Những thay đổi trong cơ cấu hang hoá xuất nhập khẩu Việt Nam sau khi gia nhập WTO
I. Lời mở đầu
Ngày 7 tháng 1 năm 2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên
thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới WTO. Điều này đặt Việt Nam trước
rất nhiều cơ hội và thách thức không nhỏ. Sự kiện này cũng kết thúc lộ trình
hơn 11 năm kiên trì theo đuổi các vòng đàm phán với hơn 28 nước thành viên
WTO của nước ta. Cùng với việc gia nhập WTO, Việt Nam đã có được những
lợi ích vô cùng to lớn, đặc biệt là ở khía cạnh mở rộng khả năng tiếp cận thị
trường cho hang hoá xuất nhập khẩu. Xuất khẩu của Việt Nam sẽ không bị bó
hẹp trong các hiệp định song phương và khu vực mà sẽ có thị trường toàn cầu.
Các doanh nghiệp và hàng hóa của ta sẽ không bị phân biệt đối xử so với
doanh nghiệp và hàng hóa của các nước khác theo điều kiện đối xử tối huệ
quốc (MFN) và đối xử quốc gia (NT). Hơn nữa, việc giảm bớt hàng rào
thương mại cho phép thương mại tǎng trưởng, góp phần làm tǎng trưởng kinh
tế nói chung. Nhất là đối với Việt Nam hiện nay, xuất khẩu chiếm tới gần 50%
GDP, nên việc đẩy mạnh xuất khẩu có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển
kinh tế. Đặc biệt, kể từ khi gia nhập WTO, cơ cấu hàng xuất nhập khẩu nước
ta đã có những thay đổi đáng kể.
II.Về cơ cấu hàng hoá xuất nhập khẩu Việt Nam sau khi gia nhập WTO
1. Xuất khẩu
1.1 Giai đoạn trước khi Việt Nam gia nhập WTO
Về qui mô và tốc độ tăng trưởng
Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá hàng năm thời kỳ
1990-1999 đạt 20%; 2000-2006 là 19,3%, được xếp vào mức cao nhất khu
vực, chỉ đứng sau Trung Quốc. Từ chỗ chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ so với tổng thu
nhập quốc dân (24% GDP năm 1991), đến nay xuất khẩu đã chiếm 64,9%,
1
Những thay đổi trong cơ cấu hang hoá xuất nhập khẩu Việt Nam sau khi gia nhập WTO
đứng thứ 5 so với các nước trong khu vực Đông Nam Á, thứ 6 ở châu Á, thứ 8
trên thế giới. Nếu như năm 2000 tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam chỉ
đạt xấp xỉ 14,5 tỉ USD, thì năm 2006 đã đạt 39,6 tỉ USD, gấp 2,7 lần năm
Trong giai đoạn từ năm 1990 đến 2006, xuất khẩu đã trở thành nhân tố
quan trọng và là động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế. Nhìn chung, nền kinh
tế quốc dân đã được định vị theo hướng xuất khẩu và độ mở cửa là tương đối
rộng.
Về chuyển dịch cơ cấu hàng hoá xuất khẩu
Cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam trong 15 năm gần đây đã có sự thay đổi
theo hướng tích cực. Tỷ trọng nhóm hàng nông - lâm - thủy sản đã giảm từ 52,2%
năm 1990 xuống còn khoảng 20,5% năm 2006. Tỷ trọng xuất khẩu nhóm hàng
công nghiệp và thủ công mỹ nghệ tương đối ổn định: 33,9% năm 2001; 40,4%
năm 2004 và 39,0% năm 2006. Tỷ trọng nhóm hàng nhiên liệu, khoáng sản cũng
dao động trong khoảng từ 21,6 % năm 2001 đến 24,7% năm 2005 và 23,4% năm
2006 (xem bảng 2).
Bảng 2: Cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam thời kỳ 2001 - 2006 (%)
3
Những thay đổi trong cơ cấu hang hoá xuất nhập khẩu Việt Nam sau khi gia nhập WTO
2001 2002 2003 2004 2005 2006
Nông, Lâm, Thuỷ sản 24,3 23,9 22,1 20,5 21,1 20,5
Nhiên liệu,khoáng sản 21,6 20,5 19,9 22,7 24,7 23,4
CN và TCMN 33,9 40,0 40,5 40,4 38,4 39,0
Hàng hoá khác 20,2 15,6 17,5 16,4 15,6 17,1
Nguồn: Báo cáo tổng kết của Bộ Thương mại 2005, 2006
Để thấy rõ hơn sự chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu, có thể quan sát cơ
cấu của hàng xuất khẩu chế biến. Theo cách phân tích này hàng xuất khẩu chế
biến được chia thành 3 nhóm chính: (i) Ngành chế biến dựa vào nguồn tài
nguyên; (ii) Ngành chế tạo công nghệ thấp sử dụng nhiều lao động và sản xuất
các cấu kiện, công nghệ trung bình; (iii) Các ngành công nghệ cao, sử dụng nhiều
vốn (xem bảng 3).
Bảng 3: Sự thay đổi cơ cấu xuất khẩu sản phẩm chế biến thời kỳ 1985 - 2004
Hàm lượng xuất
khẩu
dài hạn, sự chậm trễ này sẽ làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế, giảm sức cạnh
tranh và cải thiện cán cân thanh toán.
Nếu phân tích cơ cấu xuất khẩu của nước ta có tính đến cả mức độ giá trị
tăng thêm, có thể thấy, tỷ trọng các mặt hàng tinh chế có giá trị gia tăng rất thấp,
chỉ chiếm gần 30% (năm 2006).
Nhìn chung, cơ cấu xuất khẩu mặc dù đã có sự chuyển biến song tốc độ
còn chậm. Tỷ trọng hàng xuất khẩu chế biến (công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công
nghiệp) còn quá khiêm tốn, trong khi hàng sơ chế và khoáng sản vẫn còn chiếm
tỷ trọng lớn. Sự chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu, nhìn chung, chưa thật bền vững,
còn chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro. Cơ cấu xuất khẩu là một trong những hạn chế
lớn nhất của nền kinh tế. Nếu không tăng nhanh tỷ trọng các mặt hàng chế biến,
xét về dài hạn, tăng trưởng xuất khẩu sẽ khó có thể tiếp tục đà tăng cao như hiện
nay.
Theo đánh giá của các chuyên gia, Việt Nam đang ở điểm xuất phát của
Ma-lai-xia, In-đô-nê-xi-a và Thái Lan trong thời kỳ cuối thập kỷ 70 thế kỷ XX.
Nói cách khác, đằng sau những con số thể hiện sự tăng trưởng trung bình khá ấn
tượng của xuất khẩu trong thời kỳ 1991-2004, có thể nhận thấy rằng, xuất khẩu
của Việt Nam trong hơn một thập kỷ vừa qua vẫn chưa có những sự thay đổi về
chất. Xuất khẩu mới chỉ dừng ở chỗ khai thác lợi thế so sánh sẵn có về tài nguyên
5
Những thay đổi trong cơ cấu hang hoá xuất nhập khẩu Việt Nam sau khi gia nhập WTO
và lao động rẻ, chưa khai thác lợi thế về công nghệ và vốn của quá trình tự do hoá
thương mại thế giới. Điều này sẽ ảnh hưởng đến quá trình công nghiệp hoá, hiện
đại hoá, hội nhập kinh tế và chứa đựng nhiều rủi ro khác như ổn định kinh tế vĩ
mô, vì cán cân thương mại trong dài hạn sẽ khó được cải thiện.
Về cơ cấu xuất khẩu phân theo thành phần kinh tế
Có thể thấy một điểm tích cực là trước đây, tốc độ tăng kim ngạch xuất
khẩu của khu vực FDI thường cao gấp 1,5 - 2 lần khu vực doanh nghiệp 100%
vốn trong nước, song năm 2006, tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu của hai khu vực
này (20,5 và 23,2%). Đây là kết quả của quá trình đầu tư chiều sâu, đổi mới công
được mở rộng từ ASEAN đến châu Á, châu Âu và châu Mỹ, châu Phi. Nếu như
từ năm 2000 trở về trước thị trường xuất khẩu thị trường chủ yếu của nước ta chủ
yếu ở khu vực châu Á, thì từ 2001 đến nay, thị trường đã được đa dạng hoá.
Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu vào thị trường châu Mỹ tăng đều trong 3
năm qua (từ 21,3% năm 2004 lên 23,2% năm 2006). Thị trường Hoa Kỳ vẫn là
đối tác chính của Việt Nam về xuất khẩu với kim ngạch 8 tỉ USD, chiếm tỷ trọng
86,8%, các nước khác chỉ chiếm 13,2% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá
sang thị trường châu Mỹ.
Trong khi đó, mặc dù gặp rất nhiều khó khăn đối với xuất khẩu giày dép
nhưng thị trường châu Âu vẫn duy trì được tỷ trọng 19-20% trong tổng kim ngạch
xuất khẩu của cả nước từ năm 2004 đến nay. Các nước EU chiếm tỷ trọng 89,2%
kim ngạch xuất khẩu hàng hoá sang thị trường châu Âu (6,81 tỉ USD), tăng
23,5% so với cùng kỳ năm 2005.
Riêng châu Á, kim ngạch xuất khẩu chiếm tỷ trọng rất lớn so với các châu
lục khác, bởi đây là thị trường lớn nhất từ trước tới nay. Ngoài ra, việc số liệu
thống kê về xuất khẩu vào châu Đại Dương được tính gộp vào châu Á (kể từ năm
nay) đã làm tăng thêm tỷ trọng của khu vực này (châu Đại Dương chiếm tỷ trọng
7
Những thay đổi trong cơ cấu hang hoá xuất nhập khẩu Việt Nam sau khi gia nhập WTO
8,3% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước). Trong đó, khu vực Đông Bắc
Á chiếm tỷ trọng 51,8%, đạt kim ngạch 10,79 tỉ USD; khu vực Đông Nam Á
chiếm tỷ trọng 31,5%, đạt kim ngạch 6,56 tỉ USD; châu Đại Dương chiếm tỷ
trọng 15,87%, đạt kim ngạch 3,3 tỉ USD... trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng
hoá sang thị trường châu Á (xem bảng 5).
Bảng 5: Cơ cấu thị trường xuất khẩu (%)
Khu vực thị
trường
2000 2002 2003 2004 2005 2006
Châu Á 60,5 52,0 49,0 54,8 58,5 52,6
Châu Âu 23,0 23,0 22,0 20,4 18,1 19,3
hạn là rất hạn chế. Bởi vì không thể tăng trưởng dựa vào các mặt hàng hạn chế về
năng suất, khả năng khai thác, đánh bắt và phụ thuộc quá nhiều vào nguồn
nguyên liệu nước ngoài.
Với giá trị gia tăng thấp như hiện nay, nếu không cải thiện năng lực cạnh
tranh, chủ động nguồn nguyên liệu, trình độ công nghệ (còn thấp, lạc hậu với khu
vực 1-2 thế hệ; với các nước tiên tiến 2-3 thế hệ), chất lượng lao động, giảm chi
phí trung gian thì rất khó có thể tạo ra được những đột phá nâng cao chất lượng
xuất khẩu và cải thiện cán cân thương mại.
1.2 Giai đoạn sau khi Việt Nam gia nhập WTO
Xu hướng chuyển dịch cơ cấu hàng hoá xuất khẩu
9
Những thay đổi trong cơ cấu hang hoá xuất nhập khẩu Việt Nam sau khi gia nhập WTO
Theo đánh giá của Vụ xuất nhập khẩu - Bộ Thương mại, trong giai đoạn
2006-2010, cơ cấu hàng xuất khẩu Việt Nam sẽ có những điểm thay đổi tập trung
ở 3 xu hướng chuyển dịch và tăng trưởng của các nhóm hàng xuất khẩu.
Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của nhóm hàng nguyên, nhiên liệu
sẽ giảm dần do tác động của sự sụt giảm khối lượng xuất khẩu dầu thô và than đá
kéo theo kế hoạch đã được đề ra trong những năm tiếp theo, đặc biệt là kể từ năm
2009, khi Nhà máy lọc dầu số 1 Dung Quất bắt đầu đi vào hoạt động và sẽ tăng
sử dụng nguồn nguyên liệu dầu thô trong nước.
Thứ hai, tốc độ tăng trưởng của nhóm hàng nông, lâm, thủy sản dự báo sẽ
tăng dần nhưng với biên độ thấp do gặp phải nhiều hạn chế về khả năng mở rộng
quy mô nuôi, trồng và chủ yếu phải dựa vào việc gia tăng hàm lượng chế biến để
nâng cao giá trị xuất khẩu.
Thứ ba, xuất khẩu của nhóm hàng công nghiệp và thủ công mỹ nghệ sẽ có
khả năng tăng mạnh do có điều kiện mở rộng quy mô sản xuất. Đặc biệt, xu
hướng này càng mang tính khả thi có nhiều dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ
bắt đầu đi vào hoạt động trong giai đoạn này.
Vì vậy ngay từ đầu năm 2007, cần tập trung đầu tư vào các nhóm hàng
công nghiệp để mở rộng sản xuất, khai thác thêm những mặt hàng mới, thị trường
chủng loại còn trúng thầu với giá cao hơn. Gạo Việt Nam đã xuất khẩu sang hơn
70 quốc gia và vùng lãnh thổ, kể cả EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản - là những thị trường
có yêu cầu khắt khe.
Cà phê xuất khẩu cũng gặp thuận lợi về thị trường, giá tăng từ 800 đến
1000 USD/tấn, nên đây là năm đầu tiên kim ngạch cà phê vượt gạo. Dù ảnh
hưởng của bão lụt khiến đánh bắt, nuôi trồng thuỷ sản bị thiệt hại, song trên toàn
11
Những thay đổi trong cơ cấu hang hoá xuất nhập khẩu Việt Nam sau khi gia nhập WTO
cục, bức tranh xuất khẩu thuỷ sản vẫn sáng sủa, vì đã tạo được chỗ đứng trên thị
trường của EU, Mỹ, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông... , có giá cao và năng lực
chế biến tăng. Xuất khẩu hạt điều tiếp tục khẳng định ngôi vị cao nhất, có mặt
trên 40 thị trường, trong đó lượng cung vào Hoa Kỳ, Trung Quốc, EU, Nhật Bản
và Trung Đông đều tăng, riêng thị trường Hoa Kỳ tăng tới 33%, giá cũng tăng
hơn khoảng 190 USD/tấn. Từ chỗ chúng ta chỉ chế biến từ hạt điều thô thu gom
nội địa, nay phải nhập khẩu thêm hạt điều thô để chế xuất cho đủ công suất các
dây chuyền chế biến và còn xuất khẩu cả công nghệ chế biến hạt điều, nên càng
làm cho hình ảnh mặt hàng này thêm ấn tượng. Thêm nữa, 100 nghìn tấn hạt tiêu
xuất khẩu (chiếm hơn 50% thị phần toàn cầu) đã duy trì vị trí số 1 của Việt Nam
về xuất khẩu mặt hàng này.
Năm 2007 là năm đầu tiên khu vực doanh nghiệp 100% vốn trong nước
có mức tăng trưởng hiếm thấy, tăng 23,1%, vì trước đây, mức tăng trưởng của
khối này thường thấp hơn mức tăng trưởng chung và khối doanh nghiệp có vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Tuy vậy các doanh nghiệp có vốn FDI vẫn
chiếm tỷ trọng 58,6% tổng kim ngạch xuất khẩu.
Nhóm các địa phương là các trung tâm kinh tế lớn vẫn tiếp tục dẫn đầu.
Bình Dương vượt qua 5 tỉ USD, tăng 27,5% so với năm 2006. Hà Nội vượt 4 tỉ
USD. Hải Phòng trong 11 tháng đã đạt 1 tỉ USD. Thành phố Hồ Chí Minh tiếp
tục giữ vị trí hàng đầu, với tổng kim ngạch (không kể dầu thô) trên 6 tỉ USD.
Cũng có địa phương chưa đạt mục tiêu, song do kim ngạch nhỏ nên không làm
ảnh hưởng đến mức tăng trưởng cao của cả nước.
đoạn 1993 - 1996 tốc độ tăng trưởng nhập khẩu đạt con số kỷ lục, có năm đạt tới
54,4% (năm 1993), sau đó giảm sút do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính tiền
13
Những thay đổi trong cơ cấu hang hoá xuất nhập khẩu Việt Nam sau khi gia nhập WTO
tệ châu Á, phục hồi ở mức cao năm 2000 (33,2%), từ năm 2001 đến nay tương
đổi ổn định ở mức trên 20%.
Nhập siêu của nước ta gia tăng khá nhanh, năm 2000 là 1.153,8 triệu
USD, năm 2003 là 5.106,5 triệu USD và năm 2004 là 5.483,8 triệu USD. Hai năm
2005 và 2006, con số đó tương ứng là 4.536,1 và 4.805,0 triệu USD. So với năm
2005, nhập khẩu năm 2006 tăng ở tất cả các thị trường. Mặc dù giá trị nhập siêu
có tăng nhẹ so với dự báo từ đầu năm, nhưng tỷ lệ nhập siêu so với kim ngạch
xuất khẩu chỉ là 12,1%, thấp hơn so với 15,6% của năm 2005.
Giai đoạn 2001-2006, nước ta đẩy mạnh hội nhập và công nghiệp hoá, hiện
đại hoá, trong ngắn hạn xuất khẩu chưa thể tăng kịp so với nhập khẩu. Tuy nhiên,
một điều đáng lưu ý là trong quý I năm 2007, tốc độ tăng của nhập khẩu cao gần
gấp đôi tốc độ tăng của xuất khẩu (33,6% so với 17,9%) và nhập siêu mới chỉ
trong một quý đó lên đến 1.315 triệu USD.
Về cơ cấu mặt hàng nhập khẩu
Xét theo cơ cấu nhóm hàng, cơ cấu nhập khẩu có sự biến động giữa hai
nhóm hàng tư liệu sản xuất và vật phẩm tiêu dùng. Nhập khẩu hàng tiêu dùng có
xu hướng giảm nhanh. Trước năm 1995, tỷ trọng nhóm hàng nhập khẩu tiêu dùng
dao động trong khoảng 13% - 15%. Từ năm 1996 đến nay, tỷ lệ này đã giảm
xuống đáng kể và ổn định ở mức 7% - 8%. Xét trong cả giai đoạn từ 2000-2006,
hàng tiêu dùng nhập khẩu chiếm tỷ trọng bình quân 7% - 11%. Điều này đã thể
hiện đúng định hướng nhập khẩu của nước ta là: giảm tỷ trọng hàng nhập khẩu
phục vụ tiêu dùng, tăng tỷ trọng hàng nhập khẩu là máy móc thiết bị, nguyên vật
liệu cho sản xuất, đồng thời cũng phản ánh xu hướng: nhập khẩu đã góp phần
phát triển sản xuất trong nước theo hướng thay thế nhập khẩu hàng tiêu dùng.
14