TIỂU LUẬN: Nâng cao hiệu quả Quản lý vật tư ở Công ty vật tư Nông sản - Pdf 11

TIỂU LUẬN:

Nâng cao hiệu quả Quản lý
vật tư ở Công ty vật tư
Nông sản

Lời mở đầu

Đứng trước ngưỡng cửa của thế kỷ 21, theo xu hướng toàn cầu
hoá nền kinh tế. Nền kinh tế nước ta đã đặt ra nhiều yêu cầu cấp bách

hưởng xuyên suốt tới quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghịêp.
Điều đó tưởng chừng như mơ hồ và đơn giản, nhưng không phải doanh
nghiệp nào cũng biết tận dụng nó .
Hiểu rõ vai trò và tác dụng của công tác hậu cần vật tư đến lợi
ích hoạt động sản xuất kinh doanh. Với cương vị là một sinh viên
Quản trị, tôi mong muốn tìm hiểu và nghiên cứu một vài mặt cũng nh ư
một số khía cạnh của công tác tổ chức kế hoạch hậu cần vạt tư tại
Công ty vật tư Nông sản- Qua chuyên đề : "Nâng cao hiệu quả Quản
lý vật tư ở Công ty vật tư Nông sản`` Phần thứ nhất
Quản lý vật tư và hiệu quả của quản lý vật tư trong
nền kinh tế thị trường

I- Cơ sở lý luận về quản lý vật tư ở doanh nghiệp:
1.1- Khái niệm – phân loại vật tư
Vật tư kỹ thuật là sản phẩm của lao động được dùng để sản xuất

khoảng 60-70%giá trị và kế hoạchối lượng, nhưng chỉ chiếm 10-
15%danh mục mặt hàng.
B=Loại vật tư chiếm 20% giá trị và số lượng cũng như danh mục
mặt hàng. Nhóm này ít quan trọng hơn, được liệt kê vào nhóm quản lý
của Doanh nghiệp nhưng không chặt chẽ như loại A
C= Nhóm vật tư còn lại: nhóm này không quan trọng nhưng để
đảm bảo tính đồng bộ và kịp thời thì loại này cũng phải quản lý
 Phân theo lượng và giá trị
-Nhóm 1: chiếm 20% mặt hàng và 80% giá trị
-Nhóm 2: Chiếm80% mặt hàng nhưng chỉ chiếm 20% giá trị
 Phân theo mức độ khan hiếm ( cần cấp) của vật tư
-Loại1: Nhóm vật tư rất khan hiếm (khó tìm kiếm hay đọc quyền
trên thị trường ) -Loại2: Nhóm vật tư khan hiếm
-Loại3: Nhóm vật tư không khan hiếm ( có sẵn trên thị trường )
Doanh nghiệp đặc biệt quan tâm đến loại vật tư có độ khan hiếm
cao, với mức dự trữ cao hưn bình thựờng để đảm bảo độ an toàn ở
Doanh nghiệp, tránh rủi ro .
 Theo tính chất sử dụng
-Nhóm vật tư thông dụng: Nhóm vật tư này được sử dụng nhiều
ở các Doanh nghiệp mang tính phổ biến
-Nhóm vật tư chuyên dùng: là vật tư dùng cho một số ít các
ngành không phổ biến trong nền kinh tế. Loại này, Doanh nghiệp phải
xác định nguồn hàng ổn định và có mức dự trữ thoả đáng ổn định hoạt
động kinh doanh của mình.
 Theo sự phân cấp quản lý:
-Nhóm vật tư được quản lý tập chung: Thị trường loại vật tư này
do nhà nước cấp phát, quản lý theo kế hoạch và chỉ tiêu.
Phó giám đ
ốc kinh
doanh

Trư
ởng phòng kinh
doanh

+Chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận này như sau:
-Tổ kế hoạch thống kê: làm nhiệm vụ xác định nhu cầu và
nguồn vật tư cho Doanh nghiệp .
Lên phương án mua sắm vật tư
Lập đơn hàng vật tư kỹ thuật

Kho
số
1
Kho
số
2
Kho
số
3
v.
v
đội
vận
chuyể
n
Nghiệp vụ chủ yếu; nghiên cứu thị trường các yếu tố sản xuất để
có thể trả lời được những câu hỏi: Giá cả, chất lượng, số lượng, nguồn
cung ứng
-Bộ phận tiếp liệu: làm nghiệp vụ mua sắm vật tư, áp tải vật tư
hàng hoá, theo dõi giao nhận vật tư đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, chính
xác theo đúng hợp đồng mua hàng.
Đội vận chuyển: Đối với các công ty lớn chuyên chở, có đội xe
riêng của công ty. Tuỳ theo quy mô, yêu cầu mà cần đến những số
lượng và đội xe khác nhau. Công tác này, nó góp phần chủ động trong
việc vận chuyển vật tư trang thiết bị , thuận tiện linh hoạt mọi lúc,
mọi nơi
1.3.2.2. Tổ chức bộ máy quản trị vật tư theo nguyên tắc mặt
Mô hình tổ chức theo nguyên tắc mặt hàng thường được áp dụng
đối các doanh nghiệp co quy mô sản xuất kinh doanh lớn. Một bộ phận
Phó giám đốc kinh
doanh

Ban hoá
chất vật
li
ệu

Ban máy
móc thiết
b


Ban vật tư
kỹ thuật
Tổ
kế
hoạch
thống

tiếp
liệu
hoá
chất
vật
liệu

Đặc điểm mô hình tổ chức này; có thêm một cấp trung gian phụ
trách một nhóm các mặt hàng vật tư. Tuỳ theo chủng loại vật tư ở
doanh nghiệp, người ta có thể chia theo các nhóm khác nhau dựa trên
một vài tiêu thức quản lý nào đó.
Từng ban trong bộ may quản trị vật tư đều được cấu thành bởi
ba bộ phận nhỏ hơn: Kế hoạch, tiếp liệu và các kho theo nguyên tắc
thống nhất từng mặt hàng
II - Sự cần thiết thiết của việc đảm bảo vật tư kỹ thuật trong
doanh nghiệp .
Quá trính sản xuất là quá trình con người sử dụng tư liệu lao
động để tác động ào đối tượng lao động làm thay đổi hình đượcáng,
kích thước tính chất lý hoá của đối tượng lao động để tạo ra nhữg sản
phẩm chất lượng ngày càng cao. Hoạt động này khi mua các yếu tố
đầu vào, không trực tiếp với bán ra nên đòi hỏi phải có một kế hoạch
hậu cần ỏn định . Sản xuất kinh doanh là hoạt động nhằm mục đích
kiếm lời đượcựa trên các phương pháp, thủ pháp khác nhau sao cho lợi
ích thu về lớn hơn và đủ bù đắp những chi phí thu mua bỏ ra.
Do đặc điểm của sản xuất và các quy luật của nền kinh tế thị
trường nó tác động tới từng doanh nghiệp cho nên Doanh nghiệp phải
biết chủ động trong từng tình huống. Đối với vật tư kỹ thuật cũng vậy,
nó cũng cần thiết khách quan, có tác dụng đảm bảo sản xuất kinh
doanh của Doanh nghiệp cho nên các doanh nghiệp phải chủ động nó.
Căn cứ vào nhu cầu kế hoạch, có thể ra quyết định mua sắm vật
tư như thế nào,tức là cung ứng theo nhu cầu tạo thành mối quan hệ
gắn chặt với nhau. ở doanh nghiệp sản xuất, thì khối lượng sản xuất và cơ vấu sản phẩm quyết định khối lượng chủng loại vật tư, nó cũng
quyết định thời gian, địa điểm cung ứng vật tư. ở doanh nghiệp thương
mại, cung theo cầu- theo đơn hàng và theo mục tiêu kế hoạch của từng

kiện tái sản xuất xã hội. Nhu cầu mang tính chát khách quan cũng
giống như những điều kiện và tính quy luật của tái sản xuất xã hội.
Tính khách quan của nhu cầu thể hiện ở chỗ: lượng nhu cầu hoàn toà
không phụ thuộc vào việc xác định hoặc không xác định giá trị của nó.
Nhu cầu vật tư là những nhu cầu cần thiết về nguyên, nhiên vật
liệu, thiết bị maý móc để thực hiện nhiệm vụ kinh doanh nhất định mà
doanh nghiệp khả năng thanh toán.
Trong điều kiện sản xuất hàng hoá, nhu cầu vật tư luôn luôn
biểu hiện dưới dạng cầu. Cầu là một phạm trù kinh tế phức tạp có mối
liên hệ trực tiếp tới các quy luật và các phạm trù của sản xuất và lưu
thông hàng hoá và là một yếu tố của thị trường vật tư . Cũng như cầu
và nhu cầu nói chung, cầu và nhu cầu vật tư có đôi chỗ khác nhau cần
phân biệt:
Trước hết nếu như nhu cầu vật tư liên hệ trực tiếp được đến sản
xuất thì cầu vật tư lại liên hệ đến sản xuất thông qua nhu cầu vật tư,
qua khả năng thanh toán, qua giá cả, cung hàng hoá và khả năng tín
dụng .
Thứ hai, cầu vật tư được xác định bởi nhu cầu vật tư có khả
năng thanh toán cho nên nhu cầu vật tư rộng lớn hơn cầu vật tư,
không có nhu cầu vật tư thì không có cầu vật tư, và cầu vật tư không
phải là toàn bộ nhu cầu.
3.2- Những đặc trưng cơ bản của nhu cầu vật tư Cũng như quá trình đảm bảo vật tư cho sản xuất, nhu cầu vật tư
kỹ thuật mang tính khách quan phản ánh yêu cầu của sản xuất về một
loại vật tư nào đó. Vì vậy, nhu cầu vật tư có những đặc trưng sau đây:
-Nhu cầu vật tư liên quan trực tiếp đến quá trình sản xuất kinh
doanh của Doanh nghiệp
-Nhu cầu vật tư được hình thành trong quá trình sản xuất vật

phân
xưởng
1
t
ổng nhu cầu

cho sản xuất kinh
doanh
nhu câù cho xây
dựng
cơ b
ản

xây
dựng

bản
cho

(đội
xe)
khấu
hao
máy
móc
thiết
bị

3- Các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu vật tư kỹ thuật ở Doanh
nghiệp
Nhu cầu vật tư nhu cầu được hình thành dưới tác động của
nhiều nhân tố khác nhau. Những nhân tố này có thể phân theo các
nhóm sau :
Một là tiến bộ về khoa học kỹ thuật trong sản xuất. Nhân tố tổng
hợp này phản ánh tiến bộ về khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực sản xuất
và vật tư như chế tạo những máy móc thiết bị có tính kỹ thuật cao, sử
dụng những vật liệu mới và sử dụng có hiệu quả nguồn vật tư .
Hai là quy mô sản xuất ở các ngành, các Doanh nghiệp. Nhân tố
này ảnh hưởng trực tiếp tới khối lượng vật tư tiêu dùng và do đó ảnh
hưởng tới khối lượng nhu cầu vật tư. Quy mô sản xuất càng lớn thì

loại nhu cầu có tính đến các giai đoạn khác nhau của công tác kế
hoạch hoá. Qúa trình này có ý nghĩa quan trọng cho công tác lập kế
hoạch dự báo nhu cầu thị trường .
IV- Nội dung công tác hậu cần vật tư
4.1- Trình tự kế hoạch hậu cần vật tư Trong nền kinh tế thị trường, nội dung chủ yéu của công tác hạu
cần vật tư kỹ thuật bao gồm từ khâu nghiên cứu thị trường, xác định
nhu cầu vật tư của doanh nghiệ, xác định nguồn vật tư, lập kế hoạch
mua sắm vật tư, dư trữ bảo quản và cấp phát vật tư, đến việc quản lý
sử dụng và quyết toán vật tư .
Nội dung của công tác hậu cần vật tư kỹ thuật có thể biểu diễn
qua sơ đồ sau :
Trình tự công tác hậu cần vật tư kỹ thuật doanh nghiệp nghiên cứu và lập kế hoạch mua

Bên cạnh việc xác định lượng vật tư cần mua kế hoạch mua sắm
vật tư còn phải xác định rõ những nguồn vật tư để thoả mãn những nhu
cầu đó. Bởi vậy, kế hoạch mua sắm vật tư thường phản ánh hai nội
dung cơ bản sau:
Một là: Phản ánh toàn bộ nhu cầu vật tư của doanh nghiệp trong
kỳ kế hoạch như nhu cầu vật tư cho sản xuất, cho xây dựng cơ bản,
hay cho hợp đồng A hay khách hàng B và còn là dự trữ là bao nhiêu.
Hai là: Phản ánh các nguồn vật tư để thoả mãn các nhu cầu nói
trwn bao gồm:nguồn tồn kho đầu kỳ, nguồn động viên nội bộ doanh
nghiệp hay nguồn mua bổ xung bên ngoài…
+ Trình tự lập kế hoạch mua sắm vật tư như sau:
Trước hết lập kế hoạch mua sắm vật tư là công việcphải làm để
có được kế hoạch. Đối với các doanh nghiệp, việc lạp kế hoạch mua sắm vật tư chủ yếu do phòng kinh doanh lập, nhưng thực tế có sự tham
gia của nhiều bộ phận trong bộ máy điều hành Doanh nghiệp
-Giai đoạn chuẩn bị: Đây là giai đoạn quan trọng quyết định đến chất lượng
và nội dung của kế hoạch vật tư. ở giai đoạn này, cán bộ thương mại doanh nghiệp
phải thực hiẹn các công việc sau: nghiên cứu và thu thập các thông tin về thị trường
các yếu tố sản xuất; chuẩn bị cho tài liệu về phương án sản xuất – kinh doanh và kế
hoạch tiêu thụ sản phẩm, mức tiêu dùng nguyên vật liệu, yêu cầu của các phân
xưởng, tổ đội sản xuất ở doanh nghiệp .
-Giai đoạn tính toán các loại nhu cầu của doanh nghiệp. Đối với
các Doanh nghiệp sản xuất, để có được kế hoạch mua sắm vật tư chính
xác và khoa học đòi hỏi phải xác định đầy đủ các loại nhu cầu vật tư
cho sản xuất. Đây là căn cứ quan trọng để xác định lượng nhu cầu vật
tư cần mua về cho doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường, với cơ
chế tự trang trải, và có lợi nhuận để tồn tại và phát triển, việc xác
định đúng đắn các loại nhu cầu có ý nghĩa rất to lớn.

P
,
Là tổng nguồn về loại vật tư i cung ứng bằng
nguồn j
Trong cơ chế thị trường, theo yêu cầu của quy luật cạnh tranh ,
đòi hỏi các doanh nghiệp phải hết sức quan tâm đến việc mua sắm và
sử dụng vật tư kỹ thuật. Nhu cầu mua sắm phải được tính toán khoa
học, cân nhắc tới mọi tiềm năng của doanh nghiệp. Trong điều kiện
đó, mục tiêu của việc lên kế hoạch là lám sao với số lượng vật tư cần
thiết tối thiểu mua về Doanh nghiệp mà ổn định đươc nhu cầu sản xuất
kinh doanh của Doanh nghiệp .
V- Tổ chức công tác đảm bảo vật tư trong nội bộ doanh
nghiệp
5.1 - Cấp phát vật tư
Vấn đề hạch toán nội bộ chuyển giao quyền sử dụng vật tư
không mang tính nội bộ. Cấp phát vật tư cho các phân xưởng là công
việc rất quan trọng của phòng quản trị vật tư ở doanh nghiệp. Nó giúp
cho việc sử dụng vật tư có hiệu quả thể hiẹn ở một só ý nghĩa sau:
Công tác hậu cần vật tư vai trò chức năng đảm bảo vật tư,
không tính đến các yếu tố thương mại, kinh tế mà hiệu quả của của nó
còn gắn với hiệu quả sản xuất kinh doanh
+Nhiệm vụ của cấp phát vật tư
Đảm bảo cấp phát đồng bộ đúng về mặt hàng, số lượng, quy cách
phẩm chất. Đây là nhiệm vụ quan trọng bậc nhất trong công tác quản
trị vật tư Để thực hiện đươc nhiệm vụ này, bộ phận quản trị vật tư phải
tiến hành tạo nguồn, bố trí cấp phát trên cơ sở yêu cầu của các phân
xưởng.

Khái niệm mức này hoàn toàn khác với mức trong nền kinh tế
tập chung bao cấp
Trong nền kinh tế kế hoạc hoá thì, mức tiêu dùng vật tư thường
được áp dụng cho một ngành, địa phương hay một quốc gia, đồng thời
nó là cơ sở để xây dựng ké hoạch, phát triẻn sản xuất. Đồng thời nó là
cơ sở để quản lý nhà nước, hạch toán kinh tế.
Ngày nay,trong nền kinh tế thị trường thì mức tiêu dùng vật tư
kỹ thuật không được áp dụng một cách thống nhất chung cho toàn bộ
nền kinh té hy một ngành mà chỉ áp dụng cho từng doan nghiệp cụ thể,
với từng trường hợp cụ thể.
-Mức tiêu dùng vạt tư kỹ thuật có vai trò rất quan trọng trong
viẹc tổ chức cà quản lý sản xuất ở các doanh nghiệp. Nó là công cụ để
điều hành các hoạt động sản xuất của nhà quản trị, đồng thời nó là cơ
sở giúp cho việc hạch toán đầy đủ cho doanh nghiệp. Mức tiêu dùng
vật tư thẻ hiẹn ở mọt số đặc điểm sau:
Nó là cơ sở đẻ xác định nhu cầu vật tư cho doanh nghiệp
Là chỉ tiêu đánh giá trình dộ sử dụng kỹ thuật trong sản xuất,
trình độ lành nghềcủa công nhân và trinh độ tổ chứcquản lý sản xuất
của các nhà quản trị 5.2.2 Định mức:
Là những giải pháp về kinh tế kỹ thuật của nhà quản trị nhằm
tính toán xác định mọt mức tiêu dùng hợp lý trong diều kiẹn lao động
bình thường , năng xuất lao động bình thường.
Như vậy, nói đến công tác định mức là những hoạt động của các
nhà quản trị dựa trên cơ sở khoa học, những thí nghiệm,
những giải pháp tối ưu vè sản xuất Nhằm xác định một lượng vật tư
tối ưu cho sản xuất.
-Biện pháp xác đinh mức tiêu dùng vật tư:

qu
ản lý th
ương


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status