LUẬN VĂN: Các giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường EU doc - Pdf 11


LUẬN VĂN:

Các giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt
động xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam
sang thị trường EU

Lời nói đầu Ngày nay trước xu hướng vận động của nền kinh tế thế giới là toàn cầu hoá
và tự do hoá thương mại.Thì các nước đang phát triển trong quá trình thực hiện
Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước, luôn gặp phải những khó khăn lớn về
vốn, công nghệ, kỹ thuật Và Việt Nam cũng là một trong những nước đang phát
triển đó. Do đó để thực hiện mục tiêu của mình, Đảng và nhà nước ta đã khẳng
định “Chiến lược phát triển kinh tế Việt Nam trong giai đoạn này là hướng về xuất

EU.
 Đưa ra các giải pháp đối với doanh nghiệp và kiến nghị đối với nhà nước.
 Phương pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu
phân tích, so sánh
Kết cấu đề tài gồm 3 chương:
- Chương I: Lí luận chung về hoạt động xuất khẩu.
- Chương II: Thực trạng hoạt động xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang
thị trường EU.
- Chương III: Các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam
sang thị trường EU.Chương I
Những vấn đề cơ bản và vai trò của xuất khẩu
trong nền kinh tế Việt Nam

I/ khái quát chung về hoạt động xuất khẩu
1. Khái niệm về hoạt động xuất khẩu.
Xuất khẩu là một bộ phận cơ bản của hoạt động ngoại thương, trong đó
hàng hoá và dịch vụ được bán, cung cấp cho nước ngoài nhằm thu ngoại tệ.
Vì vậy khi nghiên cứu dưới góc độ các hình thức kinh doanh quốc tế thì
xuất khẩu là hình thức cơ bản đầu tiên mà các doanh nghiệp áp dụng khi bước vào
lĩnh vực kinh doanh quốc tế.
Mọi công ty luôn hướng tới xuất khẩu những sản phẩm và dịch vụ của
mình ra nước ngoài. Do vậy mà xuất khẩu được xem như chiến lược kinh doanh
quốc tế quan trọng của các công ty. Xuất khẩu còn tồn tại ngay cả khi công ty đã
thực hiện được các hình thức cao hơn trong kinh doanh.
Có nhiều nguyên nhân khuyến khích các công ty thực hiện xuất khẩu trong
đó có thể là:
- Sử dụng khả năng vượt trội (hoặc những lợi thế) của công ty.

c) Xuất khẩu uỷ thác
Đây là hình thức mà các doanh nghiệp kinh doanh hàng xuất khẩu đứng ra
đóng vai trò trung gian xuất khẩu làm thay cho các đơn vị sản xuất những thủ tục
cần thiết để xuất khẩu hàng và hưởng phần trăm theo giá trị hàng xuất khẩu đã
được thoả thuận.
Ưu điểm của hình thức này là mức độ rủi ro thấp, ít trách nhiệm, người
đứng ra xuất khẩu không phải là người chịu trách nhiệm cuối cùng. Đặc biệt là
không cần bỏ vốn ra để mua hàng, nhận tiền nhanh, ít thủ tục và tương đối tin cậy.
d) Buôn bán đối lưu.
Buôn bán đối lưu là phương thức giao dịch trong đó xuất khẩu kết hợp chặt
chẽ với nhập khẩu, người bán đồng thời là người mua, lượng hàng trao đổi có giá
trị tương đương với giá trị của lô hàng đã xuất. Các loại hình buôn bán đối lưu bao gồm: hàng đổi hàng, trao đổi bù trừ,
mua đối lưu, chuyển giao nghĩa vụ, mua lại sản phẩm.
e) Xuất khẩu theo nghị định thư.
Đây là hình thức xuất khẩu hàng hoá được ký kết theo nghị định thư giữa
hai chính phủ.
Ưu điểm của hình thức này là tiết kiệm được các khoản chi phí trong việc
nghiên cứu thị trường, tìm kiếm bạn hàng, đảm bảo được thanh toán.
f) Xuất khẩu tại chỗ.
Đây là hình thức mà hàng và dịch vụ có thể chưa vượt ra ngoài biên giới
quốc gia nhưng ý nghĩa kinh tế của nó cũng giống như hoạt động xuất khẩu. Đó là
việc cung cấp hàng hoá và dịch vụ cho các đoàn ngoại giao, khách du lịch quốc tế
v.v
Hoạt động này có thể đạt hiệu quả kinh tế cao do giảm bớt chi phí bao bì,
đóng gói, bảo quản chi phí vận tải, thời gian thu hồi vốn nhanh.
g) Gia công quốc tế.
Gia công quốc tế là hình thức kinh doanh trong đó một bên nhập nguồn

Đây là yếu tố then chốt trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá.
Đồng thời sự phát triển của các ngành công nghiệp chế tạo và chế biến hàng xuất
khẩu được áp dụng kỹ thuật tiên tiến, sản xuất ra hàng hoá có tính cạnh tranh cao
trên thị trường thế giới, giúp ta có nguồn lực công nghiệp mới, tăng sản xuất cả
về số lượng và chất lượng sản phẩm, tăng năng suất lao động, tiết kiệm chi phí lao
động xã hội. Bên cạnh đó tạo khả năng mở rộng thị trường, tạo điều kiện mở rộng
khả năng cung cấp đầu vào, góp phần cho sản xuất, phát triển kinh tế ổn định.
* Xuất khẩu có tác động tích cực giải quyết công ăn việc làm, cải thiện đời
sống nhân dân.
Sự phát triển của các ngành công nghiệp hướng vào xuất khẩu sẽ thu hút rất
nhiều lao động vào làm việc, với mức sống ổn định. Ngoài ra xuất khẩu còn tạo ra
nguồn vốn để nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng thiết yếu phục vụ đời sống và đáp
ứng đầy đủ nhu cầu tiêu dùng của con người.
* Xuất khẩu là nền tảng trong việc thúc đẩy quan hệ kinh tế đối ngoại.
Xuất khẩu có vai trò tăng cường sự hợp tác quốc tế giữa các nước, nâng cao
vai trò của nhà nước ta trên trường quốc tế. Nhờ có những hàng xuất khẩu mà đã
có nhiều nước đã, đang và sẽ thiết lập quan hệ buôn bán và đầu tư với nước ta. * Xuất khẩu góp phần quan trọng vào việc giải quyết các vấn đề sử dụng
có hiệu quả hơn các nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Việc đưa các nguồn tài nguyên thiên nhiên tham gia vào sự phân công lao
động quốc tế, thông qua việc phát triển các ngành chế biến, xuất khẩu đã góp phần
nâng cao giá trị hàng hoá, giảm bớt những thiên tai do điều kiện thiên nhiên ngày
càng trở nên bất lợi cho hàng hoá và nguyên liệu cho xuất khẩu.

II/ Nội dung chính của hoạt động xuất khẩu
1.Nghiên cứu tiếp cận thị trường.
* Nhận biết hàng hoá.
Hàng hoá mua bán phải được tìm hiểu kỹ về khía cạnh thương phẩm để

thực hiện trước đó, đồng thời nó quyết định đến tính khả thi của các kế hoạch kinh
doanh của doanh nghiệp.
5.Thực hiện hợp đồng.
- Mở và kiểm tra thư tín dụng.
- Xin cấp giấy phép xuất khẩu.
- Chuẩn bị hàng hoá xuất khẩu.
- Kiểm định hàng hoá.
- Thuê phương tiện vận chuyển, mua bảo hiểm.
- Làm thủ tục hải quan
- Giao hàng lên tàu
- Thanh toán, giải quyết tranh chấp Chương II
Thực trạng của hoạt động xuất khẩu
hàng dệt may Việt Nam sang thị trường EU

I. Khái quát chung về thị trường EU
1. Vài nét chung về liên minh Châu Âu và quan hệ Việt Nam-EU
a) Vài nét chung:
Liên minh Châu Âu đã có lịch sử gần 49 năm hình thành và phát triển. Tổ
chức tiền thân là: Cộng đồng than và sắt thép Châu Âu, gọi tắt là CECA
(18/04/1951). Năm 1992 các nguyên thủ của 12 nước thành viên EC đã ký hiệp
ước Masstrich (Hà Lan) để thống nhất chính trị, kế toán và tiền tệ. Ngày 1/1/1994
cộng đồng Châu Âu (EC) được đổi tên thành Liên minh Châu Âu gọi tắt là EU, trở
thành một liên minh thống nhất đầu tiên trên thế giới về kế toán, tiền tệ, chính trị,
an ninh và quốc phòng, xoá bỏ trên thực tế đường biên giới quốc gia giữa các
nước thành viên thực hiện thống nhất các chính sách xã hội.
Liên minh Châu Âu là một trung tâm kế toán hùng mạnh, có vai trò rất lớn
trong nền kế toán thế giới. Kinh tế EU không chỉ lớn về quy mô (năm 1999, GDP

mấy năm gần đây mới khá nhộn nhịp mà điểm đột phá là: Hiệp định hàng dệt may
1992-1997.
Đối với Việt Nam việc tăng cường hợp tác, quan hệ với EU là bước quan
trọng trong việc thực hiện chủ trương đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối
ngoại, góp phần ổn định và xây dựng đất nước ũng như trong khu vực, tạo một vị
thế quan trọng hơn, một thị trường tiềm năng lớn cho Việt Nam.
Sự kiện ngày 17/7/1995 ký “Hiệp định hợp tác giữa Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam và Cộng đồng Châu Âu” đã đánh dấu quan hệ thương mại giữa
Việt Nam và EU sang một giai đoạn phát triển mới. Hiệp định này sẽ thúc đẩy hơn
nữa sự phát triển kinh tế của Việt Nam như gia tăng viện trợ tài chính EU cho Việt
Nam, giúp Việt Nam thực hiện có hiệu quả hơn tiến trình công nghiệp hoá- hiện
đại hoá đất nước. Mặc dù EU không giành cho Việt Nam bất cứ một sự giảm thuế
nào nhưng EU đã tuyên bố sẽ thúc đẩy để Việt Nam trở thành thành viên của Tổ
chức thương mại thế giới .
Bảng 1: Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam & EU Đơn vị: triệu đồng
XK NK XK

NK

1995 1996 1997 1998 1995 1996 1997 1998 1999
1. Tổng
kim ngạch
XK của VN
2. Trong đó

9 990,5
12,4
25,19185 1608,
3
17,58,1
27,611143
,6 1102,
0
9,9
48,711159

10,4211532

2493,3 21,64

(Nguồn: Tổng cục Thống kê)
2. Đặc điểm thị trường EU
a) Thị trường EU
EU là một thị trường rộng lớn gồm 15 quốc gia với 376 triệu người tiêu
dùng. Thị trường EU thống nhất cho phép lưu thông tự do người; hàng hoá , dịch
vụ và vốn giữa các thành viên, thị trường này còn mở rộng sang các nước thuộc
“Hiệp hội mậu dịch tự do Châu Âu” (EFTA) tạo thành một thị trường rộng lớn
trên 380 triệu người tiêu dùng.
b) Tập quán thị hiếu người tiêu dùng Đây là một thị trường khá khó tính và có chọn lọc, đặc biệt là đối với hàng
dệt may. Ngành dệt may của Châu Âu đang có xu hướng chuyển dần sang các
nước khác có giá nhân công rẻ (các nước đang phát triển) nên thị trường này có xu

ngạch áp dụng trong thương mại nội khối; xoá bỏ tất cả các biện pháp tương tự
hạn chế về số lượng, các rào cản về thuế giữa các nước thành viên.
Tự do đi lại, cư trú trên toàn lãnh thổ liên minh như tự do đi lại về địa lý, di
chuyển về nghề nghiệp , nhất thể hoá về xã hội.
 Lưu chuyển tự do các dịch vụ như: tự do cung cấp các dịch vụ, tự
do chuyển tiền bằng điện tín công nhận lẫn nhau về các văn bằng.
 Lưu chuyển tự do vốn: được áp dụng chính sách tháo dỡ tất cả các
hạn chế về ngoại hối; thống nhất luật pháp và nguyên tắc quản lý thị trường
vốn của các nước thành viên, thanh toán tự do.
e) Chính sách ngoại thương
 Trong sự phát triển kinh tế của EU, ngoại thương đã đóng một vai
trò hết sức quan trọng. Nó đã đem lại sự tăng trưởng kinh tế và tạo ra việc làm
trong các ngành sản xuất, nghiên cứu, bảo hiểm, ngân hàng Do vậy chính
sách này có nhiệm vụ chỉ đạo các hoạt động ngoại thương đi đúng hướng để
phục vụ mục tiêu chiến lược kinh tế của liên minh.
 Chính sách ngoại thương của EU được xây dựng trên các nguyên tắc
sau:
Không phân biệt đối sử, minh bạch, có đi có lại và cạnh tranh công bằng
Các biện pháp được áp dụng phổ biến trong chính sách này là thuế quan và
hạn chế về số lượng hàng rào kỹ thuật, chống bán phá giá và trợ cấp xuất khẩu.
Từ 1951 đến nay EU có những cụm chính sách phát triển ngoại thương chủ
yếu:
Chính sách khuyến khích xuất khẩu, chính sách thay thế nhập khẩu, chính
sách tự do hoá thương mại và chính sách hạn chế xuất khẩu tự nguyện. Việc ban
hành và thực hiện các chính sách này có liên quan chặt chẽ đến tình hình phát
triển kinh tế, tiến trình nhất thể hoá Châu Âu và khả năng cạnh tranh trong từng
thời kỳ của các sản phẩm của Liên minh trên thị trường thế giới. Để đảm bảo cạnh tranh công bằng trong thương mại, EU đã thực hiện các
Hai năm gần đây tốc độ tăng trưởng hàng dệt may xuất khẩu đã chững lại.
Điều này đòi hỏi cần phải có sự phân tích và điều chỉnh hợp lý trong thời gian tới
để hàng dệt may đứng vững trong điều kiện cạnh tranh ngày càng khốc liệt.
Tình hình xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam trong những năm qua
được thể hiện qua bảng sau: Bảng 2: Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam
Đơn vị: triệu USD
Năm Kim ngạch xuất khẩu
dệt may
Tổng kim ngạch xuất
khẩu
Tỷ trọng/ Tổng số
1992
1993
1994
1995
1996
1997
1998
1999
Quý1/2000
2000- (dự tính)
211
350
550
750

Trong 7 tháng đầu năm nay đạt kim ngạch xuất khẩu là 965 triệu USD

Các thị trường xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam
Thị trường là vấn đề cốt lõi, có ý nghĩa quyết định đến sự tồn tại và phát
triển của từng doanh nghiệp. Vì vậy việc tìm hiểu và nắm bắt nhu cầu của thị
trường là điều cần thiết, để từ đó có thể sản xuất ra những gì mà thị trường đòi hỏi,
với điều này đã tạo nên vai trò quyết định của thị trường đối với việc sản xuất kinh
doanh của ngành dệt may.
Mặc dù hình thức xuất khẩu chủ yếu của dệt may Việt Nam là gia công xuất
khẩu thông qua nước thứ ba nhưng vẫn có thể nói hàng dệt may Việt Nam đã phần
nào thâm nhập được vào các thị trường lớn như EU, Mỹ, ASEAN, Nhật Bản Điều này càng chứng tỏ rằng hàng dệt may Việt Nam đã dần có vị thế, uy tín trên
thế giới.
Thật vậy khi ta xem xét cụ thể về từng thị trường mà ngành dệt may Việt
Nam đã thâm nhập ta thấy kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này luôn được tăng dần
theo các năm, điều đó có nghĩa là hàng dệt may đã ngày càng để lại ấn tượng tốt,
phù hợp với người tiêu dùng hơn.
 ở thị trường Nhật Bản:
Đây là thị trường nhập khẩu may mặc lớn thứ 3 trên thế giới, lại không hạn
chế bằng hạn ngạch, dân số đông và mức thu nhập bình quân là 27000
USD/người/năm thì nhu cầu về may mặc là không nhỏ. Hàng năm Nhật Bản nhập
khẩu hàng may mặc khoảng từ 7 đến 8 tỷ USD, trong đó hàng dệt may Việt Nam
xuất khẩu sang thị trường này năm 1994 khoảng 130 triệu USD, năm 1995 lần đầu
tiên Việt Nam lọt vào danh sách 10 nhà xuất khẩu hàng may mặc lớn nhất vào
Nhật Bản. Năm 1996 vươn lên vị trí số 8 với doanh số là 500 triệu USD, bằng
80% của mảng thị trường phi hạn ngạch ở Việt Nam. Năm 1998 kim ngạch xuất
khẩu mặt hàng này là 0,467 tỷ USD và 6 tháng đầu năm 1999 doanh số là
172,4257 triệu USD. Mặc dù kim ngạch xuất khẩu rất khả quan song do Nhật Bản

5,326

20,602
5,053

21,347
7,8

28,6
Cộng
2,56 16,78 23,6 25,928 26,4 36,4
(Nguồn: Bộ thương mại)
 Thị trường các nước trong khu vực
Hàng năm hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu một lượng lớn sản phẩm sang
các nước tong khu vực như Hồng Kông, Đài Loan, Singapore, Hàn Quốc. Tuy
nhiên các nước này không phải là thị trường nhập khẩu chính mà là các nước nhập
khẩu để tái xuất khẩu sang nước thứ 3.
Bảng 4: Các nước trong khu vực nhập khẩu hàng dệt may Việt Nam
Đơn vị: Triệu USD
Thị trường 1997 1998 9Th/1999
Đài Loan
Hàn Quốc
Singapore
Hồng Kông
198
76
56
27
200
40

a.Hiệp định buôn bán hàng dệt may đã được ký
Hiệp định buôn bán hàng dệt may được ký tắt vào ngày 15/12/1992 có hiệu
lực từ 1/1/1993 và được điều chỉnh bổ sung bằng thư từ trao đổi ký tắt ngày
1/8/1995 giữa chính phủ Việt Nam và Cộng đồng kinh tế Châu Âu, quy định
những điều khoản về xuất khẩu hàng dệt may sản xuất tại Việt Nam sang EU.
Tiếp đến, ngày 24/7/1996 tại Bruxen Việt Nam và EU đã chính thức ký Hiệp định
về buôn bán hàng dệt, may mặc. Theo Hiệp định này Việt Nam được tự do chuyển
đổi Quota giữa các mặt hàng một cách rộng rãi đồng thời EU cũng dành cho phía
Việt Nam quy chế tối huệ quốc (MFN) và chế độ ưu đãi phổ cập (GPS). Khi Hiệp
định hàng dệt may thời kỳ 1992-1997 hết hạn thì Hiệp định buôn bán dệt may Việt
Nam-EU giai đoạn 1998-2000 được ký kết ngày 17/11/1997 cho phép nâng hạn
ngạch dệt may từ Việt Nam sang EU tăng lên 40% so với giai đoạn 5 năm (1993-
1997) với mức tăng trưởng 3-6%/năm. Mới đây đại diện chính phủ Việt Nam và
Liên hiệp Châu Âu đã ký Hiệp định về buôn bán hàng dệt may cho 3 năm 2000-
2002 trong đó Việt Nam và EU cam kết mở rộng cửa thị trường cho hàng dệt may
xuất khẩu của hai bên. Theo Hiệp định này EU đồng ý tăng khoảng 30% hạn
ngạch cho hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu vào thị trường này. Hiệp định này có
hiệu lực từ ngày 15/6/2000. b.Hạn ngạch mã hàng dệt may của EU cấp cho Việt Nam
Theo thông lệ mức gia tăng hạn ngạch hàng dệt, may xuất khẩu vào EU
năm sau so với năm trước chỉ được tối đa là 5%. Tuy nhiên trong Hiệp định mới
ký kết, hạn ngạch xuất khẩu vào EU tong năm 2000 của nhiều mặt hàng tăng gần
gấp đôi so với mức hạn ngạch của năm 1999. Vì thế các doanh nghiệp đánh giá
cao thành công của nhóm đàm phán do Bộ thương mại dẫn đầu đã thuyết phục
được EU mở rộng hơn cánh cửa thị trường khối này cho hàng dệt may Việt Nam.
Các doanh nghiệp tin rằng xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam vào EU trong những
năm tới sẽ tăng nhanh hơn.


thoi
800 tấn 833 tấn 911 tấn
13 Cat20: Khăn trải
giường
859 tấn 234 tấn 241 tấn
14 Cat21: áo jacket 227 tấn 18 triệu chiếc 18,9 triệu chiếc
15 Cat26: Váy áo
liền
15,766 triệu chiếc 1,15triệu bộ 1,185 triệu bộ
16 Cat28: Hàng dệt
km
796.000 bộ 3,551triệu chiếc 3,658 triệu chiếc 17 Cat29: Bộ quần
áo dệt kim
265.000 bộ 350 000 bộ 361.000 bộ
18 Cat31: áo lót nhỏ 2,864 triệu chiếc 4 triệu chiếc 4,12 triệuc chiếc
19 Cat35: Vải xơ
tổng hợp sợi dài
551 tấn 789 tấn 807 tấn
20 Cat41: Sợi tổng
hợp
677 tấn 707 tấn 739 tấn
21 Cat68: Quần áo
trẻ em
321 tấn 425 tấn 440 tấn
22 Cat73: Quần áo
khác
590.000 chiếc 1 triệu chiếc 1,05 triệu chiếc

Mặc dù chất lượng, giá cả, mẫu mã sản phẩm xuất khẩu sang EU được đánh
giá khá tốt, nhưng không vì thế mà hàng dệt may Việt Nam có thể thống lĩnh được
thị trường này, cụ thể là chất lượng của sản phẩm vẫn chưa đạt được đúng như
tiêu chuẩn của khách hàng đòi hỏi và chưa ổn định. Do đó gần như các sản phẩm
này không phải là hàng tiêu dùng đối với khách hàng có thu nhập cao. M mã hầu
như chưa được đổi mới một cách kịp thời với thị hiếu của người tiêu dùng. Vì thế
khả năng đúng mốt, hợp thời trang của dệt may gần như không đáp ứng được. Bên
cạnh đó giá xuất khẩu của các mặt hàng năm 1999 bị giảm thấp 15-20% so với
năm 1998 nên hiệu quả kinh tế mang lại lợi nhuận không nhiều. Điều này ảnh
hưởng rất lớn đến khả năng hoạt động sản xuất kinh doanh của các cong ty trong
việc nâng cao uy tín mở rộng thâm nhập thị trường. Mặt khác hình thức xuất khẩu
theo hạn ngạch cũng tạo ra cho doanh nghiệp luôn bị gò bó thụ động trong việc
thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của mình. Tuy nhiênvì thị trường EU tiêu dùng theo
tầng lớp nên sản phẩm dệt may Việt Nam thường thích hợp, thoả mãn với nhu cầu
ở tầng lớp trung lưu nghĩa là đã có sự chấp nhận mặt hàng này hơn là chất lượng
cũng như giá cả vừa với mức thu nhập của họ. Chính vì vậy mà số hạn ngạch đã
được giảm từ 151 vào năm 1993 đến năm 2000 số hàng quản lý bằng hạn ngạch
chỉ còn 28 đã cho thấy người tiêu dùng EU đang ngày càng chấp nhận tiêu dùng
hàng dệt may nhiều hơn.
Với thị trường EU luôn đòi hỏi chất lượng cao, mẫu mã được đổi mới liên
tục, số lượng hàng dệt may xuất khẩu sang EU còn quá ít. Nhưng phải thừa nhận
rằng Hiệp định buôn bán hàng dệt may giữa Việt Nam và EU đã tạo những bước
tiến mới trong xuất khẩu hàng dệt may nước ta. Vì vậy điều quan trọng hiện nay
để thâm nhập vào thị trường này và tăng cường xuất khẩu là lên tục nâng cao chất
lượng và đổi mới sản phẩm về mẫu mã, kiểu dáng mầu sắc nhằm cạnh tranh hiệu
quả hơn với các đối thủ khác trên thị trường này. Hiện nay năm 2000, sẽ có 27 mặt hàng có hạn ngạch được giảm chi phí, đặc
biệt là mặt hàng áo jacket được giảm 40% (từ 0,25 USD /1 chiếc xuống còn 0,15


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status