TIỂU LUẬN: Chuyên đề báo cáo thực tập khảo sát tổng hợp tại công ty vải sợi nghĩa hưng tp .việt trì - phú thọ pot - Pdf 11

TIỂU LUẬN:

Chuyên đề báo cáothực tập khảo sát
tổng hợp tại công ty vải sợi nghĩa
hưng tp .việt trì - phú thọ Phần I : Tổng quan về Công ty vải sợi Nghĩa Hưng.

I. Vài nét về quá trình hình thành và phát triển của công ty vải sợi Nghĩa
hưng.

1. Quá trình hình thành.
Công ty vải sợi Nghĩa Hưng là một công ty mang tính chất và đặc điểm của
công ty trách nhiệm hữu hạn - Giám đốc công ty là người làm thương nghiệp, buôn
bán các loại bông, vải, sợi của ngành dệt. Sau thấy phế liệu của các công ty dệt bỏ
đi lãng phí, ông đã có ý tưởng thành lập một cơ sở sản xuất để chế biến, tận dụng các
nguyên liệu đó
Ông đi thăm dò, xem xét, tìm hiểu thị trường nhiều nơi, được sợ giúp đỡ của
bạn bè và kinh nghiệm của bản thân. Ngày 03 / 12 / 1996 theo quyết định số: 2595
GP/ TLDN của UBND tỉnh Vĩnh Phú, Công ty vải sợi Nghĩa Hưng TNHH được
thành lập


Năm 2002

1

T
ổng doanh thu

54.275

66.586

144.040

2 Doanh thu bán sản phẩm 15.276

20.702

27.396

3 Sản lượng (tấn/năm) 1.180

1.800

2.160

4 Nộp ngân sách 4.126

7.270

p.tổng g.đốc
đ/h kinh doanh
p.tổng g.đốc
đ/h sản xuất

Phòng
Tổ
Phòng
bảo
vệ Phòng
kế
toán Phòng
Công
Nghệ
Thiết
Kế Phòng
kcs Phân xưởng
sản xuất vải
Phòng kế toán
trưởng

- Phòng kinh doanh: Tổ chức công việc giao dịch, tiêu thụ sản phẩm, thực
hiện Marketing, lập báo cáo tiêu thụ sản phẩm.
- Phòng quản lý kho: Quản lý việc luân chuyển, bảo quản nguyên liệu, vật
tư, thành phẩm trong kho, báo cáo tình hình dự trữ hàng hoá, vật tư trong kho đến
các phòng chức năng.
- Phòng bảo vệ: Thực hiện chức năng bảo vệ nội bộ về trật tự an ninh trong
và ngoài khu vực sản xuất. Phụ trách việc phòng cháy chữa cháy và dân quân tự vệ.
- Phòng kế toán: Tổ chức hạch toán kế toán theo chế độ Nhà nước quy định
và tổng hợp số liệu, cung cấp thông tin cho nhu cầu quản lý Hàng năm xây dựng
kế hoạch tài chính, tính toán, phân tích hiệu quả về kế toán quản trị.
- Phòng công nghệ, thiết kế: Chuẩn bị kỹ thuật và thiết kế sản phẩm mới,
giúp sản xuất sản phẩm theo kế hoạch. - Phòng KCS là phòng kiểm tra chất lượng sản phẩm: Xây dựng các tiêu
chuẩn về kỹ thuật cho sản phẩm, kiểm tra chất lượng nguyên liệu, vật tư đầu vào và
giám sát kiểm tra việc thực hiện công nghệ trên các dây chuyền sản xuất cho đến
khâu cuối cùng của sản phẩm nhập kho.
- Phòng tổ chức điều hành sản xuất: Xây dựng và điều hành kế hoạch sản
xuất, quản lý an toàn sản xuất và thiết bị máy móc cho toàn công ty.
- Các phân xưởng: Do quản đốc và các trưởng ca trực tiếp chỉ đạo công nhân
sản xuất các loại sản phẩm.

II. Chức năng, nhiệm vụ và đặc điểm cơ cấu tổ chức
sản xuất kinh doanh
1. Chức năng, nhiệm vụ và đặc điểm sản xuất.
- Hình thức doanh nghiệp: Công ty Trách nhiệm hữu hạn.
- Hình thức hoạt động: Sản xuất công nghiệp, sản xuất vải, sợi, ống giấy và
găng tay.
- Lĩnh vực kinh doanh: Kinh doanh bông, vải, sợi, hàng may mặc

ghép

Máy kéo sợi 3. Đặc điểm của thông tin
Nguồn thông tin mà công ty thu được đều đạt tiêu chuẩn về mặt chất lượng là
độ tin cậy, tính đầy đủ, tính thích hợp và dễ hiểu, tính được bảo vệ và tính kịp thời.
Bông,
Xơ PE
Bông,
Xơ PE
Cúi
chải
Cúi
ghép
Sợi
thành
ph
ẩm
Độ tin cậy thể hiện các mặt về độ xác thực và độ chính xác của các thông tin
mà công ty thu thập được từ môi trường kinh doanh hay trong nội bộ công ty.
Tính đầy đủ, thích hợp và đễ hiểu của thông tin thể hiện sự bao quát các vấn
đề đáp ứng yêu cầu của nhà quản lý và phải dùng những từ ngữ thông thường, sáng
sủa, có nghĩa đảm bảo cho người sử dụng thông tin hiểu được thông tin cần nói gì để
ra quyết định kinh doanh sao cho hợp lý.
Hệ thống thông tin còn phải đáp ứng tính kịp thời, đúng lúc, đúng thời điểm.

quản lý và kinh doanh thì được Công ty tuyển dụng thông qua quá trình sát hạch
tương đối chặt chẽ và tiêu chuẩn đề ra là tất cả các nhân viên này đều có trình độ từ
cao đẳng trở lên, có năng lực làm việc tốt.
6 . Đặc điểm về nguyên vật liệu
- Đối với sản phẩm vải: Nguyên liệu chính là sợi do công ty sản xuất, ngoài ra
cũng phải nhập nguyên liệu từ nước ngoài do tính đặc trưng của sản phẩm mà khách
hàng yêu cầu. Nguyên liệu đối với sản phẩm này thì còn tuỳ thuộc là dùng vào sản
xuất mặt hàng vải có từng thành phần cụ thể.(100%cotton, P/C : 65/35,
100%Polyester…)
Đặc điểm: Sợi được chia thành nhiều loại, có các chỉ số khác nhau: ví dụ sợi
PE-20/80, PC-20/1…Sợi có chỉ số càng cao thì càng nhỏ, săn và được chải kỹ, đối
với loại sợi này dùng để sản xuất vải nhưng mặt hàng vải mà yêu cầu phải đạt chất
lượng cao, và ngược lại.
- Đối với sản phẩm sợi: Nguyên liệu chính là bông, xơ (PE) loại nguyên liệu
chủ yếu phải nhập khẩu.
Đặc điểm: Bông là một loại sản phẩm được làm bằng quá trình kéo tơ từ tằm,
qua qúa trình sơ chế nó được đưa vào sản xuất ra sợi. Loại sợi này dùng để sản xuất
các loại vải có thành phần 100%cotton và P/C. Còn xơ(PE) bào chế từ dầu
mỏ…nguyên liêu này dùng để sản xuất vải có thành phần 100%Polyester, P/C…
- Đối với sản phẩm ống giấy: Nguyên vật liệu chính để sản xuất sản phẩm là
gỗ, tre, lứa. Đây là nguồn nguyên liệu có ngay trong thị trường nội địa gần cơ sở sản
xuất thuận tiện cho quá trình vận chuyển… Đặc điểm: Nguyên liệu này qua quá trình nghiền, xay nó được hình thành
dưới dạng bột để thuân lợi khi đưa vào sản xuất. Đây là loại nguyên liệu có quá trình
sơ chế đơn giản, do đó chi phí thấp.
- Đối với sản phẩm găng tay: Nguyên liệu chính của sản phẩm này cũng được
làm từ sợi, nhưng quá trình sản xuất sản phẩm này thì không quá phức tạp như sản
xuất vải bởi vì phần lớn nguyên liệu được tận dụng từ quá trình sản xuất vải. Đây là

60.727

73,04

19.684

47,96

8,18

1. Vốn bằng tiền 892 1,41 2.632 3,17 1.740 195,1 1,76
2. Đầu tư ngắn hạn 0 0 0 0 0
3.Phải thu 21.494 33,97 21.232 25,53 -262 -1,22 -8,43
4. Tồn kho 17.396 27,49 35.868 43,14 18.472 106,2 15,65
5. TSLĐ khác

1.261

1,99

995

1,2

-
266

-
21,1


Tổng cộng 63.280 100 83.145 100 19.865 31,39 0

Với số liệu bảng trên ta thấy tổng vốn sản xuất kinh doanh tăng 31,39% tương
ứng số tiền tăng 19.865 tr.đ. Tỷ lệ tăng của vốn cố định và đầu tư dài hạn tăng ít hơn
tỷ lệ tăng của vốn lưu động và đầu tư ngắn hạn. Nhưng xét về cơ cấu vốn của đơn vị
thì chưa thật hợp lý, vì trong doanh nghiệp sản xuất vốn cố định và đầu tư dài hạn
phải chiếm tỷ trọng cao, nhưng ở đây vốn lưu động lại chiếm tỷ trọng cao hơn vốn cố
định. Không những thế tỷ trọng vốn cố định năm 2002 so với năm 2001 còn giảm
8,18%.
Doanh nghiệp đã để tồn kho quá lớn, cần chú ý giảm tồn kho. Khách hàng
chiếm dụng vốn quá nhiều đơn vị nên sử dụng nhiều biện pháp để thu hồi bớt công
nợ.
Bảng 3: Tình hình sử dụng nguồn vốn tại đơn vị.
ĐVT: triệu đồng

Chỉ tiêu
N
ăm 2001

Năm 2002

So sánh 2002/2001

Số tiền TT Số tiền TT Số
tiền
TL TT
A. Nợ phả trả 54.358

-3.443

-12,9

-14,2

II. N
ợ dài hạn

0

0

0

0

0

0

0

III. Nợ khác 1.969

3,11

1.285

1,55


12,65

0

0

-3,98

II. L
ợi

nhu
ận

-
1.647

-
2,6

-
544

-
0,65

1.104

3.461

100 83.145

100 19.865

31,39 0Với số liệu bảng trên ta thấy tình hình thiếu vốn phải huy động vốn của công
ty là rất lớn. Nợ phải trả tăng lên rất nhiều, cụ thể là tăng 34,51% tương ứng số tiền
18.760 tr.đ, mà chủ yếu là tiền vay ngắn hạn tăng 89,09% tương ứng số tiền tăng
22.887 tr.đ. Trong khi đó nguồn vốn chủ sở hữu có tăng nhưng rất ít, cụ thể tăng
12,39% tương ứng số tiền tăng 1.105 tr.đ. Nhưng tỷ trọng lại giảm 2,04%.

phần II : thực trạng tình hình sản xuất kinh doanh tại công ty vải sợi nghĩa
hưng

I - Xây dựng, thực hiện chiến lược kinh doanh tại công ty
Vải Sợi NgHĩa hưng.

Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp là tập hợp những chủ trương,
phương châm về kinh doanh có tính lâu dài và quyết định tới sự thành đạt ở mọi

- Nhóm tiêu chuẩn định tính làm căn cứ để lựa chọn , là thế lực trên thị
trường, độ an toàn trong kinh doanh và sự thích ứng của chiến lược với thị trường.
* Phương pháp lựa chọn và quyết định chiến lược kinh doanh của công ty là
phương pháp cho điểm theo tiêu chuẩn. Nội dung của phương pháp gồm các bước
sau:
- Bước một, chọn ra một số các tiêu chuẩn đặc trưng cho mục tiêu chủ yếu của
công ty.
- Bước hai, cho điểm cho mỗi tiêu chuẩn theo năm mức điểm và theo nguyên
tắc mức điểm càng thấp phản ánh mức đáp ứng càng thấp và ngược lại.
- Bước ba, tiến hành đánh giá và cho điểm từng tiêu chuẩn, từng chiến lược
kinh doanh dự kiến.
- Bước bốn, tiến hành so sánh và lựa chọn. Về nguyên tắc, chiến lược được
chọn là chiến lược có tổng số điểm cao nhất.
Mặc dù trong điều kiện cạnh tranh gay gắt của thị trường nhưng Công ty vải
sợi Nghĩa Hưng vẫn đứng vững và ngày càng tăng thêm uy tín cho sản phẩm của
công ty, tăng khả năng cạnh tranh đối với các hãng cùng ngành trên thị trường trong
nước và nước ngoài. Bên cạnh đó thì công ty cũng gặp không ít những khó khăn như
vấn đề vốn, công ty đã phải huy động các nguồn vốn từ ngân hàng, kêu gọi nguồn đầu tư từ các đối tác làm ăn. Thị trường vải sợi và hàng may mặc hiện nay là thị
trường sôi động cạnh tranh quyết liệt cả về giá cả lẫn chất lượng vì vậy công ty tìm
cho mình nguồn cung hợp lý để đảm bảo cho quá trình sản xuất được liên tục và mở
rộng quy mô sản xuất. Và hiện nay công ty đã và đang tập trung vào việc nâng cao
chất lượng và giảm chi phí sản xuất kinh doanh để có cơ hội xâm nhập trường quốc
tế và khu vực.
II. Quản trị nguồn nhân lực
Nhân lực là một trong những yếu tố cơ bản và là nhân tố đóng vai trò sáng tạo
trong quá trình sản xuất, kinh doanh của công ty. Lao động luôn được coi là nhân tố
có ý nghĩa quyết định đối với mọi hoạt động của doanh nghiệp, đối vơi việc sáng tạo

xưởng sản xuất sợi.Trong mỗi phân xưởng lại phân thành từng nhóm, mỗi nhóm đảm
nhận một nhiệm vụ riêng. Đặc điểm của lao động sản xuất là người trực tiếp tạo ra
sản phẩm.
- Đối với nhân viên quản lý và kinh doanh, do công ty có nhiều chi nhánh nên
không có phòng marketing riêng mà phòng quản lý và kinh doanh sẽ kiêm luôn cả
vấn đề marketing. Đặc điểm của những lao động này là vừa làm công tác quản lý vừa
làm công tác tiêu thụ và vừa làm công tác tìm, cung cấp nguyên vật liệu đầu vào…
Thù lao lao động và công tác đánh giá đề bạt.
- Đối với lao động sản xuất thì công ty đã áp dụng hình thức trả lương theo
sản phẩm cá nhân trực tiếp. Theo phương pháp này: số tiền người công nhân được
lĩnh bằng đơn giá trên một đơn vị sản phẩm x số lượng sản phẩm thực tế mà công
nhân đó làm ra. Nếu công nhân nào hoàn thành vượt mức số sản phẩm quy định của
bộ phận quản lý sản xuất đề ra thì tuỳ theo từng mức mà được thưởng tương ứng và
những công nhân có những thành tích cao sẽ được các nhà quản trị chú ý, cân nhắc
và đề bạt. Công ty có biện pháp thưởng phạt công minh.
- Đối với nhân viên quản lý, kinh doanh và nhân viên kỹ thuật thì công ty đã
áp dụng hình thức trả lương theo thời gian và lương cấp bậc. Tiền thưởng cho những
người này tuỳ thuộc vào mức độ hoàn thành công việc của mỗi người và khả năng
làm việc của nhân viên. Ví dụ như với nhân viên ở bộ phận tiêu thụ nếu như họ ký
được nhiều hợp đồng bán hàng họ sẽ được hưởng hoa hồng, với phương pháp này công ty sẽ thúc đẩy được quá trình tiêu thụ sản phẩm của mình một cách nhanh
chóng có hiệu quả cao.
Bên cạnh công tác quản trị lao động thì quản trị hành chính cũng là một khâu
quan trọng trong công tác quản trị doanh nghiệp vì vậy mà Công ty vải sợi Nghĩa
Hưng đã tạo cho mình một bộ máy hành chính hoạt động tương đối tốt. Với cơ cấu
bộ máy hành chính đã được nêu ở phần trước đã giúp Công ty quản lý tốt trong quá
trình sản xuất và kinh doanh đạt hiệu quả cao. Bởi vì Công ty vải sợi Nghĩa Hưng chỉ
là một Công ty trách nhiệm hữu hạn nên chưa có các tổ chức Đoàn, Đảng thiết thực

ngừng ra quyết định về nhãn hiệu, sản phẩm, giá, phân phối và thông tin mà không
làm cho việc kinh doanh gặp phải rủi ro.
2. Các chính sách.
* Đối với sản phẩm công ty phân tích chu kỳ sống của sản phẩm thông qua
bốn giai đoạn: giới thiệu, phát triển, bão hoà và suy thoái. Ví dụ công ty đưa ra chu
kỳ sống của sản phẩm về mốt:
- Giai đoạn phân lập, một số người sử dụng một số thứ mới lạ làm cho mình
moden nhất trước mọi người.
- Giai đoạn ganh đua, những người khác tham gia cuộc ganh đua.
- Giai đoạn phổ biến, rất nhiều người sử dụng mốt.
- Giai đoạn thoái trào, người tiêu dùng chuyển sự quan tâm sang mốt khác.
Nếu sản phẩm cũ đã ở trong giai thoái trào hoặc tìm được thị trường mới thì
công ty lại đưa ra ngay sản phẩm mới kịp thời để giữ khách hàng cũ và thu hút
những khách hàng mới. Các sản phẩm mới mà công ty tung ra thị trường trong và
ngoài nước đã và đang được thị trường chấp nhận đó là một thành công lớn trong
chiến lược kinh doanh của Công ty vải sợi Nghĩa Hưng.
- Công ty tham gia lần đầu trên thị trường nước ngoài sản phẩm đã và đang
được thị trường chấp nhận, như công ty đã xuất khẩu vải sang Campuchia, Thái Lan,
Lào…
- Tạo sản phẩm mới có chất lượng cao với mẫu mã đẹp, hợp thị hiếu và tiêu
chuẩn của người tiêu dùng để thay thế sản phẩm hiện tại. - Sản phẩm mới có chất lượng tương tự sản phẩm hiện tại nhưng giá thành
thấp hơn do chi phí thấp hoặc đó là một chiến lược kinh doanh để chiếm lĩnh thị
phần trên thị trường của công ty.
* Thương hiệu, bao bì và đóng gói sản phẩm:
Thương hiệu sản phẩm là vấn đề không thể thiếu được của một doanh nghiệp
vì vậy mà Công ty vải sợi Nghĩa Hưng cũng đã tạo cho mình một thương hiệu để
thuận tiện cho người bán xử lý đơn hàng và truy tìm vấn đề, cùng với bản quyền bảo

* Chiến dịch quảng cáo và khuyếch trương sản phẩm:
Công ty đã đưa thông tin đến với khách hàng bằng phương pháp sau:
- Quảng cáo trực tiếp và gián tiếp như gọi điện thoại, thư gởi, hội chợ triển
lãm hoặc bằng các phương pháp truyền bá khác…

- Phương pháp tiếp cận trực tiếp là các nhân viên quản lý kinh doanh và
marketing của công ty tiếp xúc trực diện với khách hàng lớn và những khách hàng
tiềm năng để giới thiệu về sản phẩm, hàng hoá của mình một cách chi tiết tạo sức
thuyết phục cao đối với những khách hàng này
- Quan hệ công chúng như diễn thuyết, hội thảo, báo cáo hàng năm…trong
các hội nghị, các buổi triển lãm
- Khuyến mại, khuyến khích khách hàng trong một thời gian ngắn để tạo niềm
tin và ấn tượng về sản phẩm của công ty trong tâm trí khách hàng.
IV. Quản trị vật tư
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty đều cần đến các tư liệu vật
chất khác nhau như vật liệu nhiên liệu, thiết bị máy móc Vật tư kỹ thuật là sản
phẩm của lao động dùng để sản xuất. Đó là nguyên, nhiên, vật liệu, điện lực, bán
thành phẩm, thiết bị máy móc,dụng cụ phụ tùng Toàn bộ vật tư kỹ thuật được chia
làm hai nhóm:
- Nhóm vật tư dùng làm đối tượng lao động bao gồm nguyên liệu, vật liệu,
nhiên liệu, điện lực, bán thành phẩm, chi tiết bộ phận máy Đặc điểm của nhóm này
là nó sẽ tiêu dùng hoàn toàn trong một lần sản xuất.
- Nhóm vật tư dùng làm tư liệu lao động gồm có thiết bị động lực, thiết bị
chuyền dẫn năng lượng, thiết bị sản xuất, thiết bị vận chuyển và chứa đựng đối tượng lao động, hệ thống thiết bị máy móc điều khiển, công cụ khí cụ và dụng cụ dùng vào
sản xuất, các loại đồ dùng trong nhà xưởng, các loại phụ tùng máy móc thiết bị.
Phân tích tình hình quản trị vật tư ở công ty là khâu quan trọng trong công tác
hậu cần vật tư. Qua phân tích có thể đánh giá được mức độ hợp lý của việc tổ chức

Q
C
H 
(H- Chỉ tiêu hao phí vật tư )

Nhưng bản thân chỉ tiêu hao phí vật tư thực tế cho một đơn vị sản phẩm cũng
chưa nói lên được mức độ hiệu quả của việc sử dụng vật tư ở một công ty sản xuất và
kinh doanh như công ty vải sợi Nghĩa Hưng. Để xác định được mức độ hiệu quả của
việc sử dụng loại vật tư cần phải so sánh chỉ tiêu hao phí thực tế cho một đơn vị sản
phẩm trong kỳ báo cáo với mức tiêu dùng cho một đơn vị sản phẩm đã được quy
định và với chỉ tiêu hao phí ở kỳ trước.
Ngoài ra công ty cần phải phân tích tình hình dự trữ vật tư là nhằm đảm bảo
cho quá trình sản xuất được tiến hành liên tục. Muốn có một lượng dự trữ vật tư hợp
lý phải xây dựng cho được mức dự trữ vật tư chính xác là so sánh mức dự trữ vật tư
với tồn kho thực tế, là phân tích dự trữ về khối lượng, về mức độ dự trữ và quá trình
biến đổi dự trữ qua các năm.
V. Quản trị sản xuất
Quản trị sản xuất là tổng hợp các hoạt động xây dựng hệ thống sản xuất và
quản trị các yếu tố đầu vào tạo thành sản phẩm đầu ra theo yêu cầu của khách hàng
nhằm thực hiện các mục tiêu: chất lượng, tốc độ, tính linh hoạt và hiệu quả.
Hệ thống sản xuất là cơ sở vật chất kỹ thuật, là cơ sở để tổ chức quá trình sản
xuất và tổ chức bộ máy quản trị doanh nghiệp. Hiện nay hệ thống sản xuất của Công
ty vải sợi Nghĩa Hưng bao gồm bộ phận sản xuất và bộ phận phục vụ sản xuất. Để
thiết kế và xây dựng hệ thống sản xuất thì công ty đã dựa vàô các yêu cầu cơ bản
sau:
- Thứ nhất, đảm bảo tính chuyên môn hoá cao.
- Thứ hai, đảm bảo tính linh hoạt cần thiết của sản xuất.
- Thứ ba, đảm bảo tính cân đối, nhịp nhàng cần thiết ngay từ khi thiết kế.
- Thứ tư, tạo điều kiện gắn trực tiếp hoạt động quản trị với hoạt động sản xuất.
Dựa vào đặc điểm sản phẩm, đặc điểm nguyên vật liệu, nguồn cung cấp nguyên vật

Đối với nền kinh tế đảm bảo và nâng cao chất lượng sản phẩm sẽ nâng cao
khả năng cạnh tranh của đất nước. Khả năng cạnh tranh của đất nước phụ thuộc vào khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp nước đó. Vấn đề mang tính cấp bách đối
với các doanh nghiệp nước ta hiện nay là nâng cao chất lượng sản phẩm để theo kịp
trình độ về chất lượng sản phẩm của các nước trong khu vực và trên thế giới. Trong
xu thế toàn cầu hoá về kinh tế, rào cản thuế quan giữa các nước, các khu vực ngày
càng giảm thì rào cản phi thuế quan được dựng lên để bảo vệ cho ngư
ời tiêu dùng.
Từ lâu trên thế giới đã hình thành hệ thống buôn bán tin cậy không có sự kiểm
tra của người thứ ba khi giao nhận hàng hoá nên đả giảm nhiều chi phí kinh doanh
tạo điều kiện thuận lợi giữa người mua và người bán. Cơ sở của hệ thống buôn bán
tin cậy là chứng thư chất lượng do một số tổ chức phi chính phủ được nhiều nước
công nhận cấp. Đó là chứng nhận về ISO 9000, ISO 14000, GMP, HACCP, ISM
Code. Đến nay trên thế giới đã có hơn 200.000 giấy chứng nhận phù hợp ISO 9000
được cấp cho hơn 100 nước (trong đó Việt Nam được cấp trên 30 giấy). Nhiều tổ
chức trên thế giới còn khuyến cáo trong vài năm tới bạn hàng thế giới sẽ chỉ mua
hàng của các doanh nghiệp Việt Nam được cấp chứng chỉ ISO 9000. Trong bối cảnh
này, thì việc hội nhập của các doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế còn là
cả một vấn đề to lớn. Đứng trước tình thế này thì Công ty vải sợi Nghĩa Hưng đã coi
trọng vấn đề chất lượng sản phẩm, hiện nay công ty đang áp dụng hệ thống chất
lựơng HACCP (hazard analysis-critical control point system). Mặc dù tuổi đời của
công ty còn ít nhưng với hệ thống chất lượng này thì tên tuổi của họ sẽ nhanh chóng
được các nhà kinh doanh và các các nhà sản xuất xem trọng và uy tín của công ty
ngày càng được lan rộng. Những gì mà Công ty đạt được ngày hôm nay là kết quả
của gần chục năm không ngừng đổi mới và nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến
mẫu mã sản phẩm phù hợp thị hiếu của khách hàng. Hiện nay công tác hội nhập, liên
doanh và xuất khẩu hàng hoá ra nước ngoài của công ty đang đựơc mở rộng và có
chiều hướng tương đối tốt. Vì vậy mà ban Giám đốc và ban quản lý công ty rất chú

321
,,
- chỉ giá cả sản phẩm loaị 1 ,2 và 3 thực tế bán được
Tt
PL
KH
PL
HH ,
chỉ hệ số phân loại sản phẩm theo kế hoạch và thực tế
Thứ nhất, hệ số phân loại sản phẩm theo kế hoạch, xác định cho từng thời kỳ
kế hoạch như sau:




KHKH
i
KH
i
KH
i
KH
PL
pq
pq
H
1

Thứ hai ,hệ phân loại sản phẩm thực tế đạt được trong thời kỳ kế hoạch:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status