Huy động vốn và sử dụng vốn tại Công ty Tài chính Dầu khí -PVFC- - Pdf 11

Trờng đại học kinh tế quốc dân
Bộ môn Kinh tế Đầu t
----- *** -----
Chuyên đề thực tập
Đề tài:
Huy động vốn và sử dụng vốn tại Công ty
Tài chính Dầu khí (-PVFC-).
Giáo viên h ớng dẫn : TS. Từ Quang Phơng
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Hữu Hùng
Lớp : Kinh tế Đầu t 45B.
1
Hµ Néi, th¸ng 04/2007
LỜI MỞ ĐẦU
Công ty Tài chính Dầu khí được thành lập vào ngày 19/06/2000 và
ngày 25/10/2000 được Ngân hàng nhà nước Việt Nam cấp giấy phép
hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu tín dụng của Tổng công ty Dầu khí
Việt Nam (nay là Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam) và các đơn vị
thành viên, giúp Tập đoàn tìm kiếm, khơi thông các nguồn vốn trong nước,
thu hút vốn nước ngoài và quản lý một cách tối ưu các nguồn vốn đầu tư.
Tuy nhiên, các hoạt động huy động vốn và sử dụng vốn của Công ty
Tài chính Dầu khí còn những hạn chế chưa thực sự đáp ứng hết được
yêu cầu đặt ra, trong thời kỳ mới, thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế và đặc biệt
là khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên của WTO. Vì vậy
để góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh nói chung cũng như
hoạt động đầu tư phát triển Công ty Tài chính Dầu khí nói riêng, thì việc tăng
cường huy động và sử dụng vốn tại Công ty tài chính Dầu khí là một tất yếu
khách quan. Xuất phát từ thực tế đó, tôi chọn đề tài: “Huy động vốn
và sử dụng vốn tại Công ty Tài chính Dầu khí -PVFC-”.
Kết cấu chuyên đề như sau:
Chương I: Thực trạng hoạt động thu hút vốn và sử dụng vốn tại
Công ty Tài chính Dầu khí.

- Hoạt động mạnh ở một số lĩnh vực
Ngân hàng Thương mại, tham gia trực
tiếp trên thị trường chứng khoán,...
3
- Được nhận tiền gửi không kỳ hạn
và thực hiện dịch vụ trung gian
thanh toán.
- Công ty Tài chính hoạt động như một
Ngân hàng trong huy động vốn ngắn
hạn và dịch vụ trung gian thanh toán.
- Đặc điểm của Công ty tài chính:
+ Về mặt tổ chức: Các Công ty Tài chính là một tổ chức kinh doanh
chuyên nghiệp trên thị trường tài chính, hạch toán độc lập.
+ Về hoạt động: Khác với các NHTM được hoạt động cả 3 khâu:
nhận tiền gửi, cho vay và thanh toán, hoạt động của các Công ty Tài chính
hẹp hơn, giới hạn ở một số khâu và mang tính chuyên biệt trong một số
nghiệp vụ nhất định. Đặc biệt Công ty Tài chính không được nhận tiền gửi
không kỳ hạn hoặc ngắn hạn, không được thực hiện nghiệp vụ thanh toán.
Các Công ty Tài chính huy động vốn bằng cách phát hành các công cụ nợ
(kỳ phiếu, trái phiếu) và dùng số tiền đã để cho vay hoặc đầu tư.
- Vai trò của Công ty tài chính:
Xét về tổng thể, Công ty Tài chính đã đem lại lợi ích thiết thực cho cả
nền kinh tế xã hội. Với tính chất là một tổ chức tài chính chuyên môn hoá cao
Công ty Tài chính có những lợi thế như sau:
+ Giúp những khách hàng của mình tiết kiệm được các chi phí về thông
tin và giao dịch khi cung ứng hoặc sử dụng các nguồn vốn.
+ Giảm thiểu các rủi ro cho những người cung ứng vốn cho thị trường
nhờ những nghiệp vụ về tài sản có của Công ty Tài chính.
+ Công ty Tài chính là kênh dẫn vốn có tính chất chuyên môn hoá trong
việc thu hút và đầu tư các khoản vốn trung và dài hạn; Công ty Tài chính

270 ngày), trái phiếu trung và dài hạn trên thị trường tài chính.
5
(Nguồn:Http//www.ibm.com)
- Các Công ty Tài chính trong Tập đoàn LG
Tập đoàn LG (Lucky Glodstar) được thành lập năm 1947 với Công ty
đầu tiên Lak Hui Chemical Industry (nay là LG Chemical Ltd). Tập đoàn LG
đặt mục tiêu Tổng doanh thu năm 2005 là 100 tỷ đôla trong đã LG Điện tử
đạt doanh thu 31.8 tỷ đôla.
- LG Capital được thành lập năm 1987 với tên ban đầu là LG Credit
Card Co., Ltd, hoạt động cung cấp dịch vụ thẻ tín dụng; đến năm1999 đổi
tên thành LG Capital. Hiện nay LG Capital là một trong những nhà cung
cấp các dịch vụ tài chính - tín dụng hàng đầu ở Hàn Quốc với tổng kinh
doanh năm 2005 là 2,8 tỷ USD, doanh số đạt 41 tỷ USD và có 31 chi
nhánh, 26 văn phòng đại diện với 3.500 nhân viên.
(Nguồn: Http//www.lg.com)
- Các Công ty Tài chính trong Tập đoàn Samsung
Tập đoàn Samsung được thành lập vào năm 1938 tại Hàn Quốc. Các
Công ty cung cấp dịch vụ tài chính trong Tập đoàn Samsung gồm Công ty
Bảo hiểm Nhân thọ (Samsung Life insurance), Công ty Bảo hiểm Hoả hoạn
và Hàng hải (Samsung Fire & Marine insurance). Công ty Vốn (Samsung
Capital), Công ty Quản lý Đầu tư Tín thác (Samsung Investment Trust
Management) và Công ty Đầu tư mạo hiểm (Samsung Venture Investment).
Hàng năm, các định chế tài chính đãng góp trên 25% tổng doanh thu của Tập
đoàn và Samsung đang có kế hoạch hợp nhất tất cả các Trung gian tài chính
thành một Công ty Samsung Finance.
(Nguồn: Http//www. samsung. com)
- Bài học kinh nghiệm rút ra cho cho các công ty tài chính ở Việt Nam.
+ Công ty Tài chính trong tập đoàn là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế
thị trường và là bước phát triển cao hơn của các TĐKT, góp phần làm đa dạng
hóa các dịch vụ tài chính và các loại hình tổ chức tín dụng. Sự ra đời của các

tại Nghị định số 38/CP ngày 30/5/1995. PetroVietnam hoạt động theo
tinh thần Nghị định 91/TTg của thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng và
phát triển Tập đoàn kinh doanh mạnh ở Việt Nam; Định hướng phát triển
ngành dầu khí Việt Nam đến năm 2020 xác định: “công nghiệp dầu khí
Việt Nam cần được tổ chức thành tập đoàn kinh doanh mạnh hoàn chỉnh,
đồng bộ từ khâu đầu đến khâu cuối và thực sự trở thành một tổ hợp lớn bao
gồm thăm dò, khai thác, vận chuyển, tàng trữ, phân phối, xuất nhập khẩu,
chế biến, tiêu thụ sản phẩm”.
Với tiền thân là Tổng cục Dầu khí, Tổng công ty Dầu mỏ và Khí đốt
Việt Nam, Tổng công ty Dầu khí Việt Nam; Tập đoàn Dầu khí Quốc gia
Việt Nam (Petrovietnam) được hình thành theo quyết định số 198/2006/
QĐ-TTg ngày 29/08/2006 của Thủ tướng Chính phủ. Hiện nay với hơn 50
đơn vị thành và các công ty liên doanh, lực lượng lao động với hơn 22.000
người và doanh thu 2006 đạt 174.300 tỷ đồng (khoảng 11 tỷ đô la Mỹ),
Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực Dầu khí và
các lĩnh vực khác không chỉ ở lãnh thổ Việt Nam mà cũng cả ở nước ngoài.
Là Tập đoàn dầu khí quốc gia thuộc quyền quản lý của Nhà nước,
Petrovietnam được giao nhiệm vụ triển khai thực hiện toàn bộ các hoạt động
liên quan đến việc phát hiện, khai thác và làm gia tăng giá trị của nguồn
tài nguyên dầu khí tại Việt Nam. Kể từ khi được thành lập, hoạt động
kinh doanh của Petrovietnam đã phát triển mạnh mẽ và rộng khắp, mang lại
hiệu quả cao từ khâu đầu đến các khâu sau.
Bên cạnh những thành tựu đáng ghi nhận, hoạt động đầu tư và cơ cấu
đầu tư vẫn còn một số hạn chế. Mặc dù quy mô vốn đầu tư phát triển tăng
nhưng nguồn vốn đầu tư vẫn chưa đảm bảo tính hợp lý tuy đã điều chỉnh
cơ cấu kinh tê theo hướng phát huy lợi thế có tính đặc thù, tăng khả năng
cạnh tranh trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu hội nhập với khu vực và
8
quốc tế. Nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng quy mô vốn đầu tư.
Tuy vậy, bản thân nguồn vốn này lại có những hạn chế làm ảnh hưởng

Tên gọi tắt: PVFC
PVFC có trụ sở chính tại 72F Trần Hưng Đạo, Quận Hoàn Kiếm,
Thành phố Hà Nội; Ngoài ra Công ty còn có mạng lưới các Chi nhánh,
Phòng giao dịch tại Hà Nội, Thành Phố Hồ Chí Minh, Thành Phố Vũng Tàu,
Thành Phố Đà Nẵng, và hiện đang tiếp tục mở rộng thêm các chi nhánh tại
Hải Phòng, Nam Định, Nghệ An và Thanh Hoá. Tổng số cán bộ của Công ty
đến ngày 30/06/2006 là hơn 400 người với 85% có trình độ từ Đại học trở lên,
trong đó có 3% có trình độ trên Đại học và có độ tuổi trung bình 27 - 28 tuổi.
- Cơ cấu tổ chức và chức năng của các phòng ban chức năng:
• BAN GIÁM ĐỐC
• VĂN PHÒNG
• PHÒNG QUẢN LÝ VỐN UỶ THÁC ĐẦU TƯ
• PHÒNG QUẢN LÝ DÒNG TIỀN
• PHÒNG THU XẾP VỐN VÀ TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP
• PHÒNG DỊCH VỤ VÀ TÍN DỤNG CÁ NHÂN
• PHÒNG DỊCH VỤ TÀI CHÍNH
• PHÒNG ĐẦU TƯ
• PHÒNG GIAO DỊCH TRUNG TÂM
• PHÒNG THẨM ĐỊNH ĐỘC LẬP
• PHÒNG QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ ĐẦU TƯ
• PHÒNG TỔ CHỨC NHÂN SỰ VÀ TIỀN LƯƠNG
• PHÒNG KẾ HOẠCH VÀ THỊ TRƯỜNG
• PHÒNG KẾ TOÁN
• PHÒNG KIỂM TRA KIỂM SOÁT NỘI BỘ
• KIỂM TOÁN NỘI BỘ
10
• TRUNG TÂM THÔNG TIN VÀ CÔNG NGHỆ TIN HỌC
• TRUNG TÂM ĐÀO TẠO
• BAN CHUẨN BỊ VÀ QUẢN LÝ XÂY DỰNG TRỤ SỞ
• CÁC CHI NHÁNH VÀ VĂN PHÒNG GIAO DỊCH

và giúp việc cho Ban giám đốc Công ty trong lĩnh vực tổ chức, triển khai
cung cấp các dịch vụ tài chính tiền tệ cho Tổng công ty và các tổ chức kinh tế
khác.
o PHÒNG ĐẦU TƯ
Phòng đầu tư là Phòng nghiệp vụ có chức năng tham mưu và giúp việc
cho Ban giám đốc Công ty trong việc nghiên cứu, tổ chức triển khai và quản
lý đầu tư vốn của Công ty vào các dự án và các doanh nghiệp; Nghiên cứu và
triển khai kinh doanh hiệu quả trên thị trường chứng khoán.
o PHÒNG TỔ CHỨC NHÂN SỰ VÀ TIỀN LƯƠNG
Phòng Tổ chức nhân sự và tiền lương là phòng nghiệp vụ có chức năng
tham mưu và giúp việc cho Ban giám đốc Công ty trong việc quản lý và
điều hành các công tác: Tổ chức nhân sự, đào tạo, bồi dưỡng và phát triển
nguồn nhân lực, tiền lương và chế độ chính sách đối với người lao động,
công tác an toàn vệ sinh lao động, bảo hộ lao động của Công ty.
o PHÒNG KẾ HOẠCH VÀ THỊ TRƯỜNG
Phòng Kế hoạch và Thị trường là phòng nghiệp vụ có chức năng tham
mưu và giúp việc cho Ban giám đốc Công ty trong công tác kế hoạch hoá,
12
báo cáo thống kê, đầu tư xây dựng cơ bản và kế hoạch phát triển sản phẩm,
nghiên cứu thị trường và chăm sóc khách hàng.
o PHÒNG KẾ TOÁN
Phòng Kế toán là phòng nghiệp vụ có chức năng tham mưu, giúp việc
cho Ban giám đốc công ty trong tổ chức công tác hạch toán kế toán, quản lý
tài sản tiền vốn, xây dựng, quản lý và thực hiện kế hoạch tài chính của
Công ty.
o PHÒNG KIỂM TRA VÀ KIỂM TOÁN NỘI BỘ
Phòng Kiểm tra, kiểm toán nội bộ là phòng nghiệp vụ có chức năng
tham mưu giúp việc cho Ban giám đốc Công ty trong công tác kiểm tra,
kiểm toán các hoạt động của Công ty bảo đảm được thực hiện đúng các
quy định của pháp luật và của Công ty.

các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước;
- Đàm phán và ký kết các hợp đồng tín dụng trong và ngoài nước cho
các dự án đầu tư của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam và các đơn vị
thành viên theo ủy quyền;
- Phát hành tín phiếu, trái phiếu để huy động vốn trong và ngoài nước
theo quy định của pháp luật; làm đại lý phát hành trái phiếu cho Tập đoàn
Dầu khí Quốc gia Việt Nam và các đơn vị thành viên;
- Nhận ủy thác vốn đầu tư trong và ngoài nước bao gồm cả vốn đầu tư
của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam và các đơn vị thành viên;
- Thực hiện các dịch vụ tài chính tiền tệ theo quy định của pháp luật;
14
- Thực hiện các nghiệp vụ khác theo Luật các tổ chức tín dụng.
1.3. Tình hình hoạt động kinh doanh và đầu tư của Công ty
Tài chính Dầu khí sau 6 năm thành lập (2001-2006)
Từ khi thành lập đến nay, PVFC hoạt động có hiệu quả với tốc độ
tăng trưởng cao và luôn hoàn thành tốt các chỉ tiêu kế hoạch được giao.
Năm 2001, Công ty đạt doanh thu là 16,8 tỷ đồng và lợi nhuận là 2,02 tỷ đồng
năm 2002 doanh thu đã là 64 tỷ đồng, lợi nhuận là 5.1 tỷ đồng. Năm 2003
doanh thu là 105 tỷ đồng và 6 tỷ đồng lợi nhuận. Năm 2004 doanh thu đã
tăng lớn đạt 215 tỷ VNĐ và lợi nhuận là 8.3 tỷ VNĐ với quy mô hoạt động
ngày càng được mở rộng. Năm 2005 doanh thu đạt 421 tỷ đồng và lợi nhuận
29.4 tỷ đồng. Với sự tăng trưởng không ngõng đến năm 2006 doanh thu của
Công ty đã đạt 1.016 tỷ đồng và lợi nhuận đạt 128 tỷ đồng.
Đơn vị tính: Tỷ đồng
TT Chỉ tiêu
Năm
2001 2002 2003 2004 2005 2006
1 Vốn điều lệ 100 100 100 300 300 1.000
2 Tổng tài sản 360 1.231 2.900 4.207 6.877 18.000
3 Số dư huy động

Tài chính Dầu khí vẫn có thể huy động vốn lớn gấp nhiều lần thông qua việc
phát hành trái phiếu, tín phiếu cho các công trình, dự án đầu tư,...
+ Vốn điều lệ:
Vốn điều lệ quyết định rất lớn đến quy mô hoạt động của PVFC. Doanh
số của các hoạt động có liên quan như nghiệp vụ cho vay, nghiệp vụ đầu tư
phụ thuộc nhiều vào số vốn điều lệ của PVFC. Theo quy định của pháp luật,
PVFC chỉ được cho vay một khách hàng không quá 15% vốn tự chủ sở hữu, tỉ
lệ đầu tư, góp vốn, mua cổ phần không quá 40% vốn chủ sở hữu, cho nên với
số vốn điều lệ đủ lớn thì PVFC mới có khả năng phát triển các nghiệp vụ cho
vay, đầu tư và một số nghiệp vụ khác.
Khi mới bắt đầu hoạt động vào cuối năm 2000, PVFC có số vốn điều lệ
là 100 tỷ đồng. Số vốn điều lệ trên tổng nguồn vốn năm 2000 là 96,14%
16
nhưng đến năm 2001 chỉ còn là 27,75% và tiếp theo trong năm 2002 và đến
2003 là 8,12% và 3,45%, sau khi tăng vốn điều lệ thì tỷ lệ này năm 2004 là
7,13% và năm 2005 là 4,36%. Các tỷ lệ này giảm dần thể hiện sự tăng trưởng
mạnh về nguồn vốn. Một trong những sự phát triển nhảy vọt về nguồn vốn
của Công ty tài chính Dầu khí đã chính là việc Công ty được Tổng Công ty
Dầu khí Việt nam và Ngân hàng Nhà nước phê duyệt tăng vốn điều lệ là 300
tỷ vào cuối năm 2004 và tăng tiếp lên 1000 tỷ vào đầu năm 2006. Đây là một
bước tiến mới giúp PVFC tăng cường được qui mô hoạt động, tạo động lực
cho hoạt động kinh doanh của Công ty, giúp PVFC có chỗ đứng vững chắc
trên thị trường tài chính tiền tệ.
+ Các Quỹ và lợi nhuận để lại
Cũng giống như các NHTM, hàng năm Công ty Tài chính Dầu khí
phải trích lợi nhuận sau thuế để lập và duy trì các quỹ, bao gồm: Quỹ dự trữ
bổ sung vốn điều lệ được trích hàng năm (tính theo tỷ lệ trên lợi nhuận sau
thuế); Quỹ đầu tư phát triển; Quỹ dự phòng tài chính và các Quỹ khác theo
quy định của pháp luật.
Ngoài ra, phần lợi nhuận sau thuế của Công ty Tài chính Dầu khí có thể

doanh cho mình, bởi năm 2006 là một năm đánh dấu sự tăng trưởng vượt bậc
của thị trường Tài chính - Ngân hàng với sự cạnh tranh mạnh mẽ. Đây là nền
móng tạo tiền để bước sang năm 2007 Công ty hoàn thành kế hoạch phát triển
mạnh mẽ của mình.
• Hoạt động uỷ thác cho vay
Công ty Tài chính có thể nhận uỷ thác đầu tư từ các cá nhân trong và
ngoài nước có nhu cầu đầu tư dài hạn. Công ty tiếp nhận nguồn vốn uỷ thác
đầu tư của tập đoàn để đầu tư vào các dự án của tập đoàn và các đơn vị
thành viên.
18
Nguồn vốn uỷ thác là nguồn vốn chiếm tỷ trọng chủ yếu trong cơ cấu
nguồn vốn của PVFC hiện nay và đãng một vai trò rất quan trọng đối với hoạt
động cho vay, đầu tư của PVFC. Nguồn vốn này đã khắc phục hạn chế về hạn
mức cho vay, đầu tư đối với một khách hàng. Ngoài vốn vay và vốn chủ sở
hữu, đây là nguồn vốn cho vay chủ yếu của PVFC. Nguồn vốn này được thực
hiện dưới nhiều hình thức: Các NHTM, các tổ chức kinh tế uỷ thác cho PVFC
để cho vay uỷ thác các dự án lớn của Chính phủ và của ngành Dầu khí hoặc
PetroVietnam giao số vốn uỷ thác cho PVFC để thực hiện các hợp đồng cho
vay uỷ thác.
b. Nghiệp vụ đầu tư
a. Đầu tư tài chính
Công ty Tài chính Dầu khí dùng vốn tự có của mình để góp vốn, mua
cổ phần, liên doanh của các doanh nghiệp trong nền kinh tế.
Đầu tư chứng khoán là hoạt động mang lại lợi nhuận quan trọng thứ hai
sau nghiệp vụ cho vay, nó giúp cho các Công ty Tài chính Dầu khí nâng cao
khả năng thanh toán, bảo tồn ngân quỹ, đa dạng hoá các hoạt động kinh doanh
nhằm phân tán rủi ro và nâng cao hiệu quả hoạt động.
Số lượng vốn đầu tư của PVFC năm 2001 đạt 37,625 tỷ đồng chiếm tỷ
trọng 18,07% so với tổng số vốn cho vay và đầu tư, tỷ trọng này đã giảm đi
trong năm 2002 và chỉ còn lại là: 3,94% và năm 2003 tỷ trọng này chỉ còn là

đầu tư tin tưởng vào năng lực đầu tư và quản lý của mình, bằng cách giới
thiệu kết quả đầu tư và hiệu quả sử dụng vốn của mình, xây dựng danh mục
đầu tư, đưa ra các cơ hội đầu tư hấp dẫn, và thay mặt họ đầu tư vào các dự án,
doanh nghiệp và quản lý dòng tiền doanh nghiệp.
Năm 2006 cũng là năm khẳng định thương hiệu Tài chính Dầu khí
trong hoạt động uỷ thác đầu tư. Tổng giá trị uỷ thác đầu tư cuối kỳ đạt 835 tỷ
20
đồng, tăng 835 tỷ so với thời điểm cuối năm 2005 với số lượng khách hàng và
giá trị đăng ký uỷ thác đầu tư qua PVFC luôn gấp rất nhiều lần so với tổng giá
trị vốn thực hiện uỷ thác đầu tư.
d. Nghiệp vụ Bao thanh toán
Nghiệp vụ bao thanh toán là một hình thức chiết khấu chứng từ được
thực hiện thông qua việc tài trợ tín dụng của Công ty Tài chính đối với các
doanh nghiệp, theo đã Công ty Tài chính mua lại hoá đơn ghi lại các khoản nợ
phải thu của các doanh nghiệp phát sinh từ việc bán hàng trả chậm, thực hiện
việc quản lý sổ sách kế toán, thanh toán trước tiền mặt cho các doanh nghiệp.
Nghiệp vụ bao thanh toán mang lại hiệu quả lớn trong việc tài trợ thanh
toán hàng hoá bán ra của các doanh nghiệp, đặc biệt trong lĩnh vực xuất nhập
khẩu và thông qua đã thúc đẩy các quá trình thanh toán nhanh chóng hơn. Lợi
ích của người bán hàng là có thể thu hồi được vốn ngay khi xuất trình hoá đơn
bán hàng cho Công ty Tài chính. Ngay cả khi khách hàng chưa có nhu cầu sử
dụng vốn ngay sau khi bán hàng thì những thoả thuận bao thanh toán cũng
vẫn sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà sản xuất dự tính được luồng tiền
vào và lên kế hoạch kinh doanh cho tương lai.
Với nghiệp vụ bao thanh toán, Công ty Tài chính có thể cấp tín dụng
dài hạn hơn cho khách hàng. Ngoài ra, khách hàng nghiệp vụ bao thanh toán
có thể tránh được những rủi ro mất vốn khi đối tác không trả nợ, bởi các Công
ty Tài chính đã mua lại các quyền đòi nợ của họ theo cách thức không truy
đòi, họ có thể sử dụng ngay số tiền do Công ty Tài chính trả.
e. Nghiệp vụ Quản trị rủi ro

các dự án tiêu biểu sau:
* Dự án đường ống khí Rạng Đông Bạch Hổ: Tổng giá trị thu xếp 24
triệu USD.
* Dự án mua tàu trở dầu thô: 33 triệu USD.
22
* Dự án xây dựng cảng đạm Phú Mỹ: 15 triệu USD.
* Dự án đường dây 220KV Tuyên Quang - Thái Nguyên: 100 tỷ VNĐ.
- Các dự án tiêu biểu mà PVFC tham gia góp vốn đầu tư dự án và góp
vốn mua cổ phần với tư cách là cổ đông chiến lược:
* Dự án nhà máy thuỷ điện Vĩnh Sơn - Sông Hinh.
* Dự án tàu FPSO.
* Nhà máy nhiệt điện Phả Lại.
* Nhà máy thuỷ điện Nậm chiến 1+2.
* Công ty xây lắp điện 1.
* Ngân hàng HABUBANK.
* Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình.
* Ngân hàng toàn cầu Gbank.
* Khu du lịch sinh thái bảo tồn thiên nhiên Đảo Ngọc Hoà Bình.
- PVFC là đại lý phát hành trái phiếu của doanh nghiệp:
Phát hành trái phiếu dầu khí đợt 1 năm 2003: Tổng giá trị phát hành là
300 tỷ đồng.
* Phát hành trái phiếu Tài chính Dầu khí đợt 1 năm 2006: Tổng giá trị
phát hành 690 tỷ đồng.
* Đang tiến hành phát hành trái phiếu quốc tế của PetroVietnam,
dự kiến khoảng 200 triệu USD.
- PVFC tư vấn chuyển đổi doanh nghiệp: Cổ phần hoá, công ty TNHH
một thành viên cho một số công ty sau:
* Công ty dịch vụ khoan và hoá phẩm dầu khí (DMC)
* Công ty dịch vụ khoan dầu khí (PVD)
* Công ty dịch vụ du lịch dầu khí (PETROSETCO)

24
a. Hạn chế
Qua việc phân tích thực trạng áp dụng nghiệp vụ của PVFC, các hạn
chế và nguyên nhân của từng nghiệp vụ cụ thể đã được thể hiện tương đối rõ
ràng, tuy nhiên để có thể đánh giá một cách toàn diện về việc thực trạng áp
dụng các nghiệp vụ của PVFC, xin được đưa ra một số các hạn chế sau:
* Về các nghiệp vụ huy động nguồn vốn
Nguồn vốn huy động chủ yếu của PVFC là nguồn vốn nhận uỷ thác và
vay các tổ chức tín dụng, nguồn vốn huy động trực tiếp của các tầng lớp dõn
cư chiếm một tỷ lệ rất nhỏ, trong khi đã các NHTM thu hút được một khối
lượng vốn rất lớn từ những khách hàng này, đồng thời nguồn vốn này được
đánh giá là rẻ hơn so với một số nguồn vốn huy động bằng các hình thức
khác. Đây là một trong những bất lợi của các Công ty Tài chính nói chung.
Mặt khác PVFC cũng chưa có biện pháp hợp lý trong việc huy động vốn từ
các doanh nghiệp thành viên ở các tỉnh thành xa trụ sở Công ty cũng như
chưa có được phương thức cạnh tranh hữu hiệu với các NHTM trong việc huy
động tiền gửi có kỳ hạn của Cán bộ công nhân viên trong nội bộ
PetroVietnam
* Về nghiệp vụ cho vay
Từ thực trạng huy động vốn chưa cao dẫn đến mức cung ứng vốn cho
hoạt động kinh doanh, đầu tư của PVFC trong những năm qua chưa tương
ứng so với nhu cầu. Đồng thời mức cung ứng vốn có xu hướng tăng chậm do
bị giới hạn về hạn mức cho vay đối với một khách hàng; trong đã dư nợ cho
vay trung và dài hạn chiếm tỷ trọng khiêm tốn; chủ yếu đáp ứng nhu cầu vốn
lưu động cho các doanh nghiệp thành viên; số vốn cho vay trung, dài hạn
được đáp ứng chủ yếu là thông qua hình thức uỷ thác đầu tư.
* Về nghiệp vụ đầu tư
Hoạt động đầu tư tài chính còn nhỏ bé chưa thể hiện đãng chức năng và
vai trò của một Công ty Tài chính. Các danh mục đầu tư còn hạn chế, chưa
mạnh dạn nghiên cứu đưa thêm các danh mục mới, với sự tăng trưởng ngày


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status