Báo cáo " Buôn bán nội gián trong hoạt động của các công ti trên thị trường chứng khoán" - Pdf 11



nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 23

buôn bán nội gián trong
hoạt động của các công ti
trên thị trờng chứng khoán PGS. PTS. Lê Hồng Hạnh *
1. Những cơ sở lí luận và thực tiễn
của việc quy định tội buôn bán nội gián
Buôn bán nội gián là hành vi vi phạm
pháp luật gắn liền với hoạt động của công
ti - loại hình doanh nghiệp phổ biến ở các
nớc có nền kinh tế thị trờng và thị
truờng chứng khoán. Cùng với việc
chuyển sang nền kinh tế thị trờng và sự
hình thành tất yếu của thị trờng chứng
khoán trong tơng lai gần, hệ thống pháp
luật nớc ta chắc chắn phải đối mặt với
hành vi buôn bán nội gián. Vì lí do đó,
nghiên cứu hành vi buôn bán nội gián và
quy định các hình thức trách nhiệm pháp
lí để đón đầu hiện tợng này là điều cần
thiết.
* Sự tồn tại của buôn bán nội gián có
những nguồn gốc kinh tế và x hội của
nó. Trớc hết phải nhận thấy rằng buôn
bán nội gián gắn liền với hoạt động của

sở cho sự xuất hiện các công ti. Năm
1990, bằng việc ban hành Luật công ti,
loại hình doanh nghiệp có vốn góp này đ
có thêm đợc những cơ sở pháp lí để tồn
tại. Vì thế, trong thời gian rất ngắn, một
số lợng khá lớn công ti cổ phần đ đợc
thành lập ở nớc ta. Tiếp đó, do chủ
trơng cải cách doanh nghiệp nhà nớc
thông qua chơng trình cổ phần hoá
doanh nghiệp nhà nớc, sự phát triển của
công ti đợc đẩy nhanh hơn. Nh vậy,
điều chúng ta có thể khẳng định là trong
* Trờng đại học luật Hà Nội nghiên cứu - trao đổi
24 - Tạp chí luật học

thời gian tới, công ti sẽ là chủ thể quan
trọng của nền kinh tế của đất nớc và sự
đối mặt của hệ thống pháp luật với những
vi phạm pháp luật liên quan đến công ti là
điều tất yếu. Điều này rất dễ giải thích cả
về lí luận và thực tiễn.
Về lí luận, bên cạnh những tính u
việt của mình, công ti cũng hàm chứa
trong đó những mặt tiêu cực nhất định.
Do công ti thuộc về nhiều chủ sở hữu và
mỗi chủ sở hữu chỉ chịu trách nhiệm hữu
hạn trong phạm vi phần vốn góp của

chứng khoán mà trong đó các công ti sẽ
là chủ thể tích cực. Sự ra đời của thị
trờng chứng khoán sẽ mang lại nhiều lợi
ích cho nền kinh tế của đất nớc. Tuy
nhiên, với những đặc thù và tính phức tạp
vốn có, thị trờng chứng khoán cũng là
môi trờng tốt cho sự xuất hiện của nhiều
hành vi phạm pháp luật mới mà hệ thống
pháp luật nớc ta cha biết đến. Vì vậy,
việc nghiên cứu và tìm cách đa vào pháp
luật nớc ta những quy định về các hành
vi vi phạm pháp luật liên quan tới hoạt
động chứng khoán của công ti là điều cần
thiết. Trong số các vi phạm phổ biến diễn
ra trong các công ti khi tham gia thị
trờng chứng khoán có hành vi buôn bán
nội gián.
* Nhiều vi phạm của công ti đợc
pháp luật nhận diện đúng và có phản ứng
thích hợp. Đối với các loại vi phạm pháp
luật nh tham ô tài sản công ti, kí kết hợp
đồng vô hiệu gây thiệt hại, trốn thuế, lừa
dối khách hàng, lừa dối chủ nợ, pháp luật
đ có những hình thức trách nhiệm pháp
lí thích hợp. Tuy nhiên phải thừa nhận
rằng hệ thống pháp luật kinh tế nớc ta,
đặc biệt là Luật công ti cha đáp ứng
đợc với nhu cầu ngăn chặn các hành vi
vi phạm pháp luật diễn ra trong các công
ti. Các quy định của Luật công ti 1990

trờng;
- Hành vi buôn bán nội gián có thể tạo
ra những cú sốc trên thị trờng chứng
khoán. Việc cổ phần của công ti tự nhiên
đợc mua hoặc đợc bán ra một cách ồ ạt
sẽ dẫn tới sự tăng hay giảm giá cổ phần
bất bình thờng, đặc biệt là đối với những
công ti có thị phần chứng khoán lớn. Sự
chao đảo của thị trờng chứng khoán có
tác hại lớn đến nền kinh tế;
- Hành vi buôn bán nội gián gây
những tổn thất về lợi nhuận cho công ti
có chứng khoán đợc mua, bán.
- Buôn bán nội gián vi phạm những
nguyên tắc cơ bản của thị trờng chứng
khoán là nguyên tắc công khai
(disclosure) và trung thực (fairness).
- Hành vi buôn bán nội gián phá vỡ
những nguyên tắc quan trọng trong mối
quan hệ nội bộ giữa viên chức công ti với
các cổ đông và với bản thân công ti, theo
đó các viên chức công ti có nghĩa vụ
trung thành hết mực với cổ đông và công
ti, quan tâm cao nhất đến lợi ích của công
ti
Việc chống buôn bán nội gián có
những lí do kinh tế và pháp lí của nó.
Trớc hết cần nói đến lí do bắt nguồn từ
đời sống nội bộ của công ti. Do công ti là
thực thể nhân tạo đợc thành lập bởi

quy luật hoạt động của thị trờng hàng
hoá thông thờng không thể áp dụng đối
với thị trờng chứng khoán. Thị trờng
này hoạt động theo những nguyên tắc
riêng của nó. Trong số đó nổi bật lên là
nguyên tắc công khai. Nguyên tắc công
khai đòi hỏi các chủ thể tham gia thị
trờng chứng khoán phải công khai tình
hình tài chính, tình hình hoạt động kinh
doanh của mình cũng nh những thông
tin có khả năng ảnh hởng tới giá chứng
khoán. Tác dụng của việc áp dụng
nguyên tắc này là tạo ra sự bình đẳng
giữa các chủ thể tham gia chứng khoán nghiên cứu - trao đổi
26 - Tạp chí luật học

trong việc tiếp cận các thông tin có liên
quan đến giá cả của chứng khoán, ngăn
ngừa việc thao túng thị trờng chứng
khoán, đầu cơ, trục lợi từ việc kinh doanh
chứng khoán. Nguyên tắc này đợc hệ
thống pháp luật của nhiều nớc thể chế
hoá thành những hành vi cụ thể mà các
chủ thể tham gia thị trờng chứng khoán
không đợc thực hiện. Buôn bán nội gián
là một trong những hành vi bị cấm đó.
Buôn bán nội gián là sự vi phạm nguyên

công chúng biết đợc thông tin này, giá
chứng khoán công ti AX đ tăng tới
120.000đ/chứng khoán. A bán ra thị
trờng số chứng khoán đ mua đợc và
thu đợc khoản tiền lớn. A đ thực hiện
hành vi buôn bán nội gián. Buôn bán nội
gián có thể xảy ra với việc bán chứng
khoán. Cũng trong ví dụ trên, do giữ
cơng vị là giám đốc công ti nên A biết
công ti AX sắp sửa bị sáp nhập. A nhanh
chóng bán các chứng khoán của công ti
AX mà hiện A đang nắm. A biết chắc
rằng khi bị sáp nhập, chứng khoán của
công ti AX sẽ mất giá. A bán giá chứng
khoán với giá 100.000đ/chứng khoán. Sau
khi thông tin về sự sáp nhập đợc công
bố cho công chúng thì chứng khoán của
công ti AX đ giảm xuống còn
70.000đ/chứng khoán. A đ thu đợc
khoản lợi từ việc buôn bán nội gián.
Tơng tự nh buôn bán nội gián, buôn
bán ngoại gián cũng là vi phạm gắn liền
với những ngời có trách nhiệm trong
công ti. Buôn bán ngoại gián là việc
ngời có chức trách của công ti này mua
bán chứng khoán của công ti khác nhờ
vào việc sử dụng thông tin về công ti đó
mà ngời đó có đợc vì có chức trách
trong công ti. Cũng với ví dụ trên, Trần A
nhờ cơng vị của mình nên biết đợc

cả để thực hiện các giao dịch chứng
khoán nhằm trục lợi. Vì vậy, trong khi
xác định trách nhiệm pháp lí, pháp luật
các nớc không có sự phân biệt hai biến
dạng này của buôn bán nội gián.
Buôn bán nội gián bị coi là vi phạm
pháp luật nghiêm trọng theo pháp luật
nhiều nớc. Tuy nhiên, cách tiếp cận của
mỗi nớc trong việc xác định trách nhiệm
pháp lí đối với hành vi buôn bán nội gián
tơng đối khác nhau. Điểm tơng đối phổ
biến là pháp luật của phần lớn các nớc
quy định trách nhiệm hình sự đối với
hành vi buôn bán nội gián trong các đạo
luật về công ti hay trong các đạo luật về
chứng khoán chứ không phải trong bộ
luật hình sự.
ở Australia, để xác định hành vi buôn
bán nội gián, pháp luật chú trọng đến việc
xác định ai là ngời nội gián. Ngời nội
gián, theo Mục 1002G Luật công ti
Australia là ngời:
- Đang nắm giữ thông tin mà công
chúng không thể đợc biết và một ngời
bình thờng hiểu rõ rằng nếu công chúng
biết thông tin này thì sẽ có ảnh hởng
thực sự đến giá trị của chứng khoán của
một công ti; và
- Ngời này biết hoặc phải biết rằng,
( i) thông tin này không đợc để cho

năm hoặc cả hai. Hình phạt tiền đối với
các công ti, các pháp nhân có hành vi
buôn bán nội gián là 1.000.000 bảng.
Pháp luật của Anh khi định nghĩa về buôn
bán nội gián chú trọng đến đối tợng, tức
là tới việc định nghĩa thế nào là thông tin
nội gián. Theo pháp luật Anh, thông tin
nội gián đợc định nghĩa nh sau:
a. Thông tin nội gián liên quan đến
một chứng khoán hoặc một nhà phát
hành chứng khoán cụ thể chứ không phải
đến chứng khoán hay nhà phát hành
chứng khoán chung chung;
b. Thông tin cụ thể và chính xác; nghiên cứu - trao đổi
28 - Tạp chí luật học

c. Không công bố ra công chúng;
d. Nếu công bố sẽ có ảnh hởng đến
thị giá của chứng khoán.
Trên cơ sở định nghĩa về thông tin nội
gián, pháp luật Anh đa ra những hạn chế
đối với ngời đang nắm giữ thông tin nội
gián nh hạn chế việc mua bán chứng
khoán, hạn chế việc thúc giục ngời khác
mua bán những chứng khoán chịu tác
động của thông tin nội gián. Để xác định
tội buôn bán nội gián, theo pháp luật về

giữa việc tiếp cận thông tin nội gián đợc
với việc ngời nội gián khai thác lợi thế
của thông tin để mua bán chứng khoán.
Khi xác định trách nhiệm pháp lí theo
nguyên tắc 10b-5 của SEC, tức là trách
nhiệm đối với hành vi buôn bán nội gián,
Toà án Mỹ đ đa ra các tiêu chí khác
nhau để xác định. Ví dụ, một số toà án
của Mỹ vận dụng thuyết các tình tiết đặc
biệt (Special fact doctrine) để xác định
trách nhiệm đối với hành vi buôn bán nội
gián. Theo thuyết này thì các tình tiết sau
đây phải đợc chứng minh:
- Ngời nội gián có hành vi mua cổ
phần của cổ đông;
- Ngời nội gián và cổ đông bán cổ
phần có mối liên hệ trực tiếp, tức có sự
mua bán trực tiếp giữa họ;
- Ngời nội gián biết sự kiện hay
thông tin quan trọng về công ti nh việc
sáp nhập hay việc bán tài sản;
- Điều bí mật có ý nghĩa với số phận
của việc bán chứng khoán, tức là nếu nh
ngời bán biết bí mật này họ sẽ không
bán cổ phần của mình.
Các quy tắc của Đạo luật chứng
khoán 1934 và Đạo luật về Uỷ ban chứng
khoán khi áp dụng cho hành vi buôn bán
nội gián bộc lộ nhiều bất cập. Chính vì
vậy, năm 1984 Quốc hội Mỹ ban hành

(SIA - Secuiries Industry Act). Điều 104
của Đạo luật về công nghiệp chứng khoán
quy định trách nhiệm hình sự đối với
hành vi buôn bán nội gián. Phạt tiền tới
mức 50.000 S$ và hình phạt tù tới 7 năm
là trách nhiệm hình sự đợc áp dụng đối
với ngời có hành vi buôn bán nội gián.
Về nhiều khía cạnh, pháp luật điều
chỉnh hành vi buôn bán nội gián ở
Singapore có nhiều nét giống pháp luật
Australia. Điểm khác là pháp luật
Singapore có phân biệt rõ giữa nội gián
trực tiếp và nội gián gián tiếp. Theo pháp
luật Singapore, có năm yếu tố để xác định
hành vi buôn bán nội gián trực tiếp:
- Ngời có liên quan phải là ngời nội
gián ở thời điểm đó;
- Ngời đó đang nắm giữ thông tin
nhạy cảm về giá chứng khoán;
- Ngời đó có đợc thông tin nhờ
cơng vị của mình trong công ti;
- Thông tin không phổ biến cho công
chúng;
- Ngời đó có hành vi buôn bán chứng
khoán của công ti.
Theo Điều 103(1) Đạo luật về công
nghiệp chứng khoán thì ngời nội gián là
ngời trong 6 tháng trớc đó có mối liên
hệ với công ti. Ngời nội gián có thể là
thể nhân và cũng có thể là pháp nhân.

nguyên tắc uỷ thác, tin cậy cao nên pháp
luật coi đó là vi phạm nghĩa vụ pháp lí.
Thứ hai, ngời thực hiện hành vi buôn
bán nội gián đ vi phạm nguyên tắc cơ
bản điều chỉnh hoạt động thị trờng
chứng khoán. Nh đ nêu trên, thị trờng
đợc điều chỉnh bởi một số nguyên tắc
pháp lí đặc thù trong đó có nguyên tắc
công khai. Ngời có hành vi buôn bán nội
gián đ sử dụng thông tin nhạy cảm về
giá để mua bán chứng khoán. Hành vi
này không chỉ tớc đoạt lợi ích của công
ti mà còn gây những xáo động của thị nghiên cứu - trao đổi
30 - Tạp chí luật học

trờng chứng khoán mà nếu không kiểm
soát nổi sẽ dẫn đến những tác hại to lớn.
Hành vi buôn bán nội đ đợc đề cập
đến trong hệ thống pháp luật nớc ta.
Điều 86 Luật doanh nghiệp có quy định
về nghĩa vụ của những ngời quản lí công
ti không đợc tiết lộ những thông tin bí
mật của công ti. Điều 70 Nghị định
48CP/1998/NĐ ngày 11/7/1999 về chứng
khoán và kinh doanh chứng khoán cũng
đề cập hành vi buôn bán nội gián mặc dù
cha định nghĩa thế nào là buôn bán nội

luật này không tham gia thị trờng chứng
khoán. Đạo luật về chứng khoán sẽ là nơi
thích hợp cho việc quy định tội buôn bán
nội gián. Tuy nhiên, triển vọng ban hành
đạo luật này còn xa trong lúc đất nớc ta
dự định mở các trung tâm giao dịch
chứng khoán vào đầu năm 2000. Với
những lí do đó, trong khi sửa đổi Bộ luật
hình sự, cần thiết phải bổ sung các quy
định về buôn bán nội gián;
- Khi xây dựng các quy định về buôn
bán, cần phải lu ý đến đặc thù của loại
vi phạm này. Hành vi buôn bán nội gián
kết hợp trong đó việc vi phạm các nghĩa
vụ mang tính nội bộ công ti và sự vi phạm
các quy định pháp luật về thị trờng
chứng khoán. Khi xác định cấu thành của
loại tội này và lợng hoá hình phạt cần
căn cứ vào các quy định pháp luật của
Nhà nớc lẫn cả điều lệ, quy chế của
công ti, nhất là xác định có hay không
hành vi vi phạm pháp luật.
- Hình phạt tiền nên áp dụng mạnh
hơn so với hình phạt tù. Mục đích của
ngời buôn bán nội gián là trục lợi từ
chênh lệch giữa giá chứng khoán trớc và
sau khi thông tin nhạy cảm về giá chứng
khoán đợc công bố. áp dụng hình phạt
tiền ở mức cao có thể loại bỏ đợc động
cơ trục lợi của những ngời muốn thực


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status