Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
Khoa Tài chính Ngân hàng
CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
• Vibank: Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam
• L/C: Thư tín dụng
• TDCT: Tín dụng chứng từ
• TMCP: Thương mại cổ phần
• NHNN: Ngân hàng Nhà Nước
• Vietcombank: Ngân hàng Ngoại Thương
• UCP: Quy tắc thống nhất và thực hành về tín dụng chứng từ
• SWIFT: Tổ chức viễn thông tài chính quốc tế toàn cầu
Nguyễn Thị Quỳnh Hương
1
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
Khoa Tài chính Ngân hàng
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay trong xu thế quốc tế hoá toàn cầu của nhân loại, hoạt động giao
lưu kinh tế quốc tế ngày càng gia tăng mạnh mẽ và trở thành một nhân tố quan
trọng đối với mỗi quốc gia trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới. Là một
nước nằm trong khu vực Đông Nam á - một khu vực có nền kinh tế sôi động thu
hút được nhiều sự quan tâm và đầu tư nước ngoài, Việt Nam đã không ngừng
đổi mới mình để có thể tham gia vào tiến trình hợp tác quốc tế. Trong thời gian
qua, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam đã được Nhà Nước khuyến
khích hoạt động bằng cách đưa ra các chính sách đúng đắn, ưu đãi để hỗ trợ cho
hoạt động của họ. Và thực tế trong thời gian qua, các doanh nghiệp này đã và
đang hoạt động một cách tích cực, có hiệu quả. Điều này đã đóng góp rất lớn và
việc thúc đẩy, phát triển lĩnh vực thương mại quốc tế của Việt Nam. Trước tình
hình đó, các ngân hàng thương mại Việt Nam cũng đang cố gắng hoàn thiện và
nâng cao các nghiệp vụ thanh toán quốc tế để hỗ trợ và đáp ứng nhu cầu xuất
nhập khẩu của khách hàng. Vibank tuy mới được thành lập từ 18/09/1996 nhưng
đã có khá nhiều kinh nghiệm trong nghiệp vụ thanh toán quốc tế. Phương thức
LÝ LUẬN CHUNG VỀ THANH TOÁN QUỐC TẾ THEO
PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ CỦA NHTM
1.1 Khái quát chung về thanh toán quốc tế
1.1.1 Khái niệm thanh toán quốc tế
Trước xu thế hội nhập kinh tế thế giới, các quốc gia đều ra sức đẩy mạnh
hoạt động thương mại quốc tế của nước mình, dẫn đến nhu cầu thanh toán quốc
tế ngày càng gia tăng và phát triển.
Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ tiền tệ, phát sinh trên cơ
sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức hay cá nhân nước này
với tổ chức hay cá nhân nước khác, hoặc giữa một quốc gia với một tổ chức
quốc tế, thường được thông qua quan hệ giữa các ngân hàng của các nước liên
quan.
Do đó, phát triển thanh toán quốc tế sẽ tạo điều kiện mở rộng hoạt động
đối ngoại giữa các nước trong khu vực và trên thế giới. Khoảng cách xa về địa
lý giữa các quốc gia khiến cho phương thức “tay trao tay” khó có thể thực hiện
được giữa các bên xuất nhập khẩu trong quan hệ ngoại thương mà cần phải có
một trung gian đứng ra thay mặt cho mỗi bên thực hiện việc thanh toán và sẽ
được hưởng phí. Trung gian đó chính là các ngân hàng thương mại. Ngoài việc
đảm nhận nghiệp vụ thanh toán quốc tế, các ngân hàng còn là người tư vấn,
hướng dẫn và giải quyết các vướng mắc trong thanh toán cho khách hàng, đồng
thời đảm bảo cho việc thanh toán diễn ra nhanh gọn, tốn ít thời gian và đảm bảo
lợi ích cho cả hai bên xuất khẩu, nhập khẩu.
Nguyễn Thị Quỳnh Hương
4
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
Khoa Tài chính Ngân hàng
1.1.2 Các phương thức thanh toán quốc tế chủ yếu
Trong thương mại quốc tế, phương thức thanh toán có một vị trí quan
trọng. Bởi nó là cơ sở để duy trì và phát triển quan hệ buôn bán quốc tế giữa các
nước. Và đặc biệt việc sử dụng phương thức thanh toán quốc tế nào sẽ quyết
trách nhiệm về thanh toán tiền hàng.
1.1.2.3Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ (Documentary credit)
Nếu như hai phương thức chuyển tiền và nhờ thu chỉ có thể được đảm bảo
thực hiện khi và chỉ khi các bên tham gia tín nhiệm nhau, thì phương thức thanh
toán tín dụng chứng từ vẫn có thể đảm bảo quyền lợi cho các bên ngay cả trong
trường hợp các bên mới giao dịch lần đầu và chưa tin tưởng lẫn nhau. Chính vì
vậy mà theo đánh giá của các nhà chuyên môn thì đây là phương thức thanh toán
thông dụng nhất, an toàn nhất trong thanh toán quốc tế. Sở dĩ như vậy là vì
thanh toán theo phương thức này có hiệu quả cao hơn do những quy định chặt
chẽ trong quy trình thanh toán làm cho quyền lợi và trách nhiệm của các bên
tham gia hợp đồng mua bán được thể hiện một cách bình đẳng, đồng thời sự
tham gia của các ngân hàng giúp cho hai bên xuất nhập khẩu được bảo vệ khỏi
những rủi ro có thể xảy ra. Hiện nay ở Việt Nam và các nước đang phát triển, tỷ
trọng thanh toán bằng L/C chiếm khoảng 80% trong tổng số kim ngạch hàng
hoá xuất nhập khẩu.
1.2 Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
1.2.1 Định nghĩa tín dụng chứng từ
Theo điều 2 của “Quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ”
(The Uniform Custom and Practice for Documentary Credits – UCP No 500),
tín dụng chứng từ được định nghĩa như sau: “Theo điều khoản này, những thuật
ngữ “tín dụng chứng từ” và “thư tín dụng dự phòng” (dưới đây gọi là tín dụng),
có nghĩa là bất cứ một sự thoả thuận nào, cho dù được gọi tên hay được miêu tả
thế nào, theo đó một ngân hàng (ngân hàng phát hành) hành động theo yêu cầu
và theo chỉ thị của một khách hàng (người yêu cầu phát hành tín dụng) hoặc
nhân danh chính mình:
1. Phải thực hiện việc trả tiền theo lệnh của một người thứ ba (người thụ
hưởng), hoặc phải chấp nhận và trả tiền hối phiếu do người thụ hưởng ký
phát,
Nguyễn Thị Quỳnh Hương
6
bất cứ người nào khác mà người hưởng lợi chỉ định.
Nguyễn Thị Quỳnh Hương
7
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
Khoa Tài chính Ngân hàng
− Ngân hàng thông báo (Advising Bank): là ngân hàng phục vụ nhà xuất
khẩu, là trung tâm giao dịch giữa ngân hàng mở và người hưởng lợi. Ngân
hàng này kiểm tra tính trung thự của thư tín dụng và thông báo nó cho
người hưởng lợi. Ngân hàng thông báo có thể là ngân hàng đại lý hoặc là
chi nhánh của ngân hàng phát hành ở nước người xuất khẩu.
Trên thực tế, ngoài các thành phần tham gia nêu trên thì tuỳ theo từng loại
thư tín dụng có thể xuất hiện thêm ột số ngân hàng khác trog quá trình thanh
toán như:
+ Ngân hàng xác nhận (Confirming Bank): là ngân hàng xác nhận trách
nhiệm của mình sẽ cùng ngân hàng đảm bảo việc trả tiền cho người
xuất khẩu, trong trường hợp ngân hàng phát hành không có khả năng
thanh toán.
+ Ngân hàng được chỉ định (Nominated Bank): là ngân hàng được chỉ
định trong thư tín dụng, cho phép ngân hàng đó thực hiện việc thanh
toán,chiết khấu hoặc chấp nhận bộ chứng từ của người thụ hưởng phù
hợp với quy định của tín dụng chứng từ.Tuỳ theo từng nhiệm vụ cụ thể
mà tên gọi của ngân hàng này có thể là:
+ Ngân hàng chỉ định thanh toán (Nominated Paying Bank).
+ Ngân hàng chỉ định chiết khấu (Nominated Negotiating Bank).
+ Ngân hàng chỉ định chấp nhận (Nominated Accepting Bank).
Trên thực tế, thông thường để giúp nhà xuất khẩu thuận tiện trong việc
nhận tiền hàng tại nước họ thì ngân hàng thông báo ngoài nghiệp vụ thông báo
ra còn làm ba nghiệp vụ trên: thanh toán, chấp nhận, chiết khấu.
− Ngân hàng bồi hoàn(Reimbursement Bank): là ngân hàng được ngân hàng
phát hành uỷ nhiệm thực hiện thanh toán giá trị tín dụng thư cho ngân
chuyển giao thư tín dụng này cho người xuất khẩu.
(4) Người xuất khẩu nếu chấp nhận nội dung thư tín dụng đã mở thì tiến hành
giao hàng theo điều kiện hợp đồng.
(5) Sau khi đã hoàn thành việc giao hàng, người xuất khẩu tiến hành lập bộ
chứng từ thanh toán theo thư tín dụng, gửi tới ngân hàng phục vụ mình đề
nghị thanh toán.
Nguyễn Thị Quỳnh Hương
10
Ngân hàng thông báo
(Advising Bank)
Ngân hàng phát hành
(Issuing Bank )
Người xuất khẩu
(Beneficiary)
Người nhập khẩu
(Applicant)
(3)
(5)
(6)
(1) (9) (10)
(8)
(7)
(2)
(4)
Hợp đồng
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
Khoa Tài chính Ngân hàng
(6) Ngân hàng thông báo dược chỉ định là ngân hàng thanh toán, sẽ tiến hành
kiểm tra bộ chứng từ do người hưởng lập, nếu thấy phù hợp với các điêu
khoản trong thư tín dụng thì tiến hành thanh toán cho người xuất khẩu(trả
chỉ căn cứ vào việc kiểm tra bộ cứng tù phù hợp với các điều khoản của thư tín
dụng.
1.2.4.3 Các loại thư tín dụng
a. Thư tín dụng có thể huỷ ngang (Revocable L/C)
Thư tín dụng có thể huỷ ngang là loại thư tín dụng mặc dù đã được ngân
hàng phát hành ra và trong khi nhà xuất khẩu chuẩn bị giao hàng nhưng nó vẫn
có thể bị nhà nhập khẩu sửa đổi một số điều khoản của L/C hoặc huỷ bỏ toàn bộ
L/C mà không cần báo trước cho người thụ hưởng biết. Tuy nhiên, việc sửa đổi
hay huỷ bỏ L/C chỉ được thực hiện trước khi hàng hoá được rao hoặc vận đơn
chưa được chuyển nhượng. Loại thư tín dụng này không đảm bảo quyền lợi cho
người xuất khẩu. Vì vây, ngày nay hầu như nó không được sử dụng trong
thương mại quốc tế mà chỉ tồn tại trên lý thuyết.
b. Thư tín dụng không thể huỷ ngang (Irrevocable L/C)
Đây là loại thư tín dụng sau khi được phát hành, ngân hàng phaircam kết
thực hiện theo đúng những điều khoản của nó, không được tự ý sửa đổi, huỷ bỏ.
Tuy nhiên, thư tín dụng này vẫn có thể được bổ sung, sửa đổi khi có sự thoả
thuận nhất trí của các bên liên quan. Loại L/C này được sử dụng phổ biến nhất
trong thanh toán tín dụng chứng từ. Theo UCP No500 nếu không có ghi chú đặc
biệt về loại thư tín dụng muốn mở thì ngân hàng được quyền hiểu đó là thư tín
dụng không thể huỷ ngang.
c. Thư tín dụng không thể huỷ ngang có xác nhận (Confirmed Irrevocable L/C)
Đây là loại thư tín dụng không thể huỷ ngang, được ột ngân hàng khác có
uy tín đảm bảo trả tiền cho người thụ hưởng, theo yêu cầu của ngân hàng phát
hành L/C đó. Trường hợp ngân hàng phát hành vì một lí do nào đó mà không
thanh toán được tiền thì ngân hàng xác nhận phải có trách nhiệm thanh toán
ngay. Do đó, ngân hàng xác nhận có quyền yêu cầu ngân hàng phát hành kí quỹ
theo tỉ lệ giá trị của thư tín dụng. Như vậy, có hai ngân hàng cùng cam kết trả
Nguyễn Thị Quỳnh Hương
12
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
13
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
Khoa Tài chính Ngân hàng
h. Thư tín dụng đối ứng (Reciprocal L/C).
Là loại L/C chỉ bắt đầu có hiệu lực khi L/C kia đối ứng với nó đã mở
ra.Trong L/C ban đầu thường phải ghi L/C này chỉ có giá trị khi người hưởng lợi
đã mở một L/C đối ứng với nó để cho người mở hưởng và trong L/C đối ứng
phải ghi câu:”L/C này đối ứng với L/C số...mở ngày...qua ngân hàng”.
L/C đối ứng được sử dụng trong phương thức hàng đổi hàng, ngoài ra
không loại trừ khả năng dunngf trong phương thức gia công thương mại quốc tế.
i. Thư tín dụng dự phòng (Stand by L/C).
Là loại L/C được phát hành với mục tiêu nhằm trực tiếp bảo vệ quyền lợi
cho người nhập khẩu. Ngân hàng mở L/C dự phòng sẽ cam kết với người nhập
khẩu thanh toán lại cho họ trong trường hợp người xuất khẩu không hoan thành
nghĩa vụ giao hàng theo L/C đã đề ra. Thư tín dụng dự phòng không mang tính
chất là phương thức thanh toán hàng hoá xuất nhập khẩu, mà chỉ có tính chất là
phương thức đảm bảo cho việc giao hàng, thực hiện đúng hợp đồng.
j. Thư tín dụng thanh toán dần( Defered payment L/C).
Là loại thư tín dụng không thể huỷ bỏ, trong đó ngân hàng mở L/C hay
ngân hàng xác nhận L/C cam kết với người hưởng lợi sẽ thanh toán dần dần số
tiền của L/C trong những thời hạn quy định trong L/C đó.
k. Thư tín dụng điều khoản đỏ (Red clause L/C).
Đây là loại thư tín dụng có một điều khoản đặc biệt được viết bằng mực
đỏ trong đó thể hiện nội dung như sau: người nhập khẩu uỷ nhiệm cho ngân
hàng thông báo hoặc ngân hàng xác nhận ứng tiền trước cho người hưởng lợi
trước khi họ xuất trình chứng từ hàng hoá - điều này có nghĩa là mặc dù người
xuất khẩu chưa thực hiện nghĩa vụ giao hàng nhưng đã nhận được một khoản
tiền hàng ứng trước từ nhà nhập khẩu. Thực chất đây là loại thư tín dụng ứng
trước, nó được sử dụng như một phương tiện cấp vốn cho bên bán trước khi
giao hàng.
thanh toán hoặc chiết khấu.
Theo ICC, bộ chứng từ thông thường được chia làm hai loại: chứng từ tài
chính và chứng từ thương mại.
1.2.6.1 Chứng từ tài chính (Financial Documents).
Nguyễn Thị Quỳnh Hương
15
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
Khoa Tài chính Ngân hàng
Chứng từ tài chính: là những chứng từ có giá, được sử dụng làm phương
tiện thanh toán hàng hoá, dịch vụ. Bao gồm: hối phiếu, lệnh phiếu, séc...Trong
thương mại quốc tế, hối phiếu và séc được sử dụng rộng rãi phổ biến; còn lệnh
phiếu rất ít được dùng.
1.2.6.2 Chứng từ thương mại (Commercial Documents).
Chứng từ thương mại là các bằng chứng về hàng hoá, về vận tải và bảo
hiểm. Thông thường gồm các chứng từ dưới đây:
• Hoá đơn thương mại (Commercial Invoice)
• Bảng kê đóng gói (Packing list)
• Vận đơn đường biển (Ocean Bill of Lading – B/L)
• Chứng từ bảo hiểm: thường bao gồm hợp đồng bảo hiểm (Insurance
Policy) và giấy chứng nhận bảo hiểm (Insurance Certificate).
• Giấy chứng nhận xuất xứ (Certificate of Origin)
• Giấy chứng nhận chất lượng (Certificate of Quality)
1.2.7 Ưu nhược điểm của phương thức thanh toán tín dụng chứng từ.
1.2.7.1 Ưu điểm.
Nếu như các phương thức thanh toán khác không giải quyết được mâu
thuẫn về lợi ích trong quan hệ giao dịch thương mại giữa người xuất khẩu và
người nhập khẩu: đó là người bán muốn bán hàng ngay, thu hồi vốn nhanh đảm
bảo an toàn trong thanh toán, giao hàng rồi nhưng e ngại về việc chậm thanh
toán hoặc không thanh toán; còn người mua lại muốn nhận được hàng trước khi
thanh toán, trả tiền hàng càng chậm càng tốt nhằm tận dụng vốn trong kinh
mại với đối tác nước ngoài.
Đối với các ngân hàng, khi tham gia phương thức thanh toán L/C, họ cũng
sẽ thu được những lợi ích của riêng mình đó là: thu được các khoản phí do các
bên trả và có thể huy động thêm các khoản tiền gửi(khi có kí quỹ) để thực hiện
các nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng khác, đồng thời thu hút được khách hàng
sử dụng các tiện ích ngân hàng khác, ngoài ra điều quan trọng là có thể nâng cao
được uy tín của ngân hàng trên thương trường quốc tế.
1.2.7.2 Nhược điểm.
Nguyễn Thị Quỳnh Hương
17
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
Khoa Tài chính Ngân hàng
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm trên thì phương thức thanh toán L/C
còn có một số hạn chế nhất định như sau:
- Đối với người xuất khẩu: Thông thường, rủi ro xảy ra với người xuất
khẩu là khi người mua không thiện chí trong thanh toán do họ muốn từ chối
thanh toán tiền hàng, hoặc muốn kéo dài thời gian thanh toán vì tình hình tài
chính chưa sẵn sàng, hoặc do sự biến động trong thị hiếu tiêu dùng mặt hàng
đó...Người nhập khẩu gây khó khăn trong thanh toán bằng cách tìm ra những
điểm khác biệt rất nhỏ giữa các chứng từ do người xuất khẩu xuất trình so với
quy định của L/C. Bởi sự khác biệt dù là rất nhỏ giữa các chứng từ với nhau và
giữa chứng từ với L/C cũng là cớ hợp lệ để người nhập khẩu từ chối thanh toán
cho người xuất khẩu mặc dù hàng hoá đã được giao hoàn toàn đúng theo yêu
cầu của người mua.
- Đối với người nhập khẩu: Do việc thanh toán trong phương thức L/C
thường được thực hiện trước khi hàng hoá đến tay người nhập khẩu do vậy họ
thường bị rủi ro về hàng hoá như số lượng, phẩm chất, mẫu mã không đúng theo
yêu cầu của hợp đồng, hay nhập phải một loại hàng hoá khác không đúng như
thoả thuận, thậm chí có khi không có hàng hoá...Nguyên nhân của rủi ro này là
xuất từ việc ngân hàng chỉ có thể khống chế về mặt hình thức của các loại chứng
thanh toán. Còn rủi ro với ngân hàng chiết khấu chứng từ có thể là rủi ro về các
nguyên nhân bất khả kháng như thiên tai, chiến tranh, đảo chính, khủng hoảng
kinh tế…, rủi ro do nhà nhập khẩu trì hoãn thanh toán hoặc từ chối bộ chứng từ,
rủi ro do ngân hàng mở phá sản...
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển của hoạt động thanh
toán tín dụng chứng từ tại NHTM
1.3.1. Các nhân tố ảnh hưởng
1.3.1.1. Nhóm nhân tố chủ quan
* Về phía ngân hàng: Với tư cách là chủ thể trung gian trong toàn bộ tiến
trình của hoạt động thanh toán quốc tế bằng L/C, rõ ràng, NHTM đóng vai trò
hết sức quan trọng đối với bản thân mỗi nghiệp vụ đơn lẻ, cũng như sự phát
triển của phương thức thanh toán L/C nói chung.
Nguyễn Thị Quỳnh Hương
19
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
Khoa Tài chính Ngân hàng
Cơ cấu sản phẩm dịch vụ mà ngân hàng cung cấp là yếu tố hàng đầu, bởi
một lẽ đơn giản: nếu NHTM không triển khai phương thức thanh toán bằng L/
C, thì sẽ không có hoạt động thanh toán qua L/C. Điều này mang tính quyết
định căn bản không chỉ với phương thức tín dụng chứng từ, mà còn với hoạt
động thanh toán quốc tế nói chung mà L/C đã và đang trở thành một công cụ
phổ biến.
Nguồn nhân lực là yếu tố trung tâm của mọi quá trình, đồng thời có tác
động to lớn tới sự phát triển của hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ. Cho dù
công nghệ ngân hàng có được hiện đại hóa đến đâu, với sự tham gia sâu rộng
của máy móc, thiết bị, thì yếu tố nhân lực vẫn luôn giữ vai trò chủ đạo, đặt biệt
là trong tính đa dạng và phức tạp của thanh toán L/C.
Bản chất của thanh toán, là quan hệ giữa người mua và người bán. Vai trò
của NHTM trong mối quan hệ này, là nhằm giải đáp cho vấn đề đặt ra là sự tin
tưởng của các bên. Ngân hàng càng củng cố chất lượng hoạt động, mở rộng
giao thương giữa các quốc gia. Mối quan hệ càng được đẩy mạnh, thì thanh toán
quốc tế cũng được mở rộng tương ứng, phương thức thanh toán L/C càng phát
triển mạnh mẽ.
* Tập quán thương mại quốc tế: Thông lệ trong thương mại quốc tế là
một yếu tố rất quan trọng, trực tiếp tác động tới việc lựa chọn phương thức
thanh toán. Một phương thức thanh toán được cho là tối ưu, nhưng không phù
hợp với tập quán của một hoặc các bên, thì cũng sẽ chưa chắc là phương thức
được lựa chọn.
1.3.2. Các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển của thanh toán quốc tế theo phương
thức tín dụng chứng từ
1.3.2.1. Quy mô
Chỉ tiêu quy mô hoạt động thanh toán quốc tế theo L/C được thể hiện qua
các tiểu chỉ tiêu:
- Số lượng giao dịch được triển khai qua ngân hàng (tính theo tháng,
quý, năm)
- Giá trị trung bình mỗi giao dịch, tổng giá trị thanh toán
- Số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ; trung bình số lượng/giá trị giao
dịch trên mỗi khách hàng.
Nguyễn Thị Quỳnh Hương
21
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
Khoa Tài chính Ngân hàng
1.3.2.2. Khách hàng
* Theo phương diện pháp lý
- Khách hàng thể nhân
- Khách hàng pháp nhân
* Theo tính chất
- Khách vãng lai
- Khách thường xuyên
* Theo quy mô
động, Ngân hàng Quốc tế luôn phát triển theo mục tiêu trở thành một trong
những tổ chức tài chính dẫn đầu thị trường Việt Nam. Là một ngân hàng đa
năng, với nền tảng công nghệ hiện đại, Ngân hàng Quốc tế tiếp tục cung cấp một
loạt dịch vụ tài chính đa dạng, trọn gói cho khách hàng với nòng cốt là những
doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động lành mạnh và những cá nhân, gia đình có
thu nhập ổn định tại các vùng kinh tế trọng điểm trên khắp cả nước.
Sau 9 năm hoạt động, tính từ thời điểm 18/09/1996 đến 31/12/2005, vốn
điều lệ của VIBank tăng từ 50 tỷ đồng lên 510 tỷ đồng, đạt tốc độ tăng trưởng
bình quân hàng năm là 113%. Tổng tài sản có đạt trên 8.967 tỷ đồng, tăng gấp 2
lần so với cuối năm 2004 và đạt tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm là
177%. Lợi nhuận trước thuế đạt trên 95 tỷ đồng, bằng 230% so với năm 2004.
Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn tự có bình quân đạt trên 20% và mức cổ tức chia cho
các Cổ đông tăng đều hàng năm. Tỷ lệ về khả năng chi trả luôn lớn hơn 1, tỷ lệ
an toàn vốn tối thiểu luôn lơn hơn 8%.
Nguyễn Thị Quỳnh Hương
24
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
Khoa Tài chính Ngân hàng
Nguồn lực quản lý và hoạt động không ngừng được tăng cường với việc
bổ nhiệm nhiều chuyên gia giàu kinh nghiệm trong các lĩnh vực tài chính ngân
hàng và một đội ngũ chuyên viên kinh nghiệm, giàu nhiệt huyết. Hình ảnh của
Ngân hàng Quốc tế trong lòng công chúng và khách hàng được cải thiện đáng kể
bằng nhiều chương trình đổi mới và mở rộng năng lực phục vụ, tăng cường
quảng bá hình ảnh ngân hàng.
Ngân hàng Quốc tế được Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam xếp loại A theo
các tiêu chí đánh giá hệ thống Ngân hàng Việt Nam do Thống đốc Ngân hàng
Nhà Nước Việt Nam ban hành trong nhiều năm liên tiếp và lần thứ 2 được Tập
đoàn Citigroup trao tặng Danh hiệu Ngân hàng hoạt động thanh toán xuất sắc.
Hiện nay, mạng lưới hoạt động của Vibank tương đối rộng. Cuối năm
2005, ngoài Hội sở tại Hà Nội, Ngân hàng Quốc tế có 30 Chi nhánh, Phòng Giao