TIỂU LUẬN:
Hiệu quả hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp
Chương I
một số lý luận chung về hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp
1.1 KháI niệm, ý nghĩa của hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh và
nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị
trường
1.1.1 Khái niệm về hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Hiệu quả là vấn đề được các nhà nghiên cứu kinh tế cũng như các nhà
quản lý kinh doanh quan tâm hàng đầu.
Hiệu quả theo cách duy nhất được hiểu là một chỉ tiêu chất lượng phản
ánh mối quan hệ giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra. Nếu chi phí bỏ ra càng ít
và kết quả mang lại càng nhiều thì điều đó có ý nghĩa hiệu quả kinh tế càng cao
và ngược lại.
Trong điều kiện kinh doanh theo cơ chế thị trường để thực hiện nghiêm
ngặt chế độ hạch toán kinh tế, đảm bảo lấy doanh thu bù đắp được chi phí và có
lãi đòi hỏi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phải có hiệu quả cao để doanh
nghiệp có thể đứng vững và phát triển trong nền kinh tế có nhiều thành phần, có
cạnh tranh và quan hệ quốc tế với nước ngoài ngày càng được mở rộng.
kinh tế một cách độc lập mà còn xem xét cả hiệu quả xã hội.
Một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì quá trình hoạt động kinh
doanh phải đem lại hiệu quả.Và điều mà các doanh nghiệp quan tâm nhất là hiệu
quả kinh tế bởi vì có hiệu quả kinh tế thì doanh nghiệp mới tồn tại và phát triển
được.
Trong khoá luận này, khi nói đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
chỉ xét trên phương diện hiệu quả kinh tế. Ta có thể mô tả hiệu quả kinh tế bằng
công thức sau:
Hiệu quả
kinh tế
Kết quả đạt được
=
Hao phí các nguồn lực cần thiết gắn với kết quả đạt được
1.1.2 ý nghĩa của hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Như chúng ta đã biết, mục đích hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
là lợi nhuận hay nói rộng hơn là tăng hiệu quả kinh tế trong hoạt động kinh
doanh của mình. Hiệu quả kinh doanh phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực
của doanh nghiệp nhằm đạt hiệu quả cao nhất mà biểu hiện cụ thể của nó là lợi
nhuận và chi phí thấp nhất. Lợi nhuận là khoản còn lại sau khi doanh nghiệp đã
trừ đi mọi khoản chi phí phát sinh trong quá trình kinh doanh. Nhờ thu được lợi
nhuận doanh nghiệp mới có điều kiện để tái sản xuất và mở rộng sản xuất. Từ đó
không những tạo điều kiện để nâng cao đời sống của chính công nhân viên trong
doanh nghiệp mà còn nâng cao điều kiện để phục vụ khách hàng, thực hiện nghĩa
vụ với Nhà nước. Do vậy, một yêu cầu đặt ra đối với bất kì doanh nghiệp và các
nhà quản lý là cần thiết phải đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh để
tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, từ đó
có các biện pháp thích hợp phát huy các nhân tố tích cực và hạn chế các nhân tố
tiêu cực.
1.1.3 Sự cần thiết nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
các nguy cơ. Môi trường vĩ mô và môi trường ngành bao gồm các nhân tố khách
quan có thể ảnh hưởng đến hiệu quả HĐSXKD của DN. Cụ thể là:
1.2.1.1 Môi trường kinh tế
Môi trường này có ảnh hưởng lớn đến sự tồn tại và phát triển của mọi DN.
Với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao như hiện nay của đất nước ta trong những
năm gần đây (7- 8%/ năm) là một trong những tác động tích cực tới toàn bộ nền
kinh tế, kinh tế phát triển mạnh, doanh thu của người dân cao hơn, đời sống của
nhân dân cải thiện, nhu cầu về nhà mới, đẹp là tất yếu, tạo điều kiện tốt cho các
công ty xây dựng có những hợp đồng mới. Mặt khác, nước ta đang trong quá
trình xây dựng công nghiệp hoá, các công ty, xí nghiệp, khu công nghiệp phát
triển mạnh, giao thông cần cải thiện, điều đó cũng đồng nghĩa là có nhiều cơ hội
hơn cho công ty. Nền kinh tế tăng trưởng nóng lại luôn tiềm ẩn nguy cơ lạm phát
có ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế, cũng ảnh hưởng đến hoạt động kinh
doanh của công ty. Trong những năm gần đây, chỉ số giá luôn ở mức cao, các
nguyên vật liệu đầu vào cũng tăng cao, nhất là xăng dầu, thép, làm cho chi phí
xây dựng cũng tăng rất nhanh, điều này làm cho lợi nhuận của các công ty xây
dựng sẽ bị giảm. Vì vậy, các DN cần có kế hoạch cung ứng, dự trữ, sử dụng NVL
sao cho hợp lý, tránh lãng phí, tiết kiệm chi phí để nâng cao hiệu quả HĐSXKD.
1.2.1.2 Môi trường công nghệ
Trong những năm gần đây, công nghệ đã phát triển mạnh ở Việt Nam,
các cuộc chuyển giao công nghệ diễn ra mạnh. Các DN có cơ hội tiếp cận với
nhiều công nghệ sản xuất mới tiên tiến. Yêu cầu tất yếu và khách quan đối với
mỗi DN là làm sao phải đổi mới công nghệ cho phù hợp với yêu cầu ngày càng
cao của khách hàng. Tuy nhiên, DN cũng cần quan tâm đến vấn đề lựa chọn công
nghệ sao cho phù hợp với nhân lực công nghệ, tránh việc sử dụng công nghệ quá
hiện đại, không cần thiết mà trình độ về hiểu biết và sử dụng công nghệ còn yếu,
như vậy sẽ gây lãng phí lớn.
1.2.1.3 Môi trường chính trị, luật pháp
Chính trị ổn định là điều kiện tốt để cho các doanh nghiệp đầu tư và xây
dựng và ngược lại. Tình hình chính trị nước ta được coi là khá ổn định, được các
thị trường xây dựng được đánh giá là thị trường tiềm năng, vì thế cũng tiểm ẩn
các đối thủ cạnh tranh trong tương lai. Các DN luôn bị áp lực từ các đối thủ cạnh
tranh hiện tại và các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn. Vì vậy, các DN cần phân tích
điểm mạnh, điểm yếu của mình để đưa ra các chiến lược cạnh tranh hợp lý.
áp lực từ các nhà cung ứng
Do nguồn tài nguyên đang ngày càng khan hiếm, các nguyên vật liệu khó
có thể thay thế nên các nhà cung ứng đang ngày càng gây áp lực cho các công ty
xây dựng cả về giá cả, chất lượng, thời hạn và phương thức thanh toán.
Giá cả năng lượng tăng nhanh, các nhà cung ứng đầu cơ tạo tình trạng
khan hiếm giả đẩy giá sản phẩm tăng cao gây nhiều khó khăn cho công ty xây
dựng.
áp lực từ phía khách hàng
Trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo, công ty phải chịu một sức ép lớn từ
phía khách hàng vì có quá nhiều nhà thầu để chủ đầu tư có thể lựa chọn và với
phương châm “ khách hàng là thượng đế” thì các công ty đều phải đàm phán,
thương lượng với khách hàng để đi đến sự thống nhất có lợi cho cả 2 bên. Các
khách hàng thường đưa các sức ép như: thời gian thi công, bàn giao công trình,
chất lượng công trình, tư vấn thiết kế, giám sát …
1.2.2 Các nhân tố chủ quan
1.2.2.1 Nhân tố về quản lý
Bộ máy quản lý gọn nhẹ, hoạt động có hiệu quả cao sẽ cho phép doanh
nghiệp sử dụng hợp lý và tiết kiệm các yếu tố vật chất của quá trình sản xuất kinh
doanh, giúp lãnh đạo doanh nghiệp đề ra những quyết định chỉ đạo kinh doanh
chính xác, kịp thời và nắm bắt được thời cơ. Muốn đạt được hiệu quả sản xuất
kinh doanh cao đòi hỏi doanh nghiệp phải chú ý tới nhiều nhân tố trong đó có
vấn đề về quản lý. Quản lý tốt tức là đã tạo được sự phối hợp hoạt động nhịp
nhàng giữa các phòng ban, phân xưởng, khai thác tối đa tiềm năng về lao động,
tạo điều kiện cho mọi người, mọi khâu, mọi bộ phận phát huy đầy đủ quyền chủ
động sáng tạo trong sản xuất kinh doanh. Để quản lý tốt, doanh nghiệp phải có
DN và là cơ sở để dự toán vốn đầu tư.
Thứ hai, nguồn vốn đầu tư mà DN có thể khai thác là nguồn nào?
Thứ ba, vấn đề quản lý hoạt động tài chính hàng ngày của DN sẽ được
quản lý như thế nào? Chẳng hạn, việc thu tiền từ khách hàng và trả tiền cho nhà
cung cấp? Đây là các quyết định tài chính ngắn hạn và chúng liên quan chặt chẽ
tới quản lý tài sản lưu động của DN.
1.3 hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
của DN
Để đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh một cách chính xác
và có cơ sở khoa học, người ta thường sử dụng hệ thống chỉ tiêu phù hợp gồm:
+ Chỉ tiêu tổng hợp
+ Chỉ tiêu chi tiết
Từ đó vận dụng các phương pháp thích hợp để đánh giá theo hệ thống.
1.3.1. Các chỉ tiêu tổng hợp
1.3.1.1 Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh theo dạng hiệu số
Theo chỉ tiêu này, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh được biểu
hiện chủ yếu dưới dạng lợi nhuận mà doanh nghiệp đạt được trong kì:
Tổng lợi nhuận = Tổng doanh thu - Tổng chi phí
Căn cứ vào số lợi nhuận cụ thể đạt được, doanh nghiệp có thể đánh giá được hoạt
động sản xuất kinh doanh có hiệu quả hay không?
Phương pháp này có ưu điểm là tính toán đơn giản, thuận tiện do vậy dễ
thực hiện song cũng có nhiều nhược điểm như: không cho phép đánh giá được
hết chất lượng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và không so sánh được
kết quả giữa các năm hoặc giữa các doanh nghiệp. Thứ hai, không phản ánh được
nguồn lực tiềm tàng của doanh nghiệp, cũng như không phản ánh được bản chất
của các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh ( qui mô,
cơ cấu, lợi thế kinh doanh…). Thật vậy, giả sử xem xét chỉ tiêu lợi nhuận với
cách đánh giá ở dạng hiệu số có thể dẫn tới cách hiểu đơn giản và thông thường
là cứ kinh doanh đảm bảo thu bù chi là có lãi, là có hiệu quả. Mặc dù lợi nhuận
kinh doanh. Hệ thống chỉ tiêu này được xét dưới các góc độ khác nhau dưới đây:
1.3.2.1 Nhóm 1: Một số chỉ tiêu liên quan đến tỷ suất lợi nhuận:
Lợi nhuận tuyệt đối có thể không phản ánh đúng mức độ hiệu quả của sản
xuất kinh doanh vì chỉ tiêu này không chỉ chịu sự tác động của bản thân chất
lượng công tác của doanh nghiệp mà còn chịu ảnh hưởng của qui mô sản xuất
của DN. Vì vậy, để đánh giá đúng đắn kết quả kinh doanh của DN cần phải sử
dụng chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận
Tỷ suất lợi nhuận trên Tổng doanh thu : được tính như sau:
Tỷ suất lợi nhuận trên
tổng DT (DTT)
LNST ( LNTT)
= x 100
Tổng DT ( DT thuần)
Chỉ tiêu này phản ảnh trong 100 đồng doanh thu mà công ty thực hiện
trong kì có bao nhiêu đồng là lợi nhuận trước thuế hay lợi nhuận sau thuế.
Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản : được tính bằng công thức:
Tỷ suất lợi nhuận trên
tổng tài sản
LNST
= x
100
Tổng tài sản
Chỉ tiêu này cho biết 100 đồng giá trị tài sản DN đã huy động có khả năng tạo
ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế.
Tỷ suất lợi nhuận trên Vốn chủ sở hữu: được tính bằng công
lao động
Doanh thu bán hàng ( DT thuần)
=
Tổng số lao động bình quân
( Tổng chi phí tiền lương)
Chỉ tiêu này cho biết: cứ 1 lao động thì tạo ra bao nhiêu doanh thu bán
hàng( DT thuần) cho doanh nghiệp hay nếu doanh nghiệp bỏ ra 1 đồng chi phí
tiền lương thì tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu bán hàng( DT thuần). Chỉ tiêu này
càng cao càng tốt chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng lao động tốt và ngược lại, nếu
chỉ tiêu này thấp chứng tỏ để tạo ra 1 đồng doanh thu thì phải bỏ ra chi phí tiền
lương cao hơn.
Sức sản xuất của vốn cố định:
Sức sản xuất của vốn cố định
Doanh thu thuần
=
Vốn cố định bình quân
Trong đó: Vốn cố định bình quân = 1/2(vốn cố định đầu kì + vốn cố định cuối kì)
Chỉ tiêu này cho biết cứ 1 đồng vốn cố định mà doanh nghiệp bỏ ra thì
thu được bao nhiêu đồng doanh thu thuần. Chỉ tiêu này càng cao càng tốt chứng
tỏ hiệu quả sử dụng vốn cố định cao (tức 1 bộ phận của VCĐ được dịch chuyển
nhanh vào giá trị sản phẩm và sớm hoàn thành kì luân chuyển của VCĐ) và
ngược lại chỉ tiêu này càng thấp chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn cố định thấp tức
DN có thể đã đầu tư vốn cố định đáp ứng nhu cầu trang thiết bị nhưng đầu tư
không cân đối, hiệu quả sử dụng máy không cao.
Sức sản xuất của nguyên vật liệu:
Sức sản xuất của nguyên vật liệu
Doanh thu bán hàng( DT thuần)
=
=
Doanh thu thuần
Chỉ tiêu này cho biết, để tạo ra 1 đồng doanh thu thuần thì tốn bao nhiêu
đồng chi phí nguyên vật liệu. Chỉ tiêu này càng thấp càng tốt.
1.3.2.4 Nhóm 4: Suất tăng trưởng các yếu tố cơ bản tăng thêm
Suất tăng trưởng các yếu tố
cơ bản tăng thêm
Phần tăng thêm của doanh thu thuần
=
Phần tăng thêm của các yếu tố cơ bản
( lao động, vốn cố định, nguyên vật liệu)
Các chỉ tiêu này cho biết, cứ 1 phần tăng thêm của các yếu tố cơ bản thì
doanh thu tăng thêm là bao nhiêu. Chỉ tiêu này càng cao càng tốt.
1.3.2.5 Nhóm5: Sức sinh lợi của các yếu tố cơ bản:
Sức sinh lợi của các yếu tố
cơ bản
Lợi nhuận sau thuế
=
Giá trị các yếu tố sản xuất được sử dụng
Chỉ tiêu này cho biết, cứ 1 đồng giá trị các yếu tố sản xuất được sử dụng thì tạo
ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế cho doanh nghiệp. Chỉ tiêu này càng cao
càng tốt .
1.3.2.6 Nhóm 6: Sức sinh lợi của các yếu tố cơ bản tăng thêm:
Sức sinh lợi của các yếu tố
Cơ bản tăng thêm
Số lợi nhuận sau thuế tăng thêm
sở hữu chiếm bao nhiêu.
Hệ số thanh toán nhanh:
Hệ số thanh toán nhanh
Vốn bằng tiền và các khoản TĐT
=
Nợ ngắn hạn
Chỉ tiêu này cho biết khả năng hoàn trả các khoản nợ ngắn hạn không
phụ thuộc vào việc bán các tài sản dự trữ ( tồn kho), nó còn được xác định bằng
cách lấy tài sản lưu động trừ đi phần tồn kho chia cho nợ ngắn hạn.
Nếu tỷ số này bằng 1 chứng tỏ tài sản Có ngắn hạn của DN vẫn đủ trang
trại các khoản nợ đến hạn.
Nếu tỷ số này nhỏ hơn 1 thì DN gặp khó khăn trong thanh toán công nợ.
Hệ số thanh toán hiện hành:
Hệ số thanh toán hiện hành
Tài sản lưu động
=
Nợ ngắn hạn
Tài sản lưu động thông thường bao gồm tiền, các chứng khoán ngắn hạn
dễ chuyển nhượng, các khoản phải thu và dự trữ. Còn nợ ngắn hạn bao gồm các
khoản vay ngắn hạn ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác, các
khoản phải trả nhà cung cấp, các khoản phải trả, phải nộp khác …. Cả tài sản lưu
động và nợ ngắn hạn đều có thời hạn nhất định tới 1 năm.
Tỷ số khả năng thanh toán hiện hành là thước đo khả năng thanh toán
ngắn hạn của DN, nó cho biết mức độ các khoản nợ của các chủ nợ ngắn hạn
được trang trải bằng các các tài sản có thể chuyển thành tiền trong một giai đoạn
tương đương với thời hạn của các khoản nợ đó.
Doanh lợi tài sản (ROA):
Doanh lợi tài sản
phí thường được chi tiết theo các khoản mục giá thành
Trong phân tích tiêu thụ, doanh số tiêu thụ được chi tiết theo doanh số
từng mặt hàng- những bộ phận cấu thành doanh số đó
- Chi tiết theo thời gian:
Kết quả kinh doanh bao giờ cũng là kết quả của một quá trình. Do nhiều
nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan khác nhau, tiến độ thực hiện quá trình đó
trong từng đơn vị thời gian xác định thường không đồng đều. Chi tiết theo thời
gian sẽ giúp ích cho việc đánh giá kết quả kinh doanh được sát, đúng và tìm được
các giải pháp có hiệu quả cho việc kinh doanh.
1.4.2 Phương pháp chi tiết
So sánh cũng là phương pháp được sử dụng phổ biến trong phân tích để
xác định xu hướng, mức độ biến động của chỉ tiêu phân tích.
Trước hết, cần xác định số gốc để so sánh phụ thuộc vào mục đích cụ thể
của phân tích:
- Khi nghiên cứu nhịp độ biến động tốc độ tăng trưởng của các chỉ tiêu,
số gốc để so sánh là trị số của chỉ tiêu ở kì trước ( năm nay so với năm trước,
tháng này so với tháng trước…)
- Khi đánh giá mức độ biến động so với các mục tiêu đã dự kiến, trị số
thực tế sẽ được so sánh với mục tiêu nêu ra
Các trị số của chỉ tiêu ở kì trước, kế hoạch hoặc cùng kì năm trước gọi
chung là trị số kì gốc và thời kì chọn làm gốc so sánh đó gọi chung là kì gốc,
thời kì chọn để phân tích gọi tắt là kỳ phân tích.
1.4.2 Phương pháp loại trừ
Trong phân tích kinh doanh, nhiều trường hợp cần nghiên cứu ảnh hưởng
của các nhân tố đến kết quả kinh doanh nhờ phương pháp loại trừ. Loại trừ là
phương pháp xác định và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến kết quả kinh
doanh bằng cách loại trừ ảnh hưởng của các nhân tố khác. Chẳng hạn, số lợi
nhuận thu được trong kinh doanh 1 loại hàng hoá dịch vụ nào đó có thể quy về
ảnh hưởng của 2 nhân tố:
tiếp các nhân tố để xác định trị số của chỉ tiêu khi nhân tố đó thay đổi. Sau đó lấy
kết quả trừ đi chỉ tiêu khi chưa có biến đổi của nhân tố nghiên cứu sẽ xác định
được ảnh hưởng của các nhân tố tới chỉ tiêu phân tích.
1.4.3 Phương pháp liên hệ
Mọi kết quả kinh doanh đều có mối liên hệ với nhau giữa các mặt, các bộ
phận… Để lượng hoá các mối liên hệ đó, ngoài các phương pháp trên, trong phân
tích kinh doanh còn sử dụng phổ biến các cách nghiên cứu liên hệ phổ biến như:
liên hệ cân đối, liên hệ trực tuyến và liên hệ phi tuyến. Chương II
phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty
cổ phần đầu tư và phát triển kinh tế việt nam
2. 1. giới thiệu kháI quát về công ty đầu tư và phát triển kinh tế việt nam
2.1.1 Quá trình hình thành của công ty cổ phần đầu tư và phát triển
kinh tế Việt Nam
Công ty cổ phần đầu tư và phát triển kinh tế Việt Nam có trụ sở tại số 26
Ngõ 9 Minh Khai , Q. Hai Bà Trưng, Hà Nội- tiền thân là xí nghiệp xây dựng
công trình II - đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc của Tổng công ty xây dựng
Đường thuỷ – Bộ Giao thông vận tải, được thành lập từ năm 2000.
ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển kinh tế Việt Nam phát triển mạnh nhưng với sự
nỗ lực của toàn thể cán bộ công nhân viên , Công ty đã đạt được những kết quả
nhất định và đang dần khẳng định được vị thế của mình trên thị trường. Công ty
đã quy tụ được những cán bộ có năng lực và kinh nghiệm trong công tác quản lý,
chỉ đạo sản xuất đặc biệt là trong lĩnh vực kinh doanh, tiếp thị và quản lý tài
chính. Bên cạnh đó công ty còn có cả đội ngũ cán bộ quản lý chỉ đạo từ các
phòng ban nghiệp vụ đến các chi nhánh, đến các đơn vị sản xuất cùng các công
nhân kĩ thuật có tay nghề cao được thử thách trong thi công các công trình có
tiêu chuẩn kĩ thuật phức tạp.
Về phương tiện thiết bị, Công ty đã trang bị các máy móc thiết bị rất tiên
tiến đủ thực hiện mọi công đoạn trong thi công các công trình như cầu đường bộ,
cầu cảng, đường giao thông các cấp từ giao thông nông thôn đến đường cao tốc,
các phương tiện đường thuỷ để phục vụ các công trình thuỷ công, thuỷ lợi…xây
dựng lắp đặt đường dây và trạm điện đến 35 KV. Ngoài ra, Công ty liên doanh
liên kết với các đơn vị chuyên ngành khác để cùng bổ xung hỗ trợ nhau về thiết
bị đặc chủng để phục vụ thi công các công trình đặc biệt .
Về phạm vi ngành nghề hoạt động đối với Công ty Cổ phần Đầu tư và
Phát triển kinh tế Việt Nam rất đa dạng nhưng trọng tâm là các dự án Giao thông,
Thuỷ lợi, Xây dựng dân dụng và công nghiệp. Ngoài ra, Công ty cũng đã mở
rộng kinh doanh đối với lĩnh vực tư vấn đầu tư các dự án về cơ sở hạ tầng đô thị
và liên kết đào tạo nghề ngắn và dài hạn theo nhu cầu của xã hội
Về phạm vi hoạt động, Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển kinh tế Việt
Nam đã và đang hoạt động trên mọi miền của đất nước từ các tỉnh đồng bằng,
trung du, ven biển đến hải đảo. Ngoài ra, Công ty liên doanh liên kết với những
đối tác nước ngoài nếu có điều kiện thuận lợi.
2.1.3. Chức năng của công ty
Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển kinh tế Việt Nam có các chức năng
chính sau:
-Tư vấn đầu tư, lập dự án xây dựng và thiết kế công trình
-Ông Nguyễn Văn Biên : Cử nhân kinh tế - Uỷ HĐQT
-Ông Đặng Tuấn Ngọc :Thạc sĩ TCKT -Uỷ HĐQT
-Ông Trần Hữu Đức :Cử nhân Kinh Tế -Uỷ HĐQT
2/Ban giám đốc:
-Bà Trần Thị Dương : Giám đốc điều hành
-Ông Hoàng Văn Hoà : Phó đốc điều hành
-Ông Nguyễn Văn Biên : Phó đốc điều hành
-Ông Trần Hữu Đức : Phó đốc điều hành
-Ông Đặng Tuấn Ngọc :Kế toán trưởng
3/Các phòng ban nghiệp vụ
-Phòng kế hoạch kĩ thuật
-Phòng Dự án
-Phòng Tài chính kế toán
-Phòng nhân chính
-Phòng quản lý thiết bị
4/Các chi nhánh của công ty và các công trường trực thuộc Công ty
-Mỗi chi nhánh bao gồm các đội trực thuộc:
+ Đội thi công cơ giới
+ Đội xây dựng các công trình giao thông thuỷ lợi
+ Đội xây dựng kiến trúc và cơ sở hạ tầng
- Các công trường của công ty có các bộ phận nghiệp vụ và các đội thi công công
trình.
Dưới đây là sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý của công ty cổ phần đầu tư và phát
triển kinh tế Việt Nam: