TIỂU LUẬN:
Chiến lược cạnh tranh của
công ty Amazon
A. Quá trình hình thành và phát triển của công ty Amazon
1. Giới thiệu một vài nét về công ty
Tên niêm yết trên sàn NASDAQ: AMZN
Năm hình thành 1994
Trụ sở chính Seattle, Washington - USA
Địa điểm kinh doanh Khắp nơi trên thế giới
Người đứng đầu
Jeffrey P.Bezos
đó đa dạng thêm các dòng sản phẩm như DVD, CD, MP3, phần mềm máy tính, trò
chơi điện tử, hàng điện tử, đồ ăn, trò chơi, đồ nội thất, nữ trang, quần áo. Amazon
thiết lập các trang web riêng tại Canada, Anh, Đức, Pháp, Trung Quốc và Nhật. Nó
đồng thời xuất một số loại hàng đến một số nước khác.
Vào 15/1/2009, một nghiên cứu của hãng Verdict Research chỉ ra rằng
Amazon là nhà bán lẻ nhạc và video được ưa chuộng tại Anh và đứng thứ ba trong
ngành bán lẻ.
2. Một vài nét về Jeffrey P.Bezos
Khôn ngoan, quỷ quyệt, Jeffrey P.Bezos cũng chẳng khác những thương
nhân nổi tiếng khác là bao. Hợm hĩnh quá lối, cứ như là Internet sinh ra là chỉ để
cho mình ông ta. Bất cứ ai khi muốn làm một cuộc dạo chơi và mua sắm trên mạng
chẳng chóng thì thấy rốt cuộc cũng phải rút hầu bao chi trả cho dịch vụ của Amazon
mà thôi. Trên Internet có rất nhiều các địa chỉ bán lẻ, bán buôn, thế nhưng những
cửa hàng lớn nhất, tên tuổi nhất, làm ăn tốt nhất đều nằm trong hệ thống điều hành
của Amazon. Và như vậy cũng có nghĩa là chúng thuộc về chính Jeff Bejoc
Bốn năm về trước, Jeff chỉ là một nhân viên làm thuê cho bác họ. Công việc
này chỉ kéo dài có đúng 8 năm. Và trong 8 năm đó Jeff đã nung nấu một ý chí là
phải làm sao lập ra cho mình một kế hoạch thăng tiến trong nghề nghiệp mà theo đó
cứ hai năm một lần anh ta phải thay đổi được vị trí của mình.
Năm 22 tuổi, với 2 mảnh bằng kỹ thuật điện tử và bằng lập trình viên, Jeff
rời gia đình lên New York. Tại đây Jeff được nhận vào làm ở một công ty máy tính
có tên là Fitel. Hiện nay Fitel là công ty con của tập đoàn Furukawa Electric của
Nhật Bản. Nhưng lúc mà Jeff còn làm ở đây với vai trò tập sự thì Fitel chỉ là một cái
tên chưa ai biết đến. Anh ta không đoái hoài đến những điều đó, cái quan trọng nhất
với anh ta là kế hoạch thăng tiến trong nghề nghiệp phải được diễn ra đúng theo ý
muốn đã định sẵn
Năm 1988, Jeff nhảy sang đầu quân cho một công ty tài chính có tên là
Trong ba tháng trời liền, Jeff luôn nghĩ về dự định mở một siệu thị bán hàng
qua mạng. Câu hỏi đầu tiên mà anh nghĩ đến là "Bán mặt hàng gì bây giờ?", không
ngần ngại ông tự trả lời: “Bán gì mà chẳng được”. Đầu tiên ông lên một danh sách
các mặt hàng định kinh doanh gồm hai chục món để rồi sau đó gạch hết đi chỉ để lại
5 thứ mà ông cho là cần thiết: chương trình máy tính, videocassettes, compact-dist
và sách. Cuối cùng sau khi đắn đo suy tính, Jeff đã chỉ để lại một thứ là sách. Kiếm
khách hàng và mời chào để nhiều người mua một món với giá 20$ còn đơn giản
hơn là chỉ có một khách hàng mua món hàng với giá 200$ - Jeff nhẩm tính.
Và Jeff đã không chần chừ trước quyết định của mình. Anh hăm hở bắt tay
vào việc. 30 tháng 6 năm 1994 là ngày làm việc cuối cùng của anh tại DE Shaw &
Co. Bỏ lại tất cả phía sau, anh cùng vợ và con chó yêu của mình tiến về phía tây
Seattle, bang Washington. Anh quyết định chọn nơi này để lập nghiệp bởi cơ chế
thuế thoáng hơn nơi khác, vả lại ở đây tập trung khá đông lực lượng lao động lành
nghề.
Jeff đăng ký tên công ty với cái tên Amazon.com, thuê văn phòng vốn là một
gara ô tô với giá rẻ, tuyển dụng 4 nhân viên trong đó có vợ mình và đặt nhiệm vụ
đúng 1 năm sau 30/6/1995 công ty sẽ bắt đầu công cuộc kinh doanh sách qua mạng
trên toàn lãnh thổ nước Mỹ.
Jeff đào tạo nhân viên theo hai hướng: một nửa nhân viên sẽ lo đàm phán với
các nhà xuất bản, các công ty bán buôn sách cũng như các chủ kho bãi, số còn lại lo
việc tìm nguồn tiêu thụ bằng các chương trình quảng cáo hoặc xây dựng phần mềm
tiêu thụ hàng trên mạng. Trước cả thời hạn đã định, trên mạng Internet đã xuất hiện
những quảng cáo đầu tiên về một loại hình kinh doanh mới - kinh doanh sách qua
mạng.
Và Jeff đã thành công ngay từ những ngày đầu tiên đó. Ban đầu cả chủ lẫn
nhân viên miệt mài đóng sách gửi qua đường bưu điện, nhưng sức không đủ, đơn
đặt hàng thì tới tấp, anh quyết định mở thêm các điểm giao hàng. Lợi nhuận thu
lần đầu vào 15/5/1997, giao dịch trên sàn chứng khoán NASDAQ, giá IPO là 18
USD/1 cổ phiếu (1.5USD/1 cổ phiếu sau ba lần chia giá trị cổ phiếu trong những
năm cuối thập kỉ 90)
Kế hoạch kinh doanh ban đầu của Amazon rất lạ, công ty không kì vọng vào
lợi nhuận cho 4 đến 5 năm, chiến lược là hiệu quả. Amazon tăng trưởng ổn định
trong cuối những năm 1990 trong khi những công ty Internet khác tăng trưởng
nhanh. Sự tăng trưởng “chậm” của Amazon dấy lên lo ngại của cổ đông rằng công
ty đang không vươn tới được lợi nhuận đủ nhanh. Khi bong bóng dotcom nổ, nhiều
công ty điện tử làm ăn thất bát, Amazon vẫn đứng vững và cuối cùng nó cho ra lợi
nhuận đầu tiên trong quý IV 2001: 5triệu USD, chỉ 1 cent/cổ phiếu, doanh thu hơn 1
tỷ USD nhưng một cách tượng trưng lợi nhuận thì vẫn quan trọng
Công ty duy trì có lợi nhuận, 2003 thu nhập sau thuế là 35.3 triệu USD,
588.50 triệu $ (2004), 359 triệu $ (2005), 190 triệu $ (2006) (bao gồm đã tính cả
662 triệu $ chi cho R & D). Mặc dù vậy lợi nhuận lũy kế vẫn là âm. 9/2007 thâm
hụt lũy kế ở mức 1.58 tỷ $. Doanh thu tăng nhờ vào đa dạng hóa sản phẩm.
Vào 21/11/2005, Amazon tham gia chỉ số S&P 500, thay thế cho AT&T sau
khi AT&T sát nhập với SBC communications. Vào 31/12/2008, Amazon được vào
chỉ số S&P100, thay cho Merrill Lynch sau khi nó được Ngân hàng trung ương Mỹ
tiếp quản.
Vào 1999, tạp chí Time xếp Bezos là “Nhân vật của năm” ghi nhận thành
công của công ty trong việc quảng bá mua hàng trực tuyến.
4. Trụ sở chính
Trụ sở toàn cầu của công ty đặt tại đồi Beacon – Seattle. Công ty có các văn
phòng rải khắp các khu vực khác của Seattle rộng lớn bao gồm Union Station và
trung tâm Columbia
Amazon vừa công bố kế hoạch chuyển trụ sở chính về Nam hồ Union lân cận
Seattle, bắt đầu vào giữa 2010, hoàn tất vào 2011. Sự di chuyển này sẽ tập hợp tất
cả nhân viên tại Seattle vào khuôn viên tòa nhà 11 tầng mới.
Vào 16/5/2007, Amazon công bố dự định triển khai cửa hàng âm nhạc trực
tuyến. Cửa hàng bắt đầu tại Mỹ vào 25/9/2007, kinh doanh việc tải nhạc MP3
không quản lý quyền kỹ thuật số (DRM). Điều này rất đáng lưu ý bởi vì nó là dịch
vụ bán online dầu tiên, nhạc DRM miễn phí từ cả bốn công ty thu âm.
Vào tháng 8/2007, Amazon công bố Amazon Fresh- dịch vụ thực phẩm bán
các loại thực phẩm tươi sống và ăn sẵn. Đơn hàng của khách có thể được phân phát
hoặc gửi hàng đến tận nhà vào sáng sớm.
Ban đầu sự giao hàng bị hạn chế đến người dân ở Mercer Island, bang
Washington rồi sau đó mở rộng đến một số ZIP codes ở Seattle proper. Amazon-
Fresh vận hành ở một số địa điểm được chọn ở vùng phụ cận của Bellevue và
Kirkland từ hè năm 2007 đến đầu năm 2008.
Năm 2008 Amazon mở rộng thêm lĩnh vực sản xuất phim và gần đây đang
đầu tư cho phim “The stolen Child” hợp tác với hãng 20
th
Century Fox.
6. Website
Tên miền amazon.com thu hút ít nhất 615 triệu lượt người ghé thăm hàng
năm theo nghiên cứu của Compete.com. Con số này gấp hai lần của Walmart.com
Amazon cho phép người sử dụng đăng tải bài bình luận trên trang web của
mỗi sản phẩm. Cũng là một phần của bình luận sản phẩm, người sử dụng phải xếp
hạng sản phẩm dựa vào thang xếp loại từ một đến năm sao. Năm 2004, một lỗi phần
mềm vô tình đã hiện thị tên dưới bài viết được đăng tải vô danh và đã làm lộ ra rằng
một số tác giả dã viết những bài bình luận đánh bóng những cuốn sách của chính
mình. Amazon đã thiết kế một chức năng cho phép người sử dụng phản hồi lại
nhưng bài bình luận. Amazon cung cấp tùy chọn cho người bình luận, ví dụ để chỉ
ra tên thật của người viết bình luận (dựa trên thông tin trên tài khoản tín dụng) hoặc
để chỉ rằng người bình luận là một trong những top những người bình luận tính về
toàn thế giới, Amazon có trên 900000 thành viên trong chương trình những cộng tác
viên của nó. Cộng tác viên có thể truy cập danh mục tài liệu của Amazon một cách
trực tiếp trên website của họ bằng việc sử dụng web của Amazon (AWS). Một sản
phẩm mới cho các cộng tác viên – astore – cho phép các cộng tác viên đặt một tập
hợp con những sản phẩm của Amazon vào bên trong hoặc liên kết chúng với những
website khác.
Amazon công bố có hơn 1.3 triệu nhân viên bán hàng qua web của Amazon
trên toàn thế giới vào năm 2007. Bán hàng trên Amazon đã trở thành phổ biến khi
Amazon mở rộng danh mục sách đa dạng hơn và xây dựng các chức năng khác
nhau hỗ trợ bán sách.
Không giống như eBay, những người bán sách trên Amazon không duy trì
một tài khoản thanh toán riêng mà tất cá sự thanh toán và an ninh đều được thực
hiện bởi chính Amazon.
Theo như website compete.com - một web đo lường khán giả trên Internet,
Amazon đã thu hút khoảng 50 triệu người tiêu dùng Mỹ vào website của nó mỗi
tháng.
B. Chiến lược kinh doanh.
I. Tìm hiểu thị trường
1. Tiềm năng phát triển thị trường .
Internet ngày càng phát triển mạnh mẽ: năm 1994 thì việc sử dụng Internet đã
tăng đến 2.300% một năm.
Ở Việt Nam theo khảo sát mới nhất của Asia Digital Marketing Yearbook, hiện
số người sử dụng Internet tại VN đứng hạng 17 trong 20 quốc gia và vùng lãnh thổ
đứng đầu thế giới (tính đến tháng 5/2007).
trước rất nhiều. Việc thanh toán cũng được thực hiện ngay trên trang web.
Điều này sẽ tiết kiệm được thời gian, công sức mà lại tự tham khảo được nhiều
thông tin để lựa chọn.
So với các loại hình mua sắm thông thường khác: nhanh chóng , dễ dàng ,
thuận tiện Với một chiếc máy vi tính kết nối internet và một chiếc thẻ tín
dụng, bạn có thể ngồi nhà và shopping khắp năm châu.
Với mục đích tiết kiệm thời gian và mang lại sự tiện lợi, dịch vụ mua sắm qua
mạng kết hợp với thẻ tín dụng đã ra đời. Giờ đây, bạn có thể ngồi nhà và thoải mái
mua sắm hàng trăm mặt hàng của các nhà cung cấp khác nhau. Tuy nhiên, không ít
người vẫn chưa quen mua sắm qua mạng vì ngại rủi ro và thủ tục phức tạp.
2. So sánh giữa Amazon và Ebay.
Có thể khẳng định rằng eBay và Amazon là hai “ông vua” của thị trường bán lẻ
trực tuyến. Và tất nhiên, cả hai cũng rất chuyên nghiệp và lớn mạnh. Để giúp các
công ty hiểu được lợi thế đặc biệt của hai “ông lớn” này, chúng tôi đã lựa chọn 7
điểm để so sánh. Những kết luận này được dựa trên sự phân tích của chuyên gia tư
vấn về thương mại điện tử Steve Lindhorst, trường đại học quốc gia eBay và tác giả
của cuốn sách điện tử bán chạy nhất “Selling on ‘The River’ - The eBay Seller’s
Guide to Amazon.com”
Giá cả
Không giống như Amazon, eBay tính theo một danh sách phí dù là khoản
nào đi chăng nữa, cũng như là PayPal có thể áp dụng được. Nhưng số tiền
hoa hồng của nó cũng thấp hơn nhiều so với Amazon (8% đối với những sản
phẩm dưới 25 đô la so với 15%). Lindhorst nói: “Trong khi Amazon duy trì
mức phí cao hơn thì danh sách của họ kéo dài hơn và về cơ bản phụ thuộc
vào sự tác động giữa người bán và người mua.”
Hình thức bán
EBay đại chúng hóa danh sách đấu giá thì Amazon chỉ tập trung vào những danh
tài khoản ngân hàng của người bán mỗi tháng hai lần mà không thêm một khoản thu
phí nào. Lợi ích này cho phép người bán không phải gửi hóa đơn chuyển tiền hay
những phiếu nhắc nhở thanh toán hoặc những sản phẩm chưa thanh toán. Nếu
Amazon không thể có được số tiền khách hàng trả thì những người bán không giao
dịch và mặt hàng đó vẫn nằm trong danh sách. Mặt khó khăn là mặc dù những
khách hàng của Amazon luôn có nhiều sự lựa chọn về phương thức thanh toán
nhưng họ vẫn không thể sử dụng PayPal, hình thức mà khá nhiều khách hàng ưa
thích nhờ tính đảm bảo và tiện lợi của nó. Người bán hàng trên eBay có thể chấp
nhận PayPal, và các loại tiền, hoặc tiền mặt. Tuy nhiên, họ có trách nhiệm cho việc
quản lý số tiền mà có nghĩa là đang đầu tư nhiều hơn về thời gian và nhân lực trong
mỗi lần giao dịch.
Chính sách trả lại hàng
Những người bán trên eBay thường láu cá hơn sơ với Amazon về chính sách
trả lại bắt buộc. Sự đảm bảo từ A đến Z của nó cho phép người mua nhận được số
tiền đầy đủ nếu một sản phẩm khác biệt về chất lượng như đã miêu tả trong vòng 90
ngày đổ lại. Nhưng với Amazon thì đặc biệt lại nằm ngoài cuộc với người mua. Mặt
khác những người bán hàng trên eBay được miễn phí đàm phán với khách hàng qua
cách giải quyết tranh luận có lý của chủ hàng và thông thường là người mua không
được yêu cầu đòi hoàn lại hàng. Trong khi tiến trình giải quyết có lý này có thể có
hiệu quả nhưng nó cũng có thể tạo ra sự “lùm xùm” và mất thời gian, thậm chí là
nhận lại những phản hồi tiêu cực của khách hàng.
Vận chuyển
Một số người bán hàng trên eBay đã bắt đầu sử dụng chi phí vận chuyển tăng
lên dựa theo giá sản phẩm. Để trung hòa lại cách ứng xử không mấy thân thiện với
người mua này, hiện nay eBay đã ra quy định phạt những công ty nào đưa ra mức
phí vận chuyển cao hơn mức trung bình và loại họ ra khỏi danh sách bán hàng trên
trang web. Mặt trái của điều này là làm cho những người bán hàng bị tổn thất và
cầu hàng ngày của con người đa dạng hơn. Amazon đặt mục tiêu cung cấp hầu hết
các sản phẩm mà khách hàng có nhu cầu giống như biểu tượng logo cuẩ hang đã
chứa đựng đầy tham vọng muốn cung cấp tất cả những sản phẩm có trong bảng chữ
cái. Sau năm đầu tiên thành công ngoài dự tính Amazon mở rộng thêm các mặt
hàng như là bán thực phẩm, quần áo thời trang, đồ trang sức…Và người ta nói rằng
đến với Amazon sẽ có tất cả những thứ ban cần từ thượng vàng hạ cám. Con người
ngày càng chịu nhiều áp lực về thời gian hơn họ ít có thời gian đi mua sắm hơn.
Mặt khác công nghệ mua sắm mới làm cho họ thấy hứng thú hơn với phong cách
tiêu dùng mới. Do vậy chuyển trong tâm sang chiến lược bán các mặt hàng tiêu
dùng thiết yếu hàng ngày lại là một chiến lược khôn ngoan của Amazon.
1.2. Tập trung vào hình thức bán lẻ trực tiếp
Amazon và eBay là 2 “ông lớn” trong thi trường bán lẻ. Amazon có quan
điểm tiến chậm mà chắc. Trước đây, hai hãng có hai hướng đi khác nhau nên
thường tuyên bố họ bổ sung cho nhau chứ không cạnh tranh trực tiếp. eBay thiên về
bán đấu giá với hàng ngàn cửa hàng của người tiêu dùng lập ra, còn Amazon bán lẻ
trực tiếp.Nhưng nay, eBay chuyển trọng tâm sang bán hàng có giá cố định, còn
Amazon lại khuyến khích người tiêu dùng mở cửa hàng bán lẻ trên Amazon nên rốt
cuộc hai bên tiến lại gần nhau trong chiến lược phát triển
Jeff Bezos, khi trả lời phỏng vấn của tờ New York Times, cho rằng họ sẵn sàng
gieo hạt chờ năm bảy năm để hái quả. Trong khi eBay mở rộng ra hướng quảng cáo
rao vặt, thanh toán trực tuyến rồi điện thoại Internet, Amazon bỏ ra hàng trăm triệu
Đô la để xây dựng thương hiệu thành nơi bán lẻ đáng tin cậy - như sẵn sàng trả tiền
cho khách khi việc mua bán bị trục trặc.
2. Chiến lược khác biệt hóa sản phẩm
2.1. Chính sách cung cấp những sản phẩm chất lượng cao
Khách hàng ngày càng khó tính hơn, yêu cầu của họ về sản phẩm chất lượng
cao và đáp ứng nhu cầu ngày ngày càng khắt khe. Họ ít quan tâm tới mức giá cả của
nghiệp từ so khai cho đến hiện đại như sử dụng biển quảng cáo , quảng cáo trên báo
chí, truyền hình, radio…. Mỗi phương thức đều có ưu nhược điểm riêng và những
đăc trưng lợi thế mà các loại hình quảng cáo khác không có được. Thế giới càng
văn minh hiện đại thì hình thức phương tiện marketing càng phong phú và đa dạng.
trong thời đại bùng nổ công nghệ như hiện nay thì một phương thức marketing được
xem là mang lại hiệu quả cao cho các doanh nghiệp khi muốn bán sản phẩm của
mình đó là E _ marketing. Vậy e_ marketing là gi? Về bản chất, đây là hình thức áp
dụng các công cụ của công nghệ thông tin thay cho các công cụ thông thường để
tiến hành các quá trình marketing. E_ marketing còn được gọi là marketing trực
tuyến.
1.2 Những lợi thế và điểm bất lợi của e_ marketing
1.2.1. Những lợi ích của e_marketing
Rút ngắn khoảng cách: Vị trí địa lý không còn là một vấn đề quan trọng.
Internet đã rút ngắn khoảng cách, các đối tác có thể gặp nhau qua không gian máy
tính mà không cần biết đối tác ở gần hay ở xa. Điều này cho phép nhiều người mua
và bán bỏ qua những khâu trung gian truyền thống.
Tiếp thị toàn cầu: Internet là một phương tiện hữu hiệu để các nhà hoạt động
marketing tiếp cận với các thị trường khách hàng trên toàn thế giới. Điều mà các
phương tiện marketing thông thường khác hầu như khong thể.
Giảm thời gian: Thời gian không còn là một yếu tố quan trọng. Những người
làm marketing trực tuyến có thể truy cập lấy thông tin cũng như giao dịch với khách
hàng 24/7.
Giảm chi phí: Chi phí sẽ không còn là gánh nặng. Chỉ với 1/10 chi phí thông
thường, marketing trực tuyến có thể đem lại hiệu quả gấp đôi
1.2.2. Những đòi hỏi của e_marketing đối với người làm marketing
Sự phát triển mạnh mẽ của Internet đã làm thay đổi bộ mặt của toàn thế giới.
Cùng với nó là sự thay đổi về thói quen cũng như tập quán tiêu dùng của khách
hay các doanh nghiệp đều đang rất khắt khe và khó tính bởi vì đang có một số
lượng rất lớn các nhà cạnh tranh trên toàn cầu, tất cả đều đang cạnh tranh rất khốc
liệt. Do vậy, khả năng xử lý thông tin và đưa ra những giải quyết kịp thời là yếu tố
vô cùng quan trọng.
1.2.3. Những thách thức khi áp dụng E_marketing trên nền tảng thương mại
điện tử
Mặc dù mang lại những lợi ích kinh tế lớn, thương mại điện tử cũng đồng thời
tạo ra những thách thức mới đối với người làm marketing, đặc biệt trên thị trường
quốc tế.
Khó khăn trong xây dựng nhãn hiệu toàn cầu: Câu hỏi đặt ra đối với nhà marketing
quốc tế là nên xây dựng một nhãn hiệu toàn cầu hay xây dựng nhãn hiệu khác nhau
phù hợp với văn hoá từng địa phương? Nên xây dựng các trang web với hình thức
và nội dung căn bản giống nhau hay có thay đổi ở từng quốc gia? Có nên đăng ký
địa chỉ trang web khác nhau ở các quốc gia khác nhau hay không? P&G đã sử dụng
tới 134 địa chỉ trang web khác nhau ở các quốc gia khác nhau nhằm giới thiệu các
sản phẩm đa dạng của P&G.
Thương mại điện tử tạo lực lượng cạnh tranh mới: Với chi phí marketing không
cao, hiệu quả kinh tế có thể xác định rõ, thương mại điện tử giúp các doanh nghiệp
mài giũa các công cụ cạnh tranh như giá, quảng cáo và các thông tin marketing khác
ngày càng sắc bén và hiệu quả hơn. Nhưng cũng chính tiện ích của thương mại điện
tử lại gây ra nhiều lực lượng cạnh tranh đối với một sản phẩm từ nhiều phía.
Hiệu quả ngược của marketing điện tử: Quảng cáo điện tử có thể gây ra những hiệu
quả marketing ngược khi quảng cáo ảnh hưởng đến cuộc sống riêng tư của từng cá
nhân tiêu dùng. Tâm lý chán ghét và không tin vào quảng cáo đã xuất hiện ở nhiều
quốc gia. Người tiêu dùng cảm thấy luôn bị theo dõi mọi hành vi mua hàng và trong
cuộc sống, quảng cáo xuất hiện mọi nơi mọi lúc. Bởi vậy, nhà marketing cần thiết
phải sử dụng thương mại điện tử thông qua các công cụ marketing có sự cho phép
nội dung phù hợp với đặc điểm nhóm này.
Bán hàng trên mạng: Người tiêu dùng có thể tìm thấy mọi thứ mình cần trên mạng
từ chocolate đến ô-tô. Amazon.com từng có doanh số bán sách 32 triệu USD trong
năm đầu khai trương cửa hàng trên mạng.
Hỗ trợ tiêu dùng: Hỗ trợ tiêu dùng và khách hàng là một trong những ưu điểm
quan trọng của marketing điện tử mà nhiều công ty không chú ý đến. Hiện nay, hỗ
trợ tiêu dùng mới chỉ dừng lại ở dạng sơ khai dưới hình thức các câu hỏi khách
hàng thường hỏi (FAQs-Frequent Asked Questions). Những hình thức khác doanh
nghiệp có thể áp dụng là trả lời thắc mắc của khách hàng, email trả lời tự động,
thông tin cập nhật, diễn đàn người tiêu dùng, tán chuyện trên mạng…
Điều tra thị trường: Internet mang lại hiệu quả cao trong nghiên cứu thị trường,
thông qua xây dựng hệ thống dữ liệu khách hàng cập nhật và đầy đủ. Điều tra thị
trường qua mạng tiết kiệm chi phí cho doanh nghiệp và thời gian cho khách hàng.
Đồng thời, độ tin cậy của điều tra cũng có thể được kiểm tra chặt chẽ bằng cách kết
hợp thông tin từ nhiều nguồn khác nhau.
Theo dõi hành vi người tiêu dùng: Máy chủ cho phép doanh nghiệp theo dõi từng
động thái của khách hàng mỗi khi khách hàng xâm nhập vào mạng của công ty: thời
gian trên mạng, mở những trang web nào, chọn và mua những sản phẩm gì, đã mở
trang web có sản phẩm đó bao nhiêu lần, quan tâm tới nhóm sản phẩm nào, ưa thích
màu gì, thường chọn cỡ sản phẩm nào… Thông tin này cho phép người làm
marketing giới thiệu sản phẩm phù hợp hoàn toàn với nhu cầu của từng cá nhân
khách hàng.
2. Chiến lược hậu cần
2.1 Hệ thống kho hàng
Hậu cần là một trong sáu chức năng quan trọng trong hoạt động của một doanh
nghiệp. Nó đảm bảo cho hệ thống sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra
binh thường . Nó cũng là một lợi thế canh tranh của các doanh nghiệp khi doanh
Để đáp lại, các nhà quản lý của Amazon ở bộ phận lưu kho phải nỗ lực hết sức để
đẩy năng suất lên cao tới tối đa. Chẳng hạn bằng việc tái thiết kế hệ thống chuyển
hàng trên băng chuyền tự động, Amazon đã có thể tăng năng suất của một kho lên
40%. Trong 3 năm qua, chi phí vận hành các nhà kho của Amazon đã giảm từ 20%
doanh thu xuống còn chưa đầy 10% doanh thu. Thậm chí ngay cả ban quản trị công
ty cũng không thể tin được vào thành tích này. Các nhà kho của Amazon vận hành
hiệu quả đến nỗi tỷ lệ luân chuyển hàng mới của các nhà kho này đạt 20 lần/năm.
Tất cả các công ty bán lẻ khác chỉ đạt con số dưới 15 lần/năm. Trên thực tế, một
trong những thế mạnh lớn nhất hiện nay của Amazon là năng lực quản lý hàng tồn
kho, và thậm chí Amazon còn được các công ty bán lẻ khác giao toàn bộ hoạt động
kinh doanh thương mại điện tử của mình cho Amazon thầu phụ, như trường hợp các
hãng bán lẻ Toys R Us và Target.
Tất cả những điều trên đây lý giải một luận điểm quan trọng Bezos kiên trì theo
đuổi từ khi ông khởi sự Amazon mà đến bây giờ mọi người mới tin: "Trong một thế
giới hữu hình, mọi người đều nghĩ địa điểm là quan trọng nhất. Đối với chúng tôi, 3
thứ quan trọng nhất là: công nghệ, công nghệ và công nghệ." Amazon chi tiêu nhiều
tiền vào phát triển các phần mềm tin học. Nhờ việc chuyển sang sử dụng hệ điều
hành miễn phí Linux, hãng giảm được chi phí công nghệ tới 20%. Amazon còn vượt
lên các nhà bán lẻ truyền thống khác bằng cách mở rộng hợp tác với các đối thủ
cạnh tranh. Amazon hiện bán rất nhiều sản phẩm của các nhà bán lẻ khác trên cùng
trang Web của mình. Nghe thì có vẻ như là Amazon đang "tự sát", và lúc đầu Bezos
đã phản đối ý tưởng này. Nhưng sau khi thực hiện ý tưởng đó, thì thành công của
Amazon đã vượt ra ngoài dự kiến. Amazon sở dĩ làm được điều này là do hãng sở
hữu một hệ thống lưu kho rất hiệu quả. Tỷ suất lợi nhuận của Amazon khi bán buôn
và ăn hoa hồng cho các đối thủ cạnh tranh cũng cao không kém tỷ suất lợi nhuận
nếu hãng bán lẻ trực tiếp tới người tiêu dùng.