TIỂU LUẬN: Triết học về xây dựng đất nước theo con đường CNXH - Pdf 11



TIỂU LUẬN:

Triết học về xây dựng đất nước
theo con đường CNXH Mở đầu Năm 1975, giải phóng miền Nam, đất nước việt Nam hoàn toàn độc lập, hai
miền Nam Bắc thống nhất, cách mạng nước ta chuyển sang giai đoạn mới, đó là cả
nước xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH). Sự lựa chọn con đường đi lên CNXH ở
nước ta là sự lựa chọn đúng đắn hay sai lệch? Vì sao không đi theo con đường
TBCN mà kiên định đi theo CNXH ? trong khi đây là giai đoạn phát triển kỳ diệu,là
thành tựu của nhân loại.Bên cạnh đó lịch sử thế giới đã cho thấy nhiều bài học kinh
nghiệm về sự sụp đổ CNXH ở Liên Xô đã tồn tại hơn 70 năm,ở các nước Đông Âu
hơn 40 năm kể từ 1945.Đó là những nước đều đạt những thành tựu to lớn về khoa

đoạn của sự phát triển là một hình thái kinh tế – xã hội nhất định. Các hình thái kinh
tế – xã hội vận động và phát triển do tác động của các quy luật khách quan, đó là
quá trình tự nhiên của sự phát triển. C Mác viết : “ Tôi coi sự phát triển của những
hình thái kinh tế – xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên” , tức là muốn nói đến
quy luật khách quan của lịch sử, quy luật đó được coi là sự phát triển của quá trình
sản xuất vật chất , xét đến cùng là do mâu thuẫn bên trong giữa lực lượng sản xuất
và quan hệ sản xuất , do tính tất yếu kinh tế quy định. Các quy luật xã hội chính là
hiện thân của các quy luật tự nhiên được con người sử dụng nó để kiến tạo nên xã
hội loài người.
Tiến trình lịch sử là quá trình phát triển biện chứng vừa bao hàm sự phát
triển đứt đoạn và liên tục. Trong quá trình sản xuất , con người có những quan hệ
với nhau, đó chính là quan hệ sản xuất. Những quan hệ sản xuất đó do trình độ của
lực lượng sản xuất quy định. đến lượt nó quan hệ sản xuất lại quy định các quan hệ
xã hội khác như : chính trị, luật pháp, đạo đức… Khi lực lượng sản xuất phát triển
đến một mức độ nào đó thì những thay đổi về chất mâu thuẫn gay gắt với những
quan hệ sản xuất có, dẫn đến đòi hỏi khách quan là thay đổi quan hệ sản xuất cũ
bằng quan hệ sản xuất mới thông qua cuộc cách mạng xã hội. Quan hệ sản xuất thay đổi thì toàn bộ các quan hệ sản xuất khác cũng thay đổi. Như vậy, phương thức sản
xuất thay đổi, các quan hệ xã hội, chính trị, tinh thần thay đổi dẫn đến sự thay đổi
của hình thái kinh tế – xã hội. Chính vì thế, V.I.Lênin viết:”Chỉ có đem quy những
quan hệ xã hội vào những quan hệ sản xuất, và đem quy những quan hệ sản
xuất vào trình độ của những lực lượng sản xuất thì người ta mới có thể có được
những cơ sơ vững chắc để quan niệm sự phát triển của những hình thái xã hội là
một quá trình lịch sử – tự nhiên.”
Quá trình tự nhiên của sự phát triển lịch sử được chia ra thành những bậc
thang lịch sử khác nhau, ứng với một trình độ kinh tế, kỹ thuật nhất định trong từng
phương thức sản xuất nhất định. Thực tiễn đã cho thấy, loài người đã, đang và sẽ
trải qua 5 hình thái kinh tế – xã hội theo thứ tự từ thấp đến cao. Đó chính là quá

thế hệ con người. Từ đó giúp chúng ta không nóng vội chủ quan, không đốt cháy
giai đoạn, biết kế thừa những thành tựu chung của văn minh nhân loại.
 Học thuyết hình thái kinh tế – xã hội đòi hỏi chúng ta phải thấu triệt nguyên lý
đó, vận dụng một cách chủ động sáng tạo và kiến thức tổng quát của nhiều môn
khoa học khác vào công việc hàng ngày của mỗi người, mỗi địa phương phải nhìn
nhận các vấn đề trong dòng chảy liên tục của nó.
Chương II Sự lựa chọn con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
I- Qúa độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN ở nước ta
Từ hình thái kinh tế – xã hội này chuyển sang hình thái kinh tế – xã hội khác
có một giai đoạn lịch sử đặc biệt với độ dài ngắn khác nhau, kết cấu và hình thức
biểu hiện khác nhau, đó là “ thời kỳ quá độ”.
Tuỳ theo điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của mình mà các nước các dân tộc
sẽ thực hiện sự quá độ lên CNXH dưới những hình thức, bước đi khác nhau, do
trình độ xuất phát khác nhau. Có thể khái quát thành 3 loại nước tương ứng với 3
kiểu quá độ:
 Những nước TBCN phát triển cao
 Những nứơc đạt trình độ phát triển TBCN ở mức trung bình thấp  Những nước chưa trải qua giai đoạn TBCN của sự phát triển lịch sử
Nước ta thuộc loại nước thứ ba. Do toàn bộ những điều kiện khách quan và
nhân tố chủ quan quy định, nước ta đi theo con đường xã hội chủ nghĩa là một tất
yếu của lịch sử. Để “nhận dạng”con đường đi lên của nước ta, trước hết cần phân
tích đầy đủ và chính xác điểm xuất phát từ đó nước ta quá độ lên CNXH. Để xác
định con đường đi lên của mình, cụ thể trong điều kiện hiện nay chính là thực hiện
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thì điều cần thiết là phải xuất phát
từ thực trạng kinh tế xã hội của đất nước, xuất phát từ đặc điểm LLSX và QHSX ở
nước ta để lựa chọn đúng hình thức kinh tế cho hiệu quả, xác định rõ những bước đi
cụ thể theo mục tiêu đã chọn. Nghị quyết Trung ương 5 về văn hoá và Nghị quyết
Trung ương 6(lần1) khoá VIII về kinh tế gần đây đã khẳng định cần phải đẩy mạnh

chuyển hoá từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp, từ mô hình
nông thôn sang mô hình đô thị, từ tổ chức cộng đồng xóm sang cộng đồng dân tộc,
quốc tế…Cũng vì vậy, quá trình định hướng XHCN ở nước ta tất yếu phải là một
quá trình đan xen giữa nhiệm vụ trực tiếp và gián tiếp xây dựng CNXH, là quá trình
còn nhiều mâu thuẫn, nghịch lý, bất công mà tạm thời phải chấp nhận, và cuộc vận
động của lịch sử CNXH trên thực tế sẽ xoá bỏ dần những mâu thuẫn, nghịch lý, bất
công ấy. Sự định hướng XHCN còn chứa đựng một vấn đề cơ bản không thể né
tránh. Đó là thời kỳ “ai thắng ai”. Cho nên, không chỉ có khả năng đi đúng hướng
mà còn có khả năng đi chệch hướng. Chệch hướng là một nguy cơ có thật. Quá trình
đi theo con đường XHCN quyết không phải là sự chuyển động phẳng lặng theo một
chiều mong muốn, đặc biệt cơ chế thị trường được coi là phương tiện khách quan để
xây dựng CNXH. Nó là phương tiện để phát triển kinh tế, nhưng sự phát triển ấy lại
tiềm ẩn nguy cơ CNXH bị huỷ hoại.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH của Đảng đã
xác định 6 đặc trưng của xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng. Nói định hướng
XHCN nghĩa là nói mục tiêu chúng ta đạt tới. Đó cũng là hành lang của sự phát
triển , sự sáng tạo. Cương lĩnh vạch ra những phương hướng cơ bản chỉ đạo quá trình thực hiện những
đặc trưng của CNXH trên đất nước ta. Những phương hướng đó vừa mang tính bảo
đảm không chệch hướng XHCN, vừa quán triệt tinh thần đổi mới cho phép không
lặp lại những sai lầm cũ, tinh thần từng bước thực hiện những đặc trưng của CNXH.
Chẳng hạn, trong cách mạng QHSX, sự định hướng XHCN có nghĩa là thiết lập
từng bước QHSX XHCN phù hợp với sự phát triển của LLSX. Do đó,QHSX
XHCN sẽ được hình thành từ thấp đến cao, rồi sự đa dạng về hình thức sở hữu.
Sau cương lĩnh, các hội nghị của Trung Ương Đảng từ Đại Hội VII đến nay
đã cụ thể hoá thêm một bước sự định hướng XHCN trên các mặt đời sống xã hội.
Sau 12 năm đổi mới, đất nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội, đã thu được
những thành tựu to lớn có ý nghĩa rất quan trọng. Đất nước ta, nhờ đó có thể chuyển

 Sự tăng trưởng kinh tế không đồng đều giữa các vùng có chênh lệch lớn. Hà
Nội và TP Hồ Chí Minh có mức tăng trưởng từ 15% trở lên, các vùng khác có mức
tăng trưởng 7% liên tục mấy chục năm, nhưng do sự phát triển không đều giữa hai
vùng trong nước mà đang đứng trước nguy cơ một nước chia thành hai miền “phát
triển và lạc hậu”
 Tăng trưởng kinh tế đi đôi với sự chênh lệch về thu nhập ngày càng lớn.
Kinh tế tăng trưởng nhưng mức sống thực tế của một bộ phận hưởng lương giảm
1\3. Gạo xuất khẩu đạt mức cao nhất, nhưng mức sống nông dân quá thấp so với
công nhân và người dân thành thị( năm 1995, thu nhập của người dân đồng bằng
sông Cửu Long là 200USD/năm trong khi ở TP Hồ Chí Minh là 920USD/năm).
Điều đáng quan tâm là sự chênh lệch về thu nhập giữa các tầng lớp trong xã hội
ngày càng lớn.
 Đến nay mức thâm hụt buôn bán tăng gấp đôi năm 1995 và lên tới 2,3 tỷ
USD. Nguyên nhân do khối lượng nhập khẩu thiết bị và hàng tiêu dùng tiếp tục
tăng.
 Sở hữu toàn dân về đất đai trên thực tế đang bị tư nhân hoá. Diện tích đất
nông nghiệp tính theo đầu người giảm 300m^2 trong 10năm.  1/3 vốn đầu tư vào dịch vụ. Khuynh hướng đầu tư của nước ngoài là nhằm
thu hồi vốn nhanh, khai thác tài nguyên nhiều còn kỹ thuật tiên tiến không có là
bao.
 Vốn huy động trong dân còn ở tỷ lệ quá thấp: 7% GDP (trong khi Thái Lan
37%; Philippin 15%) Vốn đầu tư trong nước chủ yếu vẫn là vốn của nhà nước.
 “Chủ nghĩa tiêu thụ” phát triển mạnh mẽ trong giới trung, thượng lưu. Sự lệ
thuộc của hệ tư tưởng vào tính thực dụng kinh tế có xu hướng ngày càng tăng.
 Tham nhũng, hối lộ, buôn lậu, tệ nạn xã hội không giảm.
 Trong các chương trình phát triển nông nghiệp, nông thôn, công nghiệp hóa
có nhiều chỉ tiêu phản ánh không rõ những bước đi để kinh tế nhà nước và kinh tế
tập thể thực sự là nền tảng của nền kinh tế quốc dân.

CNTB còn chưa bị đánh bại tại quê hương của nó và thậm chí khi thiếu cả sự giúp
đỡ trực tiếp của một nước XHCN tiên tiến. Khi các quốc gia chậm phát triển đi sau
nhận thấy sản xuất TBCN còn thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế đến mức độ nhất định
thì các nước đi theo con đường XHCN lại không có lý do gì không giám sử dụng nó
như một thành phần kinh tế nhiều thành phần. Tất nhiên là dưới sự dẫn dắt của
thành phần kinh tế nhà nước theo định hướng XHCN .
2-Thiết lập từng bước QHSX XHCN từ thấp đến cao với sự đa dạng về hình
thức sở hữu
Phải tuỳ theo trình độ phát triển của LLSX mà thiết lập hình thức QHSX sao
cho phù hợp. Phải chống tư tưởng nóng vội muốn xoá bỏ ngay chế độ tư hữu và xác
lập ngay chế độ công hữu về TLSX với hình thức và quy mô quá lớn. Xuất phát từ
một nền kinh tế lạc hậu, chúng ta phải thừa nhận sự tồn tại lâu dài của nhiều thành
phần kinh tế, phải phát huy tích cực cơ cấu kinh tế nhiều thành phần kể cả thành
phần kinh tế tư nhân TBCN nhưng phải xây dựng kinh tế quốc doanh và kinh tế tập
thể ngày càng lớn mạnh để trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân. Phải phát
triển kinh tế hàng hoá theo định hướng XHCN, vận hành theo cơ chế thị trường có
sự quản lý của nhà nước. Phải thực hiện hình thức phân phối, lấy phân phối theo kết quả lao động và
hiệu quả kinh tế làm chủ yếu.

Đi lên CNXH ở nước ta đoì hỏi trước hết là đổi mới tư duy nhận thức về
CNXH và con đường đi lên XHCN ở Việt Nam ngày một rõ ràng và đầy đủ hơn. có
ý nghĩa bảo đảm cho hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội cụ thể trong sự nghiệp xây
dựng và phát triển đất nước.
Nhận thức bao giờ cũng là quá trình đi lên từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa
hoàn thiện đến hoàn thiện. Hơn nữa CNXH là một hiện tượng mới mẻ, đang vận
động, hình rhành trong lịch sử loài người. Bởi vậy bám sát thực tiễn nghiên cứu,
tổng kết thực tiễn để phát triển lý luận đó là yêu cầu to lớn mà thực tiễn đặt ra cho
hoạt động của Đảng ta hiện nay. Tài liệu tham khảo

1. Giáo trình triết học Maclênin
2. Tạp chí cộng sản số 5 - 96
3. Tạp chí cộng sản số 3 - 2001
4. Tập bài giảng triết học Maclênin
Tập II chủ nghĩa DVLS Mục lục
A, Phần mở đầu: 1
B, Phần nội dung:
Chương I: Lý luận hình thái kinh tế - xã hội :
1. Khái niệm hình thái kinh tế xã hội 2
2. Sự phát triển của các hình thái kinh tế xã hội 2
Chương II Sự lựa chon con đường xây dựng CNXH ở Việt Nam
1. Quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN ở nước ta 4
2. Sự lựa chọn con đường xây dựng CNXH ở nước ta 5
 Định hướng xây dựng CNXH ở nước ta: Đúng hay chệch?


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status