản và môi giới
chứng khoán, tham gia hoạt động bảo hiểm, đầu tư vào quỹ tương hỗ và thực hiện
nhiều dịch vụ mới khác, do vậy cách tiếp cận thận trọng nhất là có thể xem xét các tổ
chức này trên phương diện những loại hình dịch vụ mà chúng đang cung cấp:
Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài
chính đa dạng nhất-đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện
nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền
kinh tế.
Ngược lại, một số định nghĩa dựa trên các hoạt động chủ yếu, ở nước ta theo luật các
tổ chức tín dụng (1/10/1998) : “ Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện
toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan”. Hay luật
tiền kim loại đang nắm giữ. Với nhiều ưu thế, dần dần giấy nợ của ngân hàng đã thay
thế tiền kim loại làm phương tiện lưu thông và phương tiện lưu trữ, nó trở thành tiền
giấy.
Trong điều kiện phát triển thanh toán qua ngân hàng, các khách hàng nhận thấy rằng
nếu họ có được số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán, họ có thể chi trả để có được
hàng hoá và các dịch vụ theo yêu cầu. Theo những quan điểm hiện đại, đại lượng tiền
tệ bao gồm nhiều bộ phận, thứ nhất là tiền giấy trong lưu thông(Mo), thứ hai là số dư
trên tài khoản tiền gửi giao dịch của các khách hàng tại các ngân hàng, thứ ba là tiền
gửi trên các tài khoản tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi có kỳ hạn…. Khi ngân hàng cho
vay, số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tăng lên, khách hàng có
dùng để mua hàng và dịch vụ, do đó bằng việc cho vay(hay tạo tín dụng) các ngân
hàng đã tạo ra phương tiện thanh toán (tham gia tạo ra M1).
Toàn bộ hệ thống ngân hàng cũng tạo phương tiện thanh toán khi các khoản tiền gửi
được mở rộng từ ngân hàng này đến ngân hàng khác trên cơ sở cho vay, khi khách
hàng tại một ngân hàng sử dụng khoản tiền cho vay để chi trả thì sẽ tạo nên khoản thu
(tức làm tăng số dư tiền gửi ) của một khách hàng khác tại một ngân hàng khác, từ đó
tạo ra các khoản cho vay mới. Trong khi không một ngân hàng riêng lẻ nào có thể cho
vay lớn hơn dự trữ dư thừa, toàn bộ hệ thống ngân hàng có thể tạo ra khối lượng tiền
gửi (tạo phương tiện thanh toán) gấp bội thông qua hoạt động cho vay (tạo tín dụng).
2.3-Trung gian thanh toán
Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu hết các quốc gia,
thay mặt khách hàng, ngân hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hoá và dịch vụ. Để
việc thanh toán nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm chi phí, ngân hàng đưa ra cho
khách hàng nhiều hình thức thanh toán như thanh toán bằng séc, uỷ nhiệm chi, nhờ thu,
các loại thẻ…. Cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và cung cấp tiền

+ Được phát hành để thực hiện thanh toán điện tử cho những thanh toán có giá
trị giới hạn.
Tiền điện tử (E-money) theo như định nghĩa là một hình thái tiền tệ cho phép khách
hàng sử dụng phương tiện truyền thông điện tử để tiếp cận với hệ thống thanh toán.
Như vậy tiền chính là thông tin (Infomation) được chuyển giao giữa các thiết bị điện tử
giúp cho quá trình thanh toán. Mạng Internet là một hệ thống các máy tính được kết nối với nhau trên phạm vi toàn
thế giới. Mạng cho phép các thành viên trao đổi thông tin, dữ liệu, tạo điều kiện thuận
lợi cho việc phát triển các dịch vụ truyền thông, thư tín điện tử, thương mại điện tử…
Như vậy, ngân hàng điện tử theo như định nghĩa thực chất là việc ứng dụng Internet
trong lĩnh vực ngân hàng. Đối tượng của ngân hàng điện tử là các khách hàng sử dụng
máy tính cá nhân có nối mạng, toàn bộ các nghiệp vụ đều được thực hiện tại nhà hay
bất kỳ nơi nào có kết nối Internet mà trong đó các nghiệp vụ hoàn toàn được tự động
hoá, không cần đến sự tham gia của các nhân viên ngân hàng.
1.2-Sự hình thành ngân hàng điện tử.
Sự phát triển của công nghệ thông tin đã làm ảnh hưởng rất lớn tới lĩnh vực ngân
hàng, tài chính và thương mại. Có nhiều quan điểm về nghành công nghiệp ngân hàng
sẽ tận dụng được cơ hội thuận lợi do sự phát triển của công nghệ thông tin mang lại
hay lại phải đấu tranh để duy trì vai trò cơ bản (principa role) của nó trong nền kinh tế.
BillGates, chủ tịch tập đoàn Microsoft, bậc thầy trong lĩnh vực công nghệ tin học,
trong buổi gặp gỡ các quan chức ngân hàng Châu Âu (EU) năm 1994 cho rằng các
ngân hàng sẽ gặp phải những thách thức không nhỏ để tồn tại trong thời gian tới.
BillGates cho rằng : “ Các ngân hàng cũng như loài khủng long, đứng trước nguy cơ
của sự lỗi thời và có thể sẽ bị tuyệt chủng”. Một số nhà ngân hàng đã cảm thấy bị xúc
phạm bởi câu nói có vẻ như phi lý này của Bill, một số khác lại coi đó như một hồi

hay chiếc xe điện nhỏ do hãng Siemens chế tạo. giúp tới thăm triển lãm, nhưng điều
quan trọng hơn là đã mở ra những cơ sở công nghiệp lớn và làm việc theo dây chuyền.
Và chúng ta đang ở trong cuộc cách mạng công nghiệp lần ba, là một cuộc cách mạng
về công nghệ điện tử và Internet, nguồn gốc của Internet là hệ thống máy tính của Bộ
quốc phòng Mỹ, gọi là mạng ARPAnet, một thí nghiệm được thiết kế từ năm 1969 để
tạo điều kiện thuận lợi cho việc hợp tác khoa học trong các công trình nghiên cứu quốc
phòng. Như vậy, mạng Internet nguyên thuỷ được thiết kế nhằm mục đích phục vụ việc
cung cấp thông tin cho giới khoa học nên công nghệ của nó cho phép mọi hệ thống đều
có thể liên kết với nó thông qua một cổng điện tử. Theo cách đó, ngày nay có hàng
ngàn máy tính cũng như hệ thống dịch vụ thư điện tử đã trở thành thành viên của
Internet với khoảng 1 tỷ trang Wed, 375 triệu người dùng mạng Internet đang phát
triển với tốc độ bùng nổ. Theo thống kê của báo Internet commrce thì cứ sau 150 ngày số lượng người truy cập Internet lại tăng gấp đôi, Internet thực sự trở thành một cuộc
cách mạng công nghiệp lần thứ ba.
Nhờ có công nghệ kỹ thuật số và Internet, năng suất lao động của người Mỹ kể
từ thập kỷ 90 đã tăng 2,5% hàng năm. Cuộc cách mạng Internet đã trở làm thay đổi cơ
bản trong cách sản xuất và tiêu dùng trong nền kinh tế. Internet tạo ra một không gian
tại đó mọi người có thể gặp gỡ trao đổi thông tin, các doanh nghiệp có thể quảng cáo
và bán hàng hóa của mình các ngân hàng có thể phục vụ khách hàng mà không cần
giao dịch trực tiếp với khách
hàng (hình 1).


Thông qua
Email
Kênh
viễn
thông

Kênh
điện tử
Tự
phục vụ
-Nhân viên
tiếp thị
-
Ngân hàng h
ội
-Các chi
nhánh
-
Qu
ầy giao
- Máy rút
tiền
t

đ
ộng ATM

- Điện
thoại
-

chín
h
sách
thức thanh toán qua ngân hàng được trình bày tổng quát như hình 2, toàn bộ qua trình
đặt hàng, mua hàng và thanh toán được thực hiện trực tuyến qua mạng trên Internet.
Theo đó, ngân hàng đóng vai trò trung tâm trong thanh toán điện tủ, thiếu nó, thương
mại điện tử không thể thực hiện được. Vì vậy, sự xuất hiện của thương mại điện tử tất
yếu dẫn đến sự ra đời của một ngân hàng trên mạng (Online Banking) hay ngân hàng
điện tử (E-Banking).
Như vậy, thương mại điện tử phát triển làm xuất hiện nhu cầu về thanh toán trực tuyến
qua ngân hàng, đó là cơ hội tiềm tàng để các ngân hàng điện tử ra đời và phát triển.
Ngược lại, sự ra đời của ngân hàng điện tử thúc đẩy sự phát triển của thương mại điện
tử, quyết định đến sự phát triển và thành bại của thương mại điện tử.
- Sự phát triển của tiền tệ và các tổ chức tài chính phi ngân hàng .
Cuộc cách mạng trong lĩnh vực ngân hàng cơ bản dựa trên sự thay đổi trong kênh phân
phối của các tổ chức tài chính. Sự xuất hiện của kênh phân phối điện tử lại là kết quả
của cuộc cách mạng về khái niệm tiền tệ.
Trong nền kinh tế trao đổi hiện vật, khả năng chi trả cho hàng hoá và dịch vụ được
phản ánh bằng hàng hoá trao đổi trung gian như cái rìu, thuốc lá, lưỡi câu… sau đó,
tiền tệ bằng kim loại ra đời và được tạo bởi kim loại đá quý. Tiếp theo là sự xuất hiện
của tín tệ. Tín tệ là một loại tiền được chấp nhận trong thanh toán nhưng bản thân nó
không có giá trị, tín tệ được phát hành bởi hệ thống ngân hàng, bao gồm tiền giấy và
tiền xu. Ngày nay, khi khoa học công nghệ phát triển, khả năng chi trả, thanh toán cho
hàng hoá và dịch vụ của mỗi cá nhân đơn giản được phản ánh bằng con số trong bản

cung cấp thẻ tín dụng phi ngân hàng như American Express, Discover… theo thống kê
của Internet Banking và Security : Hiện nay ngân hàng chỉ giữ 20% tài chính của hộ
gia đình so với 34% của 20 năm trước, quản lý 30% ký quỹ của các tổ chức kinh doanh
so với 7 năm trước là 42%. Những nhà cung cấp thẻ tín dụng phi ngân hàng tấn công
vào phần khách hàng của ngân hàng và nắm giữ luôn 25% thị phần so với năm 1994 họ
chỉ chiếm được 5%. Thực tế là các ngân hàng đã đi chậm hơn so với các tổ chức phi
ngân hàng trong việc cung cấp các phương tiện thanh toán cho thương mại điện tử.
Việc suy giảm thị phần này đồng nghĩa với việc các ngân hàng đang mất đi vai trò
trung gian tài chính của mình, chức năng cơ bản của ngân hàng là trung gian thanh toán trong nền kinh tế, nhưng chức năng này đang bị cạnh tranh mạnh mẽ, đe doạ tới sự tồn
tại của các hệ thống ngân hàng.
Câu hỏi ở đây sẽ đặt ra là : Điều gì sẽ xảy ra khi những ngân hàng có những chức năng
như các tổ chức phi ngân hàng, nhưng các tổ chức này lại có nhiều thuận lợi hơn các
ngân hàng do sự chuyên môn hoá trong công nghệ thanh toán, điều gì sẽ xảy ra nếu
như những công ty tin học viễn thông hàng đầu như Microsoft, Netscape, IBM,… liên
kết với các hiệp hội tín dụng phi ngân hàng để cung cấp các dịch vụ tài chính có tính
chất toàn cầu. Rõ ràng, các ngân hàng đã mất đi vị trí độc quyền là trung gian tài chính
của mình và nguy cơ bị tụt hậu về công nghệ như Billgate đã cảnh báo là khó tránh
khỏi, nếu như các ngân hàng không tự đổi mới hay nói cách khác là để tồn tại và phát
triển, ngân hàng buộc phải làm một cuộc cách mạng, mà thực chất của cuộc cách mạng
này là sự phát triển của công nghệ thanh toán, hướng tới thanh toán trực tuyến qua
mạng Internet để phục vụ cho sự phát triển của thương mại điện tử, hay cuộc cách
mạng này chính là sự hình thành nên các ngân hàng điện tử.
Tóm lại, dưới sự phát triển của công nghệ và ứng dụng khoa học công nghệ
thông tin và thương mại điện tử, sự cạnh tranh gay gắt của các tổ chức tài chính thì việc

thấy họ không tự kiểm soát được tài khoản của mình. Ngược lại, ngân hàng trực
tuyến giúp khách hàng có thể thường xuyên theo dõi và kiểm soát được tình
hình tài chính của mình.
 Tiết kiệm thời gian, chi phí và các thao tác giao dịch. Khách hàng không còn
phải mất thời gian xếp hàng chờ đợi để thực hiện các giao dịch với ngân hàng,
công việc này có thể được thực hiện hoàn toàn thông qua máy tính tại nhà hay
tại công thành viên. Đặc biệt, ngân hàng điện tử giúp giảm chi phí giao dịch cho
khách hàng một cách đáng kể. Nếu trước đây, trong giao dịch ngân hàng truyền
thống, khi khách hàng muốn biết về số dư tài khoản của mình thì phải trả gấp 2
lần so với việc sử dụng máy rút tiền tự động ATM, gấp 5 lần nếu sử dụng Home
Banking (ngân hàng qua điện thoại) và gấp 10 lần khi sử dụng ngân hàng điện
tử.
 Khách hàng được hưởng lãi suất vay rẻ hơn nhiều so với lãi suất của ngân hàng
truyền thống, nguyên nhân chính là do chi phí giao dịch của ngân hàng điện tử
nhỏ, hơn nữa ngân hàng điện tử huy động được nhiều nguồn vốn rẻ hơn thông
qua các dịch vụ của mình, đặc biệt là dịch vụ thanh toán. Khách hàng muốn tham gia thanh toán trực tuyến qua ngân hàng đều phải mở tài khoản tại ngân
hàng đây sẽ là nguồn vốn rẻ nhất mà ngân hàng có được.
* Lợi ích đối với các ngân hàng.
Thông qua hoạt động của các ngân hàng đang phát triển, người ta đã rút ra 5 điều
nổi trội do ngân hàng điện tử mang lại như sau :
 Là cơ hội tốt nhất để mở rộng thị trường hoạt động kinh doanh của ngân
hàng, nó sẽ tiếp cận nhanh chóng với nhiều thị trường khác nhau bởi tính
chất của loại hình này là không phụ thuộc vào không gian, thời gian, phù
hợp với xu thế toàn cầu hoá trong hoạt động ngân hàng.

- Như một phương tiện cung cấp thông tin khách hàng.
- Như một kênh giao dịch chính thức, giống như đối với các chi nhánh giao dịch
và rút tiền tự động ATM.
- Như một công cụ để cải thiện mối quan hệ khách hàng.
Với ba cơ hội trên mà Internet mang lại cho ngân hàng, có thể chia mô hình ngân hàng
điện tử thành ba kênh cơ bản : Kênh cung cấp thông tin, kênh giao dịch, và kênh cải
thiện mối quan hệ khách hàng. Trong mỗi kênh lại có các nghiệp vụ tương ứng, trong
đó, kênh giao dịch bao gồm các nghiệp vụ chính, hai kênh còn lại cung cấp các nghiệp
vụ bổ trợ cho việc ra quyết định thực hiện các nghiệp vụ chính trong kênh giao dịch.
Mô hình hoạt động và các nghiệp vụ của ngân hàng điện tử được mô tả như sau:

Mô hình hoạt động
(các nghiệp vụ)
Kênh cung c
ấp
thông tin
(nghi
ệp vụ bổ
tr
ợ)

Kênh giao d
ịch

(Các nghiệp vụ
chính)
Kênh c
ải thiện
quan hệ K/H
(N/V bổ trợ)

Hình 3 : Mô hình hoạt động (nghiệp vụ) của ngân hàng ảo.
Để so sánh mức độ phát triển của ngân hàng khác nhau, người ta chia mỗi kênh thành 3
cấp độ khác nhau. Cấp độ 1 được gọi là cấp độ cơ bản (basic level). Với cấp độ này,
ngân hàng chỉ có thể mô phỏng lại hoạt động của nó cùng với các phương tiện truyền
thông khác trên mạng, nó mở ra một phương thức hoạt động mới, tuy vậy lại chưa khai
thác hết tiềm năng của phương tiện mới này, nói cách khác, cấp đọ 1 là cấp độ ban đầu,
các chức năng sử dụng mang tính giới thiệu, cấp độ này thường gặp ở các ngân hàng
trực tuyến mới thanh lập. Cấp độ 2 được gọi là cấp độ trung gian, ở cấp độ này một số
lợi thế của Internet được khai thác tốt hơn để cung cấp tốt hơn các sản phẩm dịch vụ
cho khách hàng, tuy nhiên các dịch vụ dựa trên các lợi thế của công nghệ này chưa ảnh
hưởng nhiều đến cách thức hoạt động truyền thông của ngân hàng. Ngược lại, cấp độ 3
là cấp độ khai thác cao nhất mọi ưu thế của công nghệ, cấp độ này đem lại những dịch
vụ tốt nhất cho khách hàng và mở ra cơ hội cho giao dịch thương mại điện tử.
Sau đây là nội dung cơ bản của các kênh trong mô hình ngân hàng điện tử, mỗi phần
nội dung đều có số liệu minh hoạ, các số liệu này được rút ra từ cuộc khảo sát hơn
1200 ngân hàng có hoạt động trên mạng năm 2001 tại Mỹ.
 Kênh cung cấp thông tin: Các ngân hàng sử dụng Internet như một
công cụ cung cấp thông tin bao gồm một số nghiệp vụ bổ trợ được
phân chia theo các cấp độ như sau :
o ở cấp độ 1 hay cấp độ cơ bản, kênh thông tin của ngân hàng giống
như một cuốn sách điện tử, nó cung cấp mọi thông tin liên quan
đến ngân hàng và các dịch vụ của ngân hàng. ( 100% các ngân
hàng được khảo sát đều cung cấp những thông tin này). Cụ thể cấp
độ cơ bản bao gồm các hệ thống thông tin như sau :
- Hệ thống thông tin về ngân hàng : Thông tin về lịch sử phát triển của ngân
hàng, các thông tin liên hệ đến ngân hàng như địa chỉ, số điện thoại fax, giờ
làm việc…. của trụ sở và các chi nhánh, vị trí các máy rút tiền tự động
- Giải đáp các câu hỏi thường gặp, đồng thời cũng có thể trả lời trực tiếp các
thắc mắc của khách hàng đối với các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng
(60%).
- Cuối cùng là mục liên kết đến các trang Web khác có liên quan. Chỉ khoảng
50% các ngân hàng được khảo sát có công cụ này, lý do là các ngân hàng
muốn trang Web của họ là điểm dừng chân cuối cùng của khách hàng, tuy
nhiên đối với một số ngân hàng lớn, đây lại là công cụ cạnh tranh có hiệu
quả do khách hàng có thể so sánh các ngân hàng khác nhau.
o Cấp độ cao nhất (cấp độ 3), việc cung cấp thông tin chủ yếu tập
trung vào các đánh giá của khách hàng về trang Web của ngân
hàng và thảo luận theo nhóm để trao đổi về các vấn đề mới đặt ra.
Có rất ít ngân hàng sử dụng phương thức này, trong đó có 24%
ngân hàng lớn, 10% các ngân hàng trung bình và 4% các ngân
hàng nhỏ.
 Kênh giao dịch : Với chức năng này, trang Web của ngân hàng đóng vai trò như
một cửa sổ giao dịch, khách hàng có thể thực hiện tất cả các nghiệp
vụ có thể trên kênh giao dịch.
o ở cấp độ thấp nhất, khách hàng có thể thực hiện một số nghiệp vụ
thông thường của ngân hàng như mở tài khoản thanh toán, tài
khoản tiền gửi tiết kiệm, thẻ tín dụng (và các loại thẻ khác), các
khoản vay và đầu tư…. Kết quả khảo sát các ngân hàng cho thấy
rằng các đơn xin đầu tư gần với các giao dịch thực tế nhất lại
chiếm tỷ trọng thấp nhất 20%; các đơn xin vay và mở thẻ tín dụng
chiếm 40%; đơn xin mở tài khoản thanh toán tương đối phổ biến
(80% trong các ngân hàng được khảo sát).

hàng này cũng phải hoạt động trên mạng, một số ngân hàng còn cho phép
khách hàng rút tiền tại các máy rút tiền tự động của nước ngoài, số tiền này
sẽ được tự động quy đổi sang ngoại tệ theo tỷ giá hiện thời.
- Một công cụ thường thấy ở cấp độ trung gian là chương trình hướng dẫn sử
dụng (demo) các nghiệp vụ cơ bản, chương trình này sẽ thực hiện một cách tự động các bước của một nghiệp vụ nào đó để làm mẫu cho khách hàng, chỉ
có 11% ngân hàng sử dụng công cụ này.
o ở cấp độ cao nhất, mọi hoạt động giao dịch của ngân hàng đều được thực
hiện trực tuyến trên mạng Internet, nếu như ở 2 mức độ trên đối tượng
phục vụ chủ yếu của ngân hàng là khách hàng cá nhân thì mức độ thứ 3,
ngân hàng đóng một vai trò rất quan trọng và to lớn trong việc hỗ trợ cho
thương mại điện tử giữa các doanh nghiệp phát triển, có thể tìm thấy ở
đây các nghiệp vụ hỗ trợ các doanh nghiệp như mở và thanh toán theo
hình thức thư tín dụng (L/C); mở các hợp đồng bảo lãnh, ở cấp độ này,
hầu hết mọi ngân hàng cung cấp phương tiện thanh toán điện tử (Ecash)
cho khách hàng để sử dụng trong thanh toán thương mại điện tử, trong
hơn 120 ngân hàng được khảo sát thì chỉ có 20 ngân hàng thực hiện và
đạt đến cấp độ này, trong đó ngân hàng đầu tiên đạt được là First Bank,
ngân hàng này hoàn toàn không có các chi nhánh mà hoàn toàn giao dịch
trên mạng Internet.
 Kênh cải thiện quan hệ khách hàng: Các ngân hàng sử dụng rất nhiều phương
pháp khác nhau để thu hút thêm khách hàng mới, đồng thời duy trì và củng cố các mối
quan hệ khách hàng đã có.
o ở mức độ thấp nhất, thư điện tử (Email) được ngân hàng sử dụng để giữ
liên lạc, giải đáp và thông báo các thông tin về sản phẩm và dịch vụ của ngân

công nghệ hiện đại được sử dụng (như hội thảo trực tuyến), để thu hút khách hàng. Tuy
nhiên có rất ít ngân hàng đạt đến trình độ này.
Tổng thể mô hình ngân hàng trực tuyến là một khối lượng thống nhất trong đó kênh
giao dịch cũng như các dịch vụ của nó đóng vai trò trung tâm, hai kênh còn lại mang
tính bổ trợ và cung cấp các thông tin phân tích giúp khách hàng ra quyết định đầu tư
cũng như thực hiện các quyết định này ở kênh giao dịch, giữa các kênh đều có sự liên
kết với nhau giúp khách hàng thực hiện dễ dàng các nghiệp vụ ở các kênh khác nhau,
tuy nhiên trong thực tế có nhiều trường hợp có biên giới giữa các kênh này là không rõ
ràng, có sự xen kẽ về chức năng giữa các kênh.
4. Mô hình thanh toán của ngân hàng điện tử.
Sự phát triển của thương mại điện tử đòi hỏi các ngân hàng phải phát triển công nghệ
thanh toán để đáp ứng nhu cầu thanh toán ngày càng tăng của khách hàng, kể từ khi ra đời đến nay đã có nhiều mô hình thanh toán được các ngân hàng đưa vào sử dụng như :
Thanh toán điện tử vô danh, thanh toán điện tử hữu danh và hệ thống thanh toán BIPS
(Bank Internet Payment System).
 Tiền điện tử vô danh (Anonymous e-money) là một loại tiền điện tử được ngân
hàng tạo ra bằng một phương pháp mã hóa đặc biệt, gọi là tiền vô danh vì nó không
chứa đựng thông tin về người sử dụng và do đó không có sự liên quan giữa người sử
dụng với tiền của anh ta, người bán và ngân hàng hoàn toàn không biết người đang
thực hiện đặt hàng và thanh toán.
 Tiền điện tử hữu danh(Identified e-money), là loại tiền trong đó chứa đựng những
thông tin về khách hàng, với loại tiền này, ngân hàng có thể theo dõi được quá trình
thanh toán của khách hàng. Tuy nhiên, khách hàng hoàn toàn được bảo mật đối với
người bán, mô hình này được phát triển bởi trường đại học Nam califonia và được một
số tổ chức tài chính sử dụng như NetBank năm 1996-2002.

2. Ngân hàng của người mua xác nhận rồi gửi Ecash lại cho người mua.
3. Người mua giải mã rồi dùng tiền này để mua hàng hoá.
4. Người bán gửi Ecash đến cho ngân hàng của mình.
5. Ngân hàng người bán kiểm tra và thanh toán với ngân hàng phát hành.
6. Ngân hàng người bán thông báo và ghi có cho người bán.

Người
mua
(Con
sume
Người
bán

3
2
1
4
6


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status