Kỹ thuật trồng lúa cấy - Pdf 11

Kỹ thuật trồng lúa cấy 1.Thời vụ và nhóm giống lúa theo vùng sinh thái
Có thể sử dụng các giống lúa khác nhau để gieo thẳng.
Trong thực tế, thường gieo thẳng các giống lúa ngắn
ngày, thấp cây, khả năng chống đổ tốt.

a) Vùng đồng bằng sông Hồng
Vụ xuân:
* Xuân sớm: Gieo mạ 15- 25/11; cấy: 15 - 25/ 1 với các giống lúa: DT10, DT13, X21,
Xi23, VN10, NX30, 17494, MT163, M6…
* Xuân chính vụ: Gieo mạ 1/12- 20/12; cấy: 20/1- 20/ 2 với các giống lúa: C70, C71,
P1, P6, BM9855, N1-9, TK106…
* Xuân muộn: gieo 5/2- 25/2 với các giống lúa: ĐB5, ĐB6, Q5, KD18, BT7, HT1,
LT2, AC5, IRi352, BM9820, PD2, Nhị ưu 838, HYT83, TH3-3, Việt lai 20…
* Gieo mạ trên nền đất cứng ở vụ xuân muộn: Gieo mạ 25/1- 10/2; cấy từ 10/2 trở đi.
Tuổi mạ từ 10- 15 ngày, tương ứng 3- 4 lá.
Vụ mùa:
* Mùa sớm: gieo 10/6- 20/6 với các giống lúa: ĐB5, ĐB6, Q5, KD18 ,HT1, LT2,
AC5, IRi352, BM9820, PD2, Nhị ưu 838, Bacưu 64, Bacưu 903, HYT83, TH3-3, Việt
lai 20…
* Mùa trung: gieo 15/6- 25/6 với các giống lúa: X21, Xi23, VN10, NX30, 17494,
MT6, M6, P1, P6, TK 106…
* Mùa muộn: Gieo mạ 25/ - 5/ 6; cấy: 25/6 - 5/7 với các giống lúa: Nếp Hoa vàng, D
ự,
Mộc tuyền, Bao Thai, Tám thơm các loại.

b) Vùng đồng bằng ven biển Trung bộ
* Vụ đông xuân (vụ ba): Gieo mạ 25/10;cấy: 20/11- 5/12 với cỏc giống lỳa: Tộp lai,
X21, Xi23, M6, CM1, BM9830…

* Hạt giống phải khô, sạch, chắc mẩy, thuần, đúng giống, đồng nhất về kích cỡ, không
bị lẫn những hạt giống khác, không bị lẫn hạt cỏ và tạp chất, không có hạt lem, lép và
không bị dị dạng.
* Hạt giống không bị côn trùng phá hoại (sâu mọt), không mang mầm bệnh nguy
hiểm.
* Tỉ lệ nảy mầm cao, đạt 85% trở lên.

Số lượng hạt giống / đơn vị diện tích: Tuỳ theo mùa vụ và trọng lượng 1000 hạt của
giống để tính lượng hạt giống cần cấy ( Trọng lượng 1000 hạt lớn, lư
ợng hạt giống cần
nhiều hơn hạt giống có trọng lượng 1000 hạt thấp). Thông thường l ượng hạt giống c
ần
thiết:
* Vụ xuân: 2- 2,5 kg hạt giống/ sào Bắc bộ
* Vụ mùa: 1,5- 2 kg hạt giống/ sào Bắc bộ

Lưu ý: Đối với lúa lai chỉ cần 1 kg hạt giống/ sào Bắc bộ 3.Ngâm ủ hạt giống
Thực hiện tốt các khâu kỹ thuật ngâm ủ hạt giống sẽ có tỷ lệ nảy mầm cao, loại bỏ
được một số loại bệnh hại và kí sinh trên hạt

* Phơi lại hạt giống: Hạt giống cần phơi lại 6- 8 giờ trong nắng nhẹ (không phơi trực
tiếp trên sân gạch hay sân xi măng). Phơi lại có tác dụng làm cho hạt hút nước nhanh,
xúc tiến hoạt động của hệ thống men, tăng khả năng nảy mầm.
* Thử tỷ lệ nảy mầm
* Chọn hạt tốt, loại bỏ hạt lép lửng bằng nhiều cách : Bằng quạt gió, sàng sảy hoặc
trong quá trình ngâm nước cần vớt hết những hạt nổi và giữ lại hạt chìm (hạt tốt).
* Xử lí hạt giống : Có thể sử dụng một trong các phương pháp sau:

Mạ dược:
Là hình thức phổ biến nhất. Ruộng mạ được giữ nước, làm đất kỹ, trang phẳng rồi lên
luống, gieo hạt đã nảy mầm, giữ ẩm thời kỳ đầu sau đó mới tưới nước cho đến lúc cấy.Mạ sân (mạ nền):
Nh
ững năm rét nhiều ở vụ xuân, mạ dược thường chết gây thiêu mạ, phảI khắc phục
bằng làm mạ sân (Thường là vụ xuân muộn).

Xuất phát từ kinh nghiệm làm mạ Dapog của Philippin. Làm đất khô trước khi gieo,
lót giấy PE hoặc lá chuối, rải một lớp đất bột mỏng rồi gieo hạt, tưới ẩm. Mạ Dapog
gieo dày (2-2,5 Kg/m2), tuổi mạ 10-15 ngày.

Có thể cải tiến phương pháp này bằng cách trước khi gieo mầm, rảI một lớp bùn mỏng
lên sân hay lên nền đất cứng ở bờ mương, ven đường. Nếu đất xấu có thể trộn thêm
phân chuồng mục đã ủ với lân. Gieo hạt đã xử lí, ngâm ủ. Mật độ gieo từ 1,0-1,5
kg/m2 . Tưới giữ ẩm, che nilon tránh gió lạnh. Khi mạ 2,5-3 lá là nhổ cấy được. Khi
lấy mạ bứng cả mảng. Khi cấy tách thành các khóm nhỏ. Mạ sân bén rễ nhanh, không
thua kém mạ dược.

Mạ khô (mạ đồi, mạ nương):
Làm đất khô, gieo sâu 2-3 cm (hoặc chọc lỗ bỏ hạt) dùng cào, bừa răng lấp hạt. . . ở
đồng bằng, làm đất nhỏ lên luống, gieo hạt, lấp một lớp đất bột mỏng và tưới ẩm. Loại
mạ này, sau cấy bén rễ nhanh, mọc khỏe.

Mạ nổi (mạ bè):
Phổ biến ở vùng đất trũng không làm được mạ dược (mạ nước). Lấy rơm cỏ kết thành
bè rộng 1-1,2 m, nổi lên 3-5 cm, dùng đất sét, bùn loãng rải lên rồi gieo mầm.

6.Chăm sóc và quản lý ruộng mạ
Chăm sóc mạ dược:

ớc: Ở thời kỳ mạ non (từ gieo đến 3lá), mặt luống cần được giữ ẩm để rễ phát triển
thuận lợi. Khi mạ có 4 lá đến nhổ cấy tùy theo thời tiết và sinh trư
ởng của mạ để quyết
định chế độ tưới nước. Khi cần chỉ tưới nước vào rãnh để luống mạ đủ ẩm. Trước khi
nhổ có thể tưới trước 5-7 ngày cho đất mềm, dễ nhổ, tránh đứt rễ.

Phân bón: Bón thúc vào thời kỳ mạ 3-4 lá, Lượng bón từ 0,5- 1,0 kg Urê/ sào Bắc bộ
tùy theo giống và độ phì đất. Trước khi nhổ cấy 3-5 ngày, có thể bón tiễn chân giúp
cây mạ ra rễ mới. Mạ tốt, mạ già không nên bón thúc nhiều.

Phòng chống rét: Dùng các giống chịu rét. Gieo đúng thời vụ, gieo vào lúc trời ấm,
gieo mật độ dày, tăng phân chuồng và lân, không bón đạm vào lúc trời rét, điều tiết
nước và che phủ Nilon cho mạ trong những đợt rét.

Phòng chống mạ già, mạ ống: Mạ đông xuân rất mẫn cảm với nhiệt độ. Cần đề phòng
mạ ống khi thời tiết ấm, nhiệt độ bình quân trên 200c kéo dài và tích ôn đạt 5000c .
Điều kiện đất tốt, nước nhiều, gieo dày cũng dẫn tới mạ ống.

Biện pháp chống mạ già và ống: Rút nước để ruộng mạ khô, không bón đạm, bố trí
thời vụ thích hợp và tránh tình trạng “mạ chờ ruộng”.

Phòng chống sâu bệnh cho mạ: Tiến hành phòng trừ khi sâu bệnh phát sinh rộ.

Tiêu chuẩn mạ tốt: Mạ cứng cây, khỏe, tỉ lệ bẹ / lá cao, đanh dảnh, màu sắc lá xanh
vàng, tỉ lệ C/N thích hợp, mạ không bị ống, có sức ra rễ mạnh và không có sâu bệnh.

Làm đất lúa phải cày sâu, bừa kỹ cho đất nhuyễn, mặt ruộng phải phẳng thuận lợi cho
khi cấy đồng đều và điều tiết nước.
Cày sâu tạo điều kiện cho bộ rễ lúa phát triển tốt, tăng nguồn dự trữ dinh dư
ỡng, có lợi
cho các hoạt động của vi sinh vật vùng rễ phân giải các chất hữu cơ khó phân huỷ,
tăng cường dinh dưỡng cho lúa.
Yêu cầu đất lúa trước khi cấy phải sạch gốc rạ, cỏ dại. đất lúa cấy mạ sân càng phải
được làm kỹ hơn, mặt ruộng phẳng hơn và để mức nước nông để lúa cấy xong phát
triển thuận lợi.

Bón lót
Trong quá trình làm đất sẽ kết hợp với bón lót. Bón lót phân chuồng, phân xanh, vôi v
à
các loạ phân vô cơ như lân, kali, đạm…Bón lót sâu và hợp lí :
Bón lót phân xanh và vôi (nếu có) vào lúc cày ngả, phân chuồng và phân lân bón vào
lúc cày lại, đạm và kali bón trước khi bừa cấy.
Vụ chiêm xuân nhiệt độ đầu vụ thấp cần quan tâm bón lót nhiều hơn vụ mùa. 8.Kỹ thuật cấy
Mật độ và khoảng cách cấy
Mật độ có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hình thành số bông. Xác định mật độ cấy
hợp lý cần dựa và

Thời vụ cấy: vụ có nhiệt độ thấp cấy dầy hơn vụ có nhiệt độ cao.

* Vụ xuân cấy mật độ: 45-55 khóm/m2, 2-3 dảnh /khóm
* Vụ mùa cấy mật độ: 40- 45 khóm/m2, 2-3 dảnh / khóm
Khoảng cách:
* Vụ xuân: 20 cm X 11cm hoặc 18 cm X 11 cm

Bón thúc

* Bón thúc đẻ nhánh: Khi lúa bén rễ hồi xanh kết hợp với làm cỏ đợt I, bón 50 -60 %
lượng đạm
* Bón đón đòng: Trước trỗ 30 -35 ngày. Bón đón đòng có tác dụng xúc tiến phân hóa
gié và hoa nhằm đạt số hạt / bông cao.
* Bón nuôi đòng: Tiến hành vào thời gian trước trỗ 12-15 ngày. bón nuôi đòng có tác
dụng tăng tỉ lệ hạt chắc và khối lượng hạt.
Để tăng hiệu quả của phân bón thúc nên bón sâu theo cách kết hợp với làm cỏ sục b
ùn,
giữ nước vừa phải, không bón khi thời tiết xấu . . .có thể dùng phân viên tổng hợp bón
tập trung vào gốc sẽ năng cao hiệu quả của phân.

Tưới nước
Tuỳ điều kiện cụ thể mà có thể đảm bảo chế độ nước phổ biến như sau: duy trì mức
nước < 5 cm vào thời kỳ sau cấy đến thời kỳ đẻ nhánh hữu hiệu, > 20cm vào thời kỳ
cuối đẻ nhánh để hạn chế đẻ nhánh vô hiệu. Nếu lúa tốt, sinh trưởng mạnh thì nên rút
nước phơi ruộng, hạn chế dinh dưỡng cũng có tác dụng làm giảm đẻ nhánh vô hiệu.
Duy trì 5-10 cm nước vào thời kỳ làm đòng đến chín sữa. Sau thời kỳ chín sữa có thể
rút nước, lúa tiếp tục vào chắc, thuận lợi cho khâu thu hoạch.
Trường hợp lúa xấu hoặc trên đất chua , mặn, phèn, phải duy trì mực nước 5-6 cm để
hạn chế phèn, mặn.

Phòng trừ sâu bệnh
Thường xuyên kiểm tra đồng ruộng, phát hiện và phòng trừ sâu bệnh kịp thời. 10.Thu hoạch bào quản

Thu hoạch lúa



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status