TIỂU LUẬN: Tiêu thức, đánh giá khả năng cạnh tranh của sản phẩm giầy dép Việt Nam - Pdf 11

TIỂU LUẬN:

Tiêu thức, đánh giá khả năng
cạnh tranh của sản phẩm giầy
dép Việt Nam
Lời mở đầu


cập đến một số vấn đề sau: -Chương 1: Tiêu thức đánh giá và các yếu tố ảnh hưởng đến cạnh tranh

-Chương 2: Đánh giá khả năng cạnh tranh của sản phẩm Giầy Dép Việt Nam
qua các tiêu thức trên

-Chương 3: Kết luận và một số kiến nghị nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh
của Giầy Dép Việt Nam
Chương 1 : tiêu thức đánh giá và Các yếu tố ảnh hưởng
đến cạnh tranh của sản phẩm Cạnh tranh là một trong những đặc trưng cơ bản và là động lực phát triển
của nền kinh tế thị trường. Không có cạnh tranh thì không có kinh tế thị trường.
Trong nền kinh tế thị trường, khả năng cạnh tranh là điều kiện cho sự sống còn của
mỗi doanh nghiệp. Kết quả cạnh tranh sẽ xác định vị thế của doanh nghiệp trên thị
trường, vì thế từng doanh nghiệp đều cố gắng tìm cho mình một chiến lược cạnh
tranh phù hợp để vươn lên tới vị thế cao nhất.
Cạnh tranh có thể đưa lại lợi ích cho người này và thiệt hại cho người khác,
song xét dưới góc độ lợi ích toàn xã hội, cạnh tranh luôn có tác động tích cực. (Ví
dụ: chất lượng tốt hơn, giá rẻ hơn, dịch vụ tốt hơn…). Giống như các quy luật sinh
tồn và đào thải tự nhiên đã được Darwin phát hiện, quy luật của cạnh tranh là thải

mặt, nhiều lĩnh vực: hàng hoá mang nhãn hiệu Việt Nam hiện nay tuy đã có một số
mặt hàng(chưa nhiều) đạt được chất lượng tốt, nhưng nói chung chất lượng chưa
cao, trong khi đó giá thành lại cao hơn một số nước trong khu vực(Thái Lan,
Trung Quốc…) do nhiều nguyên nhân, trong đó đáng lưu ý là do giá đầu vào của
sản xuất nói chung cao, máy móc thiết bị cũ kỹ lạc hậu, hiểu biết về thị trường,
kinh nghiệm và kinh doanh quản lý, công tác tiếp thị, Marketing còn hạn chế, hầu
hết các doanh nghiệp chưa có chiến lược phát triển lâu dài, ổn định mà chỉ mới có
kế hoạch kinh doanh ngắn hạn, thậm chí kế hoạch kinh doanh cho từng thương
vụ…
Hiện nay, Việt Nam đang trong quá trình gia nhập AFTA, sự bảo hộ bằng
hàng rào thuế quan và phi thuế quan đối với hàng hoá sản xuất trong nước không
còn tác dụng. Thêm vào đó, việc Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương Mại Thế
giới (WTO) đã làm cho hàng hoá Việt Nam rất khó khăn trong việc cạnh tranh với
hàng Trung Quốc. Điều đó đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam phải có sự nỗ lực
rất lớn nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường trong và
ngoài nước

1.2. Các tiêu chí đánh giá khả năng cạnh tranh của sản phẩm
Để đánh giá khả năng cạnh tranh của sản phẩm, các nhà nghiên cứu kinh tế đã
đưa ra rất nhiều tiêu chí khác nhau với các mức độ khác nhau. ở đây, trong phạm
vi bài viết này, chỉ xin nêu một số tiêu chí cơ bản đánh gía khả năng cạnh tranh
của sản phẩm trên thương trường
1.2.1. Chất lượng sản phẩm hàng hoá

Đây chỉ là chỉ tiêu cốt lõi, mang tính chất quyết định trong cạnh tranh. Có thể
hiểu đơn giản rằng “Chất lượng là sự quay trở lại của khách hàng” hay chất lượng
trong sự phù hợp. Theo ngôn ngữ Marketing hiện đại người ta nói “Bán cái thị

Mức giá có vai trò cực kỳ quan trọng trong cạnh tranh. Nếu như chênh lệch về
giá giữa doanh nghiệp và các đối thủ cạnh tranh lớn hơn chênh lệch về giá trị sử
dụng sản phẩm của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh thì doanh nghiệp đã
đem lại lợi ích cho người tiêu dùng lớn hơn so với đối thủ. Vì lẽ đó sản phẩm của
doanh nghiệp sẽ ngày càng chiếm được lòng tin của người tiêu dùng và cũng có
nghĩa là sản phẩm của doanh nghiệp có vị trí cạnh tranh càng cao.
Để đạt được mức giá thấp doanh nghiệp cần xem xét khả năng hạ giá sản phẩm
của đơn vị mình. Có càng nhiều khả năng hạ giá sẽ có nhiều lợi thế so với đối thủ
cạnh tranh. Khả năng hạ giá phụ thuộc vào các yếu tố sau:
- Chi phí về kinh tế thấp.
- Khả năng bán hàng tốt, do đó khối lượng bán lớn.
- Khả năng về tài chính tốt.
Giá cả ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của doanh nghiệp do đó khi sử dụng
vũ khí này phải chọn thơì điểm hợp lý sẽ mang lại hiệu quả cao bằng không doanh
nghiệp sẽ gặp phải rất nhiều khó khăn về tài chính. Như thế doanh nghiệp cần phải
kết hợp nhuần nhuyễn giữa giá cả và các bộ phận về chiết khấu với những phương
pháp bán mà doanh nghiệp đang sử dụng, với những phương pháp thanh toán, với
xu thế, trào lưu của người tiêu dùng…
Một sản phẩm có mức giá thành thấp, nghĩa là nó có khả năng chủ động trong
cạnh tranh về giá, sản phẩm đó sẽ có khả năng cạnh tranh cao, có vị thế trên thị
trường. Đó là một trong những yếu tố quyết định sự thắng lợi trong cạnh tranh của
các doanh nghiệp.
1.2.3. Mẫu mã của sản phẩm Cùng với chất lượng, giá bán của sản phẩm, mẫu mã cũng là một trong các yếu
tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Mẫu mã của sản
phẩm phù hợp với sở thích của người tiêu dùng sẽ tạo lợi thế cạnh tranh của sản
phẩm trên thị trường. Thực tế cho thấy, nếu sản phẩm có cùng chất lượng và giá cả
thì sản phẩm nào có mẫu mã đẹp, được nhiều người tiêu dùng ưa chuộng sẽ tiêu

bán hợp lý, sản phẩm của doanh nghiệp đó có khả năng cạnh tranh cao hơn trong
điều kiện các yếu tố khác không thay đổi. Trong quá trình bán hàng, khâu quan
trọng nhất là chào mời khách hàng. Điều này đòi hỏi người bán hàng phải thật sự
tôn trọng khách hàng, lịch sự, ân cần, và chu đáo. Việc tiếp theo là doanh nghiệp
cần phải tạo ra những điều kiện thuận lợi nhất trong thanh toán, có chính sách tài
chính và tiền tệ hợp lý, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho việc mua bán với khách
hàng. Sau khi bán hàng, phải có những dịch vụ như bao bì và giao hàng đến tận
tay người mua, các dịch vụ bảo hành, sửa chữa hàng hoá…Những dịch vụ này
nhằm tạo sự tin tưởng, uy tín của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng. Tuy nhiên
để các dịch vụ trên phát huy được hiệu quả, doanh nghiệp cần cung cấp một cách
nhanh nhất, chính xác nhất, kịp thời nhất….Hiện nay, các doanh nghiệp còn sử
dụng rất rộng rãi các biện pháp như:tổ chức các chương trình khuyến mại, chiết
khấu hàng hoá khi mua với số lượng lớn, tăng gía nhằm thu hút khách hàng, nâng
cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm.

1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của sản phẩm
Khả năng cạnh tranh của sản phẩm chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố khác
nhau, bao gồm các nhân tố thuộc về nội bộ doanh nghiệp và các nhân tố thuộc về
môi trường. Dưới đây xin nêu một vài nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh
của sản phẩm
1.3.1.Các nhân tố thộc về nội bộ doanh nghiệp
1.3.1.1.Công nghệ
Có thể hiểu công nghệ là tổng hợp của rất nhiều các phương tiện kỹ thuật, kỹ
năng, phương pháp được dùng để chuyển hoá các nguồn lực thành một loại sản
phẩm hoặc một loại dịch vụ nào đó.
Thế kỷ XX là thế kỷ của khoa học và công nghệ. Do đó việc phân tích và
phán đoán sự biến đổi công nghệ là rất quan trọng và cấp bách hơn lúc nào hết. Những ví dụ thường được dẫn ra với sự xuất hiện của điện tử, tin học và công
thần, góp phần nâng cao năng suất lao động, khả năng sáng tạo của người lao động
nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm của doanh nghiệp.
1.3.1.3.Uy tín, thương hiệu của sản phẩm

Uy tín doanh nghiệp, thương hiệu của những sản phẩm là những tài sản vô hình
rất quan trọng của doanh nghiệp.
Uy tín của doanh nghiệp tạo nên sự tin cậy của các nhà cung ứng, và sự tin
tưởng của khách hàng. Điều đó tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong việc
giành giật khách hàng về phía mình, đặc biệt thực hiện linh hoạt trong khâu hợp
đồng, thanh toán như: quy ước về giá cả, số lượng, kích cỡ, mẫu mã bằng văn bản
hoặc bằng miệng hay thanh toán với các hình thức như bán trả góp, bán chịu, bán
gối đầu…Do vậy uy tín của doanh nghiệp trở thành sắc bén trong cạnh tranh, tạo
cơ hội mở rộng thị phần, nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm.
Cùng với uy tín của doanh nghiệp, thương hiệu sản phẩm cũng ảnh hưởng rất
nhiều đến khả năng cạnh tranh của sản phẩm đó. Một thương hiệu mạnh có thể
giúp cho các doanh nghiệp đạt được vị thế dẫn đầu trong ngành. Thương hiệu càng
nổi tiếng thì khả năng tăng thị phần của sản phẩm trên thị trường càng cao. Nhờ đó
doanh nghiệp có thể điều tiết thị trường, định gía cao hơn, chi phối làm cho các
đối thủ phải nản lòng khi muốn chia thị phần với họ. Do đó, để nâng cao khả năng
cạnh tranh của sản phẩm doanh nghiệp cần xây dựng cho mình một thương hiệu
mạnh. Đây là một công việc rất khó khăn đòi hỏi rất nhiều nỗ lực của các doanh
nghiệp.

1.3.1.4.Nguồn lực về tài chính
Khả năng về tài chính có ảnh hưởng rất lớn tới khả năng cạnh tranh của sản
phẩm của doanh nghiệp. Khả năng tài chính được hiểu là quy mô tài chính của
doanh nghiệp và tình hình hoạt động, các chỉ tiêu tài chính hàng năm như tỷ lệ thu
hồi vốn,khả năng thanh toán…Nếu một doanh nghiệp có tình trạng tài chính tốt,

hàng từ đó có các biện pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm,
đảm bảo giữ gìn và mở rộng thị phần của doanh nghiệp trên thị trường
1.3.2.3.Các chính sách vĩ mô của chính phủ
Cùng với các nhân tố về nhu cầu khách hàng, áp lực của sản phẩm cạnh
tranh (sản phẩm thay thế, các nhân tố chính phủ, luật pháp và chính trị tác động đến doanh nghiệp theo các hướng khác nhau. Chúng có thể tạo ra cơ hội, trở ngại,
thậm chí là rủi ro thật sự cho doanh nghiệp. Chúng thường bao gồm:
- Hệ thống luật pháp.
- Hệ thống chính sách thuế, chính sách về tiền tệ và tỷ giá hối đoái, các quy định về
mức lãi xuất…
Chính phủ cần hoàn chỉnh các chính sách này nhằm nâng cao khả năng cạnh
tranh của sản phẩm, đặc biệt là các sản phẩm hướng ra xuất khẩu.

chương 2 : Đánh giá khả năng cạnh tranh của sản phẩm
Giầy Dép Việt Nam qua các tiêu thức trên.

Ngành da giầy Việt Nam đã được khai sinh từ cách đây hơn 500 năm và có bề
dày lịch sử khá phong phú. Tuy nhiên đến năm 1987,ngành gia dày Việt Nam mới
thực sự trở thành ngành kinh tế kỹ thuật độc lập. Sau 15 năm đổi mới, tuy đã có
những lúc thăng trầm, nhưng nhìn chung ngành da giày vẫn có sự tăng trưởng
thường xuyên và đạt được nhiều thành công đáng ghi nhận. Đặc biệt trong bối
cảnh kinh tế Việt Nam từng bước chủ động hội nhập với nền kinh tế khu vực và
thế giới, da giày trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong chiến lược phát triển hàng
tiêu dùng hướng ra xuất khẩu và có những đóng góp quan trọng trong phát triển
kinh tế của Việt Nam. Giầy dép là mặt hàng chủ lực của ngành da giầy Việt Nam.

14054 26124 8955 13227 62400 123000 76760 168080 32080 400000
(Nguồn:dự thảo kế hoạch tiếp thị xuất khẩu giầy dép 2001-2010)

Do đặc thù của ngành, năng lực sản xuất cũng có sự khác nhau giữa các khu
vực. Sản xuất của ngành thời gian qua tập trung tại ba khu vực chính. Khu vực
đồng bằng sông Hồng và một số tỉnh lân cận có ưu thế nằm trên các trục giao
thông thuận tiện, khả năng huy động lao động dễ dàng. Khu vực này hiện chiếm
khoảng 19,3% năng lực sản xuất giầy và đồ gia cả nước, 19,7% sản phẩm da thuộc
và 14,1% đế giày. Khu vực đồng bằng sông Cửu Long với tam giác kinh tế thành
phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai chiếm tới 76% năng lực sản xuất giầy,
73,6% năng lực thuộc da và 84,6% năng lực sản xuất đế giày. Đây được xem là
khu vực lý tưởng với nhiều ưu điểm: giao thông, cầu cảng thuận lợi, các khu công
nghiệp đã được đầu tư sẵn,lực lượng lao động dồi dào,năng động, môi trường đầu
tư hấp dẫn và nhiều ưu đãi. Khu vực miền Trung, từ Thừa Thiên-Huế đến Khánh
Hoà, chiếm3,7%, 6,7% và 1,3% năng lực sản xuất giầy, thuộc da và sản xuất đế
giày. Khu vực này có một ưu điểm nổi trội là giá nhân công rất rẻ, mặt bằng sản
xuất tốt, song lại có bất lợi là cơ sở hạ tầng kém phát triển

SẢN LƯỢNG SẢN XUẤT DA - GIẦY CỦA VIỆT NAM 2001 - 2003
Ngu
ồn: tạp chí
thương mại
Đơn v
ị tính:
triệu đôi

Sản phẩm

Những năm gần đây, kinh tế Việt Nam có tốc độ tăng trưởng cao, đời sống
của nhân dân ngày càng được cải thiện, nhu cầu thiết yếu về ăn mặc được tăng
cao, tạo điều kiện mở rộng thị trường trong nước. Tuy nhiên, do chưa tập trung
khai thác và đáp ứng thị hiếu của số đông, nên hàng năm chỉ có khoảng 6-8 triệu
đôi giầy da và 20 triệu đôi giầy nữ, giày vải, giầy thể thao…được tiêu thụ tại thị
trường nội địa. Trong khi đó, giầy dép Trung Quốc với mẫu mã đa dạng, kiểu dáng
phong phú được bán với giá rẻ do nhập lậu, trốn thuế đã khiến cho giày dép Việt
Nam bị cạnh tranh gay gắt và tỏ ra yếu thế trên sân nhà.
* Thị trường quốc tế
Cùng với quá trình mở cửa hôị nhập kinh tế quốc tế hướng về xuất khẩu, sản
phẩm giày dép đã từng bước trở thành một trong những sản phẩm xuất khẩu chủ
lực của Việt Nam (đứng vị trí thứ 4 sau dầu thô, dệt may và thủy sản) góp phần
đáng kể vào tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.Việt Nam đứng thứ 4 thế giới
về xuất khẩu giày dép (sau Trung Quốc,Hồng Kông và Italia). Trong đó, giày thể
thao là mặt hàng xuất khẩu chủ lực chiếm trên 60% kim ngạch xuất khẩu toàn
ngành, tiếp đến là giày nữ trên 20%, giầy vải trên 10%.Thị trường xuất khẩu giầy
dép lớn nhất của Việt Nam là liên minh châu âu(EU), chiếm 85% số lượng giày
dép xuất khẩu và khoảng 35% tổng giá trị xuất khẩu của nước ta vào thị trường
này,kim nghạch xuất khẩu giầy dép của Việt Nam vào thị trường EU luôn đạt trên
1 tỷ USD , năm 2003 đạt tới 1,6 tỷ USD. Ngoài thị trường EU, 15% số lượng giày
dép xuất khẩu còn lại của Việt Nam vào Nhật Bản, Mỹ và một số nước khác. Cũng
giống như EU, Mỹ và Nhật Bản là những thị trường đầy tiềm năng với sức mua lớn. Hàng năm Mỹ nhập khoảng 1,3 tỷ đôi giầy. Kim ngạch xuất khẩu giầy dép
của Việt Nam vào Mỹ cũng được tăng lên trong những năm gần đây
XUẤT KHẨU GIẦY DÉP CỦA VIỆT NAM THEO THÀNH PHẦN KINH TẾ
NĂM 2003
Đơn vị tính: triệu USD
Thành phần kinh tế Giá trị

ạt 14,59 USD . Kim nghạch xuất khẩu giầy
thể thao và giầy có mũ bằng nguyên liệu dệt sang thị trường Pháp thang 8/2005 tăng m
ạnh
đã đẩy kim nghạch xuất khẩu giầy dép sang Pháp tăng gần 90% so với cùng kỳ năm 2004 .
- Ti c : c l ca ng quan trng Vit Nam tip cn v a
hng sang ton
khu vc ụng u. Cỏc doanh nghip cn tớch cc tham gia cỏc hi ch ti c
tm hiu
th hiu, bt kp nhng thay i ca th trng v tm kim
i tỏc kinh doanh trong khu vc
ny.
Kim ngch xut khu giy dộp ca nc ta sang th trng c trong 5 thỏng n
m 2005
ú lin tc b gim rt mnh (-28%) so vi cng k nm 2004. Tuy nhiờn, mc
gim sỳt
trong thỏng 6 v thỏng 7 ú chm li, ch gim tng
ng 5,43% v 10,79% so vi cựng k
nm 2004. n thỏng 8/05, kim ngch xut khu t gn 26 triu USD ú tng 6,73% so v
i
cựng k nm 2004. õy l ln u tiờn xut khu sang c tng k t nm 2003 n nay.

0
100
200
300
400
500

lượng hoạt động của máy móc thiết bị, tình trạng ổn định của công nghệ chế tạo và
đặc biệt là chất lượng của đội ngũ lao động. Đối với sản phẩm giày dép Việt Nam,
chất lượng chưa thể là nhân tố tạo nên lợi thế cạnh tranh bởi rất nhiều hạn chế: hạn
chế về chất lượng nguyên vật liệu(vì nguyên vật liệu chủ yếu là nhập từ nước
ngoài), máy móc thiết bị chủ yếu nhập từ Hàn Quốc, Đài Loan thế hệ những năm
70,80, có trình độ cơ khí hoá nhưng chưa có trình độ tự động hoá, đội ngũ lao
động hầu hết không được đào tạo chính quy…Rõ ràng,về chất lượng, giầy dép
Việt Nam không thể cạnh tranh được với sản phẩm của Tây âu (đặc biệt là Italia)
và Mỹ. Do đó, để nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm giầy dép Việt Nam
trên thương trường, cần có các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm như:
đổi mới máy móc thiết bị, nâng cao trình độ đội ngũ lao động trong ngành…

2.2.2.Giá thành
Cùng với chất lượng sản phẩm, giá thành cũng là một yếu tố rất quan trọng
ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Bên cạnh những thị trường đòi hỏi cao về chất lượng, còn có rất nhiều thị trường dễ tính hơn về chất lượng nhưng
lại đòi hỏi giá cả thấp, mà về điểm này, Việt Nam rất khó cạnh tranh với hàng
Trung Quốc. Việt Nam hiện vẫn được coi là nước có ưu thế về giá thành do giá
nhân công rẻ, song Trung Quốc vẫn có giá thành rẻ hơn. Ngoài yếu tố chi phí lao
động thấp, hàng Trung Quốc dễ dàng ra nước ngoài hơn do chính phủ nước này có
chính sách ưu đãi khá hấp dẫn đối với hàng xuất khẩu. Một số nhà xuất khẩu giầy
của Việt Nam còn cho rằng các doanh nghiệp Trung Quốc thuận lợi hơn Việt Nam
do có được những đàm phán ở cấp chính phủ. Trung Quốc là một thị trường đông
dân. Bởi vậy, để đổi lại việc chính phủ Trung Quốc mở cửa thị trường này, các
nước khác cũng phải cởi mở hơn đối với hàng nhập khẩu từ Trung Quốc.Các
chuyên gia cho hay giá giầy dép của Trung Quốc thấp hơn giá bán của Việt Nam
30-40%. Việt Nam chỉ có ưu thế cạnh tranh ở những sản phẩm cỡ trung bình. Nói
tóm lại, sản phẩm giá rẻ không thể cạnh tranh được với sản phẩm của Trung Quốc,

khách hàng. Ngoài ra, các doanh nghiệp còn có thể tổ chức các chương trình
khuyến mại, chiết khấu hàng hóa khi mua với số lượng lớn…
2.3. Một số nguyên nhân dẫn đến khả năng cạnh tranh yếu kém của sản
phẩm giầy dép Việt Nam
2.3.1.Về thiết bị công nghệ và nhà xưởng
Do ngành da giầy Việt Nam đi lên từ gia công theo đơn đặt hàng từ nước
ngoài nên công nghệ và thiết bị nhập vào Việt Nam đều nhằm tạo ra những sản
phẩm theo yêu cầu của chủ hàng. Vì thế, hầu hết các thiết bị này đều có xuất xứ từ
Hàn Quốc và Đài Loan thế hệ cuối thập kỷ 70,80, đạt trình độ cơ khí hoá, nhưng
chưa đạt trình độ tự động hoá, đã qua sử dụng nên tuổi thọ ngắn, năng suất thấp.
Về nhà xưởng, đa phần các doanh nghiệp quốc doanh và liên doanh tận dụng các
cơ sở hiện có và cải tạo từ hệ thống kho tàng cũ, chỉ một số ít doanh nghiệp đầu tư
trong vài năm gần đây mới có nhà xưởng khang trang, phù hợp với việc bố trí thiết
bị, công nghệ tiên tiến. Doanh nghiệp ngoài quốc doanh sử dụng nhà xưởng còn
chắp vá. Đó là nguyên nhân làm cho ngành da giầy chưa thể sản xuất được các
mặt hàng giầy dép có chất lượng cao với giá cạnh tranh. Do đó chúng ta cần phải
có các biện pháp nâng cấp nhà xưởng, đổi mới, cải tiến máy móc thiết bị nhằm tạo
ra các sản phẩm giầy dép có khả năng cạnh tranh cao trên thương trường.
2.3.2.Về lao động Ngành da giầy là một ngành sử dụng nhiều lao động của xã hội.Sau 15 năm
đổi mới, lực lượng lao động ngành da giầy ngày càng tăng nhanh và chiếm tỷ
trọng lớn trong tổng số lao động của ngành công nghiệp. Nếu như năm 1997, lao
động toàn ngành chỉ chiếm 5,7% thì đến năm 2001 đã chiếm tới 10,8% tổng số lao
động ngành công nghiệp (khoảng 400000 người), trong đó chủ yếu là lao động nữ
(chiếm 80-85%). Tuy nhiên, phần lớn lao động trong ngành được đào tạo dưới
hình thức kèm cặp, chỉ có một số lượng nhỏ được đào tạo chính quy. Phần lớn đội
ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật chuyên ngành được đào tạo ở các nước Đông âu,
Liên Xô(cũ)…vào những năm 70,80. Trong nước chưa có trường, lớp đào tạo kỹ

huỷ bỏ nguyên liệu thừa, vì nếu tái xuất thì cước vận chuyển quá cao, còn bán tại
chỗ thì thuế suất cao, thủ tục lại phức tạp,rườm rà. Mặt khác ngành da giầy Việt
Nam chủ yếu lấy công làm lãi, giải quyết vấn đề việc làm. Trong khi đó nhà nước
đã thu thuế vốn lại thu cả thuế lợi tức, cộng cả hai khoản đã gấp đôi lãi vay ngân
hàng, liệu doanh nghiệp có còn lãi? Thiếu nguyên liệu, lẽ ra nhà nước nên khuyến
khích các cơ sở sản xuất nguyên phụ liệu. Nhưng hiện nay, doanh nghiệp vẫn phải
chịu thuế VAT 10% trong khi phải tự bươn chải, không được đầu tư, giá nguyên
liệu lại gia tăng, da muối trong nước lại xuất khẩu hết sang Trung Quốc,
Campuchia…Đó cũng là nguyên nhân làm cho khả năng cạnh tranh của sản phẩm
giầy dép không thể ngang bằng được với một số nước khác.
Việt Nam tiếp tục được hưởng ưu đói thuế quan phổ cập GPS khi xuất
khẩu giày dộp vào EU. Cú thể núi cơ hội đối với ngành giày dép Việt Nam
đang đến gần, nhất là khi Việt Nam trở thành thành viên WTO, vấn đề là ở
chỗ các doanh nghiệp Việt Nam tận dụng cơ hội này như thế nào và đến mức
độ nào.
2.3.5.Xu hướng hội nhập kinh tế
Thị trường thế giới mở cửa, tạo sân chơi bình đẳng cho các doanh nghiệp với
quy luật ”mạnh được yếu thua”. Cơ hội mới mở ra nhưng thách thức cũng liền kề
bởi các sản phẩm giầy dép Việt Nam luôn phải đối đầu với sự cạnh tranh của các
sản phẩm cùng loại của các nước khác, đặc biệt là Trung Quốc.
Trong khi Trung Quốc có lợi thế hơn về nguồn nguyên liệu, thiết kế sản phẩm
và được hưởng ưu thế từ việc tham gia Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).
Thực tế cho thấy, ngay tại thị trường EU, dù nhận được nhiều ưu đãi hơn nhưng
sản phẩm của Việt Nam chỉ chiếm 20% so với tỷ lệ 33% của Trung Quốc. Điều
này có nghĩa là để tăng khả năng cạnh tranh, các doanh nghiệp Việt Nam phải triển khai đồng bộ từ việc cơ cấu lại sản phẩm, phát triển các mặt hàng thế mạnh
phù hợp với xu hướng tiêu dùng của thị trường thế giới đến các vấn đề về nguyên
vật liệu, thiết kế mẫu mã và khả năng tiếp thị sản phẩm.

khẳng định vai trò và đóng góp đối với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước. Trong thời gian tới, sản xuất giầy dép tiếp tục chuyển dịch mạnh từ các
nước công nghiệp trát triển sang các nước đang phát triển có giá lao động rẻ, châu
Á sẽ trở thành khu vực sản xuất giầy dép chính của thế giới. Bên cạnh lợi thế về
nhân lực rẻ, dồi dào, Việt Nam cũn cú vị trí địa lý thuận lợi, điều kiện chính trị ổn
định, Chính phủ đó và đang tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho các ngành thu hút
nhiều lao động và có sản phẩm XK. Việc tạo dựng các nhân tố phát triển cho
ngành cũng chính là quá trỡnh nõng cao hàm lượng giá trị gia tăng của giầy dép
sản xuất tại Việt Nam và tăng tính chủ động của cá DN trong sản xuất, kinh doanh.
Ngành da giày Việt Nam đó đặt ra chiến lược phát triển với mục tiêu đến năm
2005 đạt kim ngạch xuất khẩu 3,1 tỷ USD và tăng lên 6,2 tỷ USD vào năm 2010. Mục tiêu sản xuất nguyên vật liệu phục vụ sx gia dầy đến 2010


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status