1 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: “Các giải pháp nhằm tiết kiệm
chi phí sản xuất kinh doanh và hạ thấp
giá thành sản phẩm của công ty cổ phần
Giầy Hưng Yên.”
2
LỜI NÓI ĐẦU
Trong năm 2006 vừa qua đất nước ta có một sự kiện kinh tế quan trọng
thu hút sự quan tâm của mọi tầng lớp dân cư đặc biệt là các doanh nghiệp. Đó
đề tài: "Các giải pháp nhằm tiết kiệm chi phí sản xuất kinh doanh và hạ
thấp giá thành sản phẩm của công ty cổ phần Giầy Hưng Yên. Em hy vọng
bài chuyên đề sẽ góp phần hoàn thiện hơn nữa tình hình tổ chức thực hiện chi
phí sản xuất kinh doanh và tính giá thành sản phẩm làm cơ sở cho việc tăng
cường hiệu quả sản xuất kinh doanh tại công ty.
Đề tài ngoài phần mở đầu và kết luận gồm có 3 chương
Chương I: Những vấn đề lý luận cơ bản về chi phí sản xuất kinh doanh,
giá thành sản phẩm và các giải pháp tiết kiệm chi phí sản xuất kinh doanh
trong doanh nghiệp sản xuất
Chương II: Tình hình sử dụng và quản lý chi phí sản xuất kinh doanh
tại công ty Cổ phần Giầy Hưng Yên
Chương III: Một số giải pháp tiết kiệm chi phí sản xuất kinh doanh tại
công ty Cổ phần Giầy Hưng Yên.
4
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHI PHÍ SẢN
XUẤT KINH DOANH, GIÁ THÀNH SẢN PHẨM VÀ CÁC
GIẢI PHÁP NHẰM TIẾT KIỆM CHI PHÍ SẢN XUẤT KINH
DOANH TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT.
I. KHÁI NIỆM, NỘI DUNG, PHẠM VI VÀ PHÂN LOẠI CHI PHÍ SẢN
XUẤT KINH DOANH TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT.
1. Khái niệm, nội dung về chi phí trong doanh nghiệp sản xuất.
Hoạt động kinh doanh chủ yếu của các doanh nghiệp sản xuất là tổ chức sản
xuất sản phẩm và tiêu thụ sản phẩm đó trên thị trường nhằm thu được lợi nhuận. Để
tiến hành các hoạt động kinh tế, doanh nghiệp cần huy động và tổ chức sử dụng các
nguồn lực: vật tư, tiền vốn, lao động và các yếu tố liên quan khác phục vụ cho quá
trình sản xuất kinh doanh.
phẩm.
Cuối cùng là chi phí liên quan đến quản lý doanh nghiệp như : chi phí quản
lý hành chính, quản lý kinh doanh, các khoản phí, lệ phí, thuế phải nộp ở khâu mua
hàng hoá, dịch vụ (không kể thuế giá trị gia tăng được khấu trừ đối với doanh
nghiệp nộp VAT theo phương pháp khấu trừ), chi phí sử dụng đất và chi phí khác.
Như vậy từ góc độ của doanh nghiệp chi phí bao gồm các bộ phận: chi phí
sản xuất sản phẩm, chi phí tiêu thụ sản phẩm và các chi phí khác liên quan đến các
hoạt động kinh tế của doanh nghiệp trong một thời kỳ cụ thể.
Chi phí trong kỳ của doanh nghiệp phát sinh hàng ngày, hàng giờ, đa dạng và
phức tạp tác động đến nhiều mặt hoạt động kinh tế của doanh nghiệp. Tuỳ thuộc
vào mục tiêu quản lý chi phí người ta có thể chia chi phí trong kỳ của doanh nghiệp
thành những bộ phận khác nhau.
- Theo loại hình hoạt động thì chi phí của doanh nghiệp bao gồm 2 bộ phận
cơ bản:
- Chi phí sản xuất kinh doanh (SXKD): chi phí SXKD mà biểu hiện bằng
tiền của các chi phí về vật chất, về lao động và về tiền vốn liên quan, phục vụ trực
tiếp hoặc gián tiếp cho hoạt động SXKD thông thường của doanh nghiệp trong một
thời kỳ nhất định. Đây là bộ phận chi phí gắn liền với quá trình mua bán hàng hoá,
cung cấp dịch vụ và hoạt động tài chính của doanh nghiệp. Bộ phận chi phí này bao
6
gồm giá vốn của hàng hoá, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí
trả lãi tiền vay và các chi phí liên quan đến hoạt động sử dụng tài sản sinh lời khác
của doanh nghiệp trong kỳ… Đây là bộ phận chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng chi
phí của doanh nghiệp trong kỳ. Doanh nghiệp cần phải tổ chức quản lý tốt, phấn
đấu giảm chi phí, hạ thấp giá thành của sản phẩm để tăng sức cạnh tranh của doanh
nghiệp.
- Chi phí khác là các chi phí phát sinh ngoài các chi phí SXKD của doanh
nghiệp đã nêu ở trên như: chi phí về thanh lý nhượng bán tài sản cố định, các khoản
tiền phạt về vi phạm hợp đồng kinh tế, vi phạm luật…. Đây là những khoản chi phí
thuế cho Nhà nước. Về nguyên tắc chi phí SXKD được ghi nhận trong báo cáo kết
quả hoạt động SXKD khi các khoản này làm giảm bớt lợi ích kinh tế trong tương lai
có liên quan đến việc giảm bớt tài sản hoặc tăng nợ phải trả và chi phí này xác định
một cách đáng tin cậy.
* Xác định phạm vi chi phí SXKD:
Yêu cầu cơ bản nhất của việc xác định đúng đắn phạm vi chi phí SXKD là
phải tập hợp đầy đủ, chính xác, kịp thời các chi phí phát sinh trong kỳ liên quan đến
hoạt động SXKD thông thường vào chi phí SXKD của doanh nghiệp ở kỳ đó. Về
nguyên tắc chi phí SXKD được bù đắp doanh thu của doanh nghiệp trong kỳ nên
mọi chi phí phát sinh trong kỳ không được bù đắp từ doanh thu của kỳ đó đều
không thuộc vào chi phí SXKD.
Các chi phí phát sinh trong kỳ thuộc vào chi phí SXKD trong kỳ bao gồm:
- Chi phí về vật tư (nguyên liệu, vật liệu, động lực…) biểu hiện bằng tiền của
nguyên, vật liệu, động lực đã sử dụng vào hoạt động SXKD thông thường của
doanh nghiệp trong kỳ.
- Chi phí tiền lương bao gồm: toàn bộ tiền lương, tiền công và các khoản chi
phí có tính chất lương trả cho nguồn lao động.
- Các khoản trích nộp theo quy định hiện hành của Nhà nước như: Bảo hiểm
xã hội, Bảo hiểm y tế, Chi phí công đoàn.
- Khấu hao tài sản cố định: đó là số tiền trích khấu hao tài sản cố định của
doanh nghiệp được tính vào chi phí SXKD của doanh nghiệp ở kỳ hạch toán.
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: là các chi phí phải trả cho các tổ chức, các nhân
bên ngoài doanh nghiệp về các dịch vụ mà họ cung cấp theo yêu của doanh nghiệp
như: chi phí vận chuyển, tiền điện, tiền nước, chi phí kiểm toán, quảng cáo, hoa
hồng đại lý, môi giới, uỷ thác…
8
- Chi phí bằng tiền khác như: thuế môn bài, thuế tài nguyên, chi phí tiếp tân,
hội họp, đi nước ngoài.
- Chi phí dự phòng: là các khoản trích dự phòng giảm giá vật tư, hàng hoá,
Đối với doanh nghiệp sản xuất có thể phân loại chi phí SXKD theo các tiêu
chí sau:
3.1. Phân loại chi phí SXKD
Theo tính chất các khoản chi phí phát sinh, chi phí SXKD của doanh nghiệp
trong kỳ bao gồm:
+Tiền lương, tiền công, phụ cấp lương… trả cho người lao động
+Tiền trả về cung cấp dịch vụ, lao vụ cho các ngành kinh tế khác như: Cước
phí vận chuyển, bốc dỡ hàng hoá, tiền thuê kho bãi, điện thoại , nước, lãi vay trả
cho các tổ chức tín dụng
+ Hao phí vật tư, tài sản: chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí nguyên vật
liệu, …
+Hao hụt tự nhiên của hàng hoá: là các chi phí biểu hiện giá trị của vật tư
hàng hoá bị hao hụt do điều kiện tự nhiên gây ra trong quá trình vận chuyển, bảo
quản và tiêu thụ
+Chi phí khác bao gồm: chi phí giao dịch, hội họp tiếp khách, đồ dùng văn
phòng…
Cách phân loại này giúp doanh nghiệp theo dõi và quản lý các khoản mục chi
phí theo tính chất của chi phí tạo điều kiện tốt cho quá trình kiểm soát từng bộ phận
chi phí cho doanh nghiệp
3.2 Căn cứ vào các khâu kinh doanh của doanh nghiệp
Chi phí SXKD của doanh nghiệp được chia làm các bộ phận chủ yếu sau:
+ Chi phí phát sinh ở khâu mua hàng hoá, dịnh vụ bao gồm các chi phí như:
Trị giá mua của hàng hoá, dịch vụ mua vào, các khoản phí , lệ phí, thuế phát sinh ở
khâu mua, chi phí vận chuyển từ nơi mua hàng đến kho của doanh nghiệp và các chi
phí khác có liên quan tính đến thời điểm đưa hàng hoá vào nhập kho của doanh
nghiệp. Toàn bộ những chi phí này hình thành nên giá vốn của hàng hoá nhập kho
+ Chi phí ở khâu dự trự: Là các chi phí phát sinh liên quan đến quá trình tổ
chức dự trữ hàng hoá trong kỳ của doanh nghiệp như: Bao bì , vật liệu đóng gói,
khấu hao tài sản cố định phục vụ công tác dự trữ hàng hoá, lương của công nhân
+ Chi phí khấu hao tài sản cố định ở bộ phận bảo quản và tiêu thụ hàng hoá
như: kho tàng, cửa hàng, phương tiện vận chuyển, bốc dỡ hàng hoá.
11
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài: chi phí sửa chữa tài sản cố định thuê ngoài, tiền
thuê kho bãi, vận chuyển, bốc dỡ hàng hoá để tiêu thụ, hoa hồng đại lý bán hàng,
hoa hồng uỷ thác xuất khẩu.
+ Các chi phí khác.
- Chi phí quản lý doanh nghiệp là tất cả các chi phí phát sinh ở bộ máy quản
lý chung của doanh nghiệp bao gồm:
+ Chi phí nhân viên quản lý.
+ Chi phí đồ dùng văn phòng.
+ Chi phí khấu hao tài sản cố định ở bộ phận quản lý doanh nghiệp.
+ Thuế, phí, lệ phí.
+ Chi phí bằng tiền khác.
Chi phí quản lý doanh nghiệp là bộ phận chi phí gián tiếp của chi phí SXKD.
Tỷ trọng của bộ phận này trong tổng chi phí SXKD của doanh nghiệp phụ thuộc
vào đặc điểm hoạt động SXKD và trình độ tổ chức quản lý hoạt động SXKD của
doanh nghiệp.
- Chi phí hoạt động tài chính: là các chi phí phát sinh có liên quan và phục vụ
cho việc đầu tư vốn ra ngoài doanh nghiệp nhằm tìm kiếm lợi nhuận.
Cách phân loại này giúp doanh nghiệp tổ chức tốt quá trình hạch toán chi phí
của doanh nghiệp phù hợp với chế độ hạch toán kế toán và kiểm toán hiện hành của
Nhà nước, thuận lợi cho việc kiểm soát chi phí phát sinh ở từng khâu SXKD của
doanh nghiệp trong kỳ, tính toán các chỉ tiêu tài chính quan trọng được dễ dàng,
phát hiện được ưu, nhược điểm của công tác quản lý chi phí trong từng khâu kinh
doanh và bộ phận chi phí hoạt động tài chính riêng biệt.
3.4. Phân loại chi phí SXKD theo tính chất biến đổi của chi phí so với sự biến đổi
của doanh thu.
Chi phí SXKD của doanh nghiệp được chia thành 2 loại:
thời kỳ hạch toán cụ thể, từ đó tính được lợi nhuận của doanh nghiệp trong kỳ. Tuy
nhiên lại không cho ta biết chi phí cho từng loại sản phẩm, dịch vụ cụ thể của doanh
nghiệp. Những điều này rất quan trọng đối với các quyết định đầu tư, quyết định lựa
chọn mặt hàng kinh doanh, lựa chọn chiến lược bán hàng của doanh nghiệp. Nhằm
phát huy mọi tiềm năng của doanh nghiệp, tăng doanh thu, tăng lợi nhuận cho
doanh nghiệp, một chỉ tiêu tài chính quan trọng có cùng bản chất với chỉ tiêu chi phí
sẽ giúp doanh nghiệp giải quyết được những vấn đề trên, đó là chỉ tiêu giá thành sản
phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp.
13
1. Khái niệm giá thành sản phẩm:
Giá thành sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp là toàn bộ chi phí mà doanh
nghiệp đã bỏ ra để hoàn thành việc sản xuất và tiêu thụ một khối lượng sản phẩm
dịch vụ nhất định.
Giá thành sản phẩm, dịch vụ (gọi tắt là giá thành) của doanh nghiệp thể hiện
chi phí cá biệt của doanh nghiệp để hoàn thành việc sản xuất và tiêu thụ một loại
sản phẩm , dịch vụ cụ thể.
Cùng một loại sản phẩm, dịch vụ giống nhau doanh nghiệp nào có trình độ tổ
chức quản lý SXKD tốt hơn, sử dụng trình độ công nghệ cao hơn thì giá thành của
doanh nghiệp đó thấp hơn. Nghĩa là giá thành phản ánh chất lượng và trình độ
SXKD của doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh diễn ra gay gắt doanh nghiệp nào có
chất lượng hàng hoá tốt hơn, giá thành thấp hơn sẽ có sức cạnh tranh cao hơn và
chiếm được thị phần cao hơn, đảm bảo cho doanh nghiệp phát triển tốt, ngược lại
thì doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn, thậm chí dẫn đến phá sản. Do giá thành được
định nghĩa từ khái niệm chi phí, nên giữa chúng có mối liên hệ mật thiết với nhau,
đồng thời cũng có sự khác nhau về quan điểm xem xét trong mối quan hệ với các
yếu tố khác nhau của quá trình SXKD trong doanh nghiệp.
- Giá thành và chi phí đều được biểu hiện bằng tiền của các phí tổn về nguồn
lực của doanh nghiệp trong quá trình SXKD. Tuy nhiên giá thành chỉ biểu hiện phí
lương, chi phí về vật liệu, công cụ, dụng cụ dùng cho sản xuất, chi phí khấu hao
TSCĐ, chi phí dịch vụ mua ngoài và các chi phí khác liên quan đến bộ phận sản
xuất sản phẩm.
* Giá thành toàn bộ của sản phẩm, dịch vụ đã tiêu thụ:
Giá thành toàn bộ của sản phẩm, dịch vụ đã tiêu thụ trong kỳ bao gồm:
- Giá thành sản xuất.
- Chi phí bán hàng.
- Chi phí quản lý doanh nghiệp.
+ Chi phí bán hàng là toàn bộ các chi phí phát sinh từ hoạt động tiêu thụ sản
phẩm, dịch vụ (kể cả chi phí bảo hành sản phẩm).
+ Chi phí quản lý doanh nghiệp là toàn bộ các chi phí phục vụ bộ máy quản
lý điều khiển doanh nghiệp và các chi phí khác liên quan đến quản lý doanh nghiệp.
Giá thành toàn bộ của doanh nghiệp được tính cho một đơn vị sản phẩm,
dịch vụ đã tiêu thụ được gọi là giá thành đơn vị của sản phẩm, dịch vụ đã tiêu thụ.
15
2.2. Theo nguồn gốc số liệu chi phí để tổng hợp giá thành.
Giá thành sản phẩm, dịch vụ bao gồm ba loại:
- Giá thành định mức: là giá thành sản phẩm, dịch vụ được tổng hợp căn cứ
vào các định mức chi phí hiện hành do doanh nghiệp hoặc cơ quan quản lý quyết
định. Nó là một công cụ quan trọng giúp doanh nghiệp quản lý giá thành của mình
đạt được mục tiêu tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, dịch vụ của doanh
nghiệp.
- Giá thành kế hoạch: được tính căn cứ vào kế hoạch doanh thu, kế hoạch sản
lượng và kế hoạch chi phí SXKD của doanh nghiệp. Giá thành kế hoạch là một
công cụ quan trọng để doanh nghiệp kiểm tra quá trình thực hiện kế hoạch giá thành
của mình.
- Giá thành thực tế: là loại giá thành được tập hợp tính toán căn cứ vào số
liệu phát sinh thực tế về chi phí SXKD trong kỳ của doanh nghiệp và số lượng thực
tế sản phẩm, dịch vụ để thực hiện được trong kỳ của doanh nghiệp đó. Giá thành
16
Phạm vi áp dụng: phương pháp này được áp dụng tại các doanh nghiệp vừa
và nhỏ hoặc số lượng mặt hàng kinh doanh của doanh nghiệp là ít như: nhà máy
điện, nước, khai thác khoáng sản
* Phương pháp tổng cộng chi phí
Theo phương pháp này giá thành sản xuất sản phẩm được tính bằng cách
tổng cộng chi phí sản xuất của các bộ phận, các chi tiết khác nhau của bộ phận đó,
hoặc tổng cộng chi phí sản xuất của các giai đoạn, các bộ phận sản xuất cùng tạo ra
sản phẩm đó
Phương pháp này được áp dụng tại các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm
được thực hiện theo các công đoạn khác nhau, theo nhừng chi tiết, bộ phận của sản
phẩm
* Phương pháp hệ số
Theo phương pháp này, trước hết kế toán căn cứ vào hệ số quy đổi sản phẩm
gốc để đưa toàn bộ các loại sản phẩm gốc (hay quy đổi)
Theo công thức sau
Tổng sản phẩm gốc
(đã hoàn thành)
=
∑
i=1
n
Qi-Ki
Trong đó:
Qi: Số lượng sản phẩm loại i đã hoàn thành
Ki: Hệ số quy đổi sản phẩm loại i thành sản phẩm gốc, hệ số này do doanh
nghiệp quy định căn cứ vào đặc điểm tính chất của các loại sản phẩm mà doanh
nghiệp kinh doanh
Bước tiếp theo:
một loại nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu đầu vào, do đó đối tượng hạch toán chi phí
sản xuất trong trường hợp này là toàn bộ chi phí sản xuất sản phẩm của doanh
nghiệp đó, không phân biệt sản phẩm nào
* Phương pháp tỉ lệ (tính giá thành sản xuất của sản phẩm)
Nội dung của phương pháp này như sau:
-Trước hết doanh nghiệp phải xây dựng chỉ tiêu giá thành kế hoạch cho từng
loại sản phẩm cụ thể của mình
-Căn cứ vào tổng giá thành thực tế và tổng giá thành kế hoạch tính theo số
lượng sản phẩm thực tế đã hoàn thành để tính tỷ lệ điều chỉnh giá thành theo công
thức
Tỷ lệ điều chỉnh
giá thành
=
Tổng giá thành thực tế
Tổng giá thành kế hoạch
với sản lượng thực tế
x 100%
Cuối cùng là:
Giá thành sản xuất thực tế
của sản phẩm loại i
=
Giá thành kế hoạch
sản phẩm loại i
x
Tỷ lệ điều chỉnh
giá thành
Điều kiện áp dụng: Phương pháp này được áp dụng khi doanh nghiệp xây
dựng được kế hoạch giá thành đơn vị sản phẩm cho từng loại sản phẩm của mình
thành đã nêu ở trên. Phương pháp này được áp dụng tại các doanh nghiệp có tổ
chức sản xuất kinh doanh phức tạp, kinh doanh nhiều loại sản phẩm, dịch vụ khác
nhau, trên một quy mô lớn, đòi hỏi phải tính giá thành sản phẩm cho nhiều loại sản
phẩm dịch vụ khác nhau với những quy trình công nghệ độc lập
3.Tính giá thành toàn bộ của sản phẩm đã tiêu thụ
Để tính giá thành toàn bộ của sản phẩm đã tiêu thụ sử dụng các công thức
sau:
Giá thành toàn bộ
của sản phẩm
đã tiêu thụ
=
Giá thành
sản xuất
của sản phẩm
+
Chi phí
bán hàng
của sản phẩm
+
Chi phí
quản lý doanh nghiệp
của sản phẩm
Trong đó:
-Giá thành sản xuất của sản phẩm được tính theo một trong các phương pháp
đã nêu ở trên
-Chi phí bán hàng của sản phẩm là: bộ phận chi phí bán hàng đã phân bổ cho
khối lượng sản phẩm đã tiêu thụ tương ứng
-Chi phí quản lý doanh nghiệp của sản phẩm:là bộ phận chi phí quản lý phân
bổ cho khối lượng sản phẩm đã tiêu thụ tương ứng
hợp với tình hình, đặc điểm SXKD của doanh nghiệp
+Làm tốt công tác kế hoạch hoá chi phí và giá thành (bao gồm lập kế hoạch,
tổ chức thực hiện kế hoạch, phân tích đánh giá tình hình thức hiện kế hoạch, tìm các
giải pháp biện pháp quản lý tốt để tiết kiệm chi phí và hạ thấp giá thành ngay cả
trong quá trình thực hiện kế hoạch cũng như cho kỳ kế hoạch tới)
Trong công tác kế hoạch hoá, kế hoạch chi phí và giá thành là một công cụ
quan trọng phục vụ cho việc quản lý chi phí và giá thành.Kế hoạch này được lập ra
nhằm phục vụ cho việc hoàn thành kế hoạch SXKD một cách tốt nhất, đồng thời
phải quán triệt mục tiêu tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm , dịch vụ của doanh
nghiệp .Vì vậy thực hiện tốt công tác kế hoạch hoá chi phí và giá thành đồng nghĩa
với việc thực hiện tốt kế hoạch SXKD , tiết kiệm được chi phí, hạ được giá thành
sản phẩm , dịch vụ của doanh nghiệp. Mặt khác do tiết kiệm được chi phí, hạ được
giá thành sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp nên sản phẩm, dịch vụ của doanh
nghiệp có sức cạnh tranh cao trên thị trường về giá, nếu doanh nghiệp thực hiện
chiến lựơc bán hàng với giá cạnh hợp lý sẽ giúp doanh nghiệp tăng được doanh thu,
một tiền đề quan trọng giúp doanh nghiệp tăng lợi nhuận trong hiện tại và tương lai.
20
Ngoài ra việc loại bỏ những chi phí không cần thiết, chống được hiện tượng lãng
phí trực tiếp làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp, đồng thời giải phóng được vốn
phục vụ đầu tư mở rộng SXKD cho doanh nghiệp. Từ đó nâng cao được hiệu quả
SXKD cho doanh nghiệp
+Trong điều kiện hiện nay của Việt Nam, quản lý tốt chi phí và giá thành
sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp còn rèn luyện được kỹ năng và tác phong lao
động công nghiệp cho từng tập thể lao động và toàn bộ doanh nghiệp, gắn liền với
lợi ích của người lao động với lợi ích của doanh nghiệp, khuyến khích người lao
động thực hành tiết kiệm, cải tiến công tác, có nhiều sáng kiến trong SXKD, tăng
năng suất lao động, tăng hiệu quả SXKD cho doanh nghiệp
Ngược lại, nếu doanh nghiệp tổ chức quản lý chi phí và giá thành không tốt
thì gây hậu quả rất nặng nề cho doanh nghiệp , thậm chí dẫn đến phá sản
3.1. Quản lý chi phí SXKD
Theo cơ chế quản lý chi phí hiện hành của Nhà nước, thì chi phí SXKD của
doanh nghiệp là bộ phận chi phí phát sinh trong quá trình hoạt động SXKD thông
thường của doanh nghiệp, bao gồm: chi phí hoạt động cung cấp sản phẩm (hàng
hoá) và hoạt động dịch vụ, chi phí hoạt động tài chính. Dưới đây sẽ đề cập đến việc
quản lý chi phí SXKD theo 2 loại trên
* Quản lý chi phí hoạt động cung cấp sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp
Đối với bộ phận chi phí này có thể tổ chức quản lý theo các khâu của quá
trình SXKD của doanh nghiệp hoặc các yếu tố chi phí, dưới đây là những nội dung
quản lý chi phí SXKD theo các yếu tố chi phí.
- Quản lý chi phí nguyên, nhiên vật liệu (gọi tắt quản lý chi phí vật tư).
Nguyên tắc chung là phải quản lý chặt chẽ cả hai yếu tố: Mức tiêu hao vật tư và giá
vất tư
+ Về mức tiêu hao vật tư: tất cả các loại vật tư được sử dụng vào hoạt động
SXKD thông thường doanh nghiệp đều cần phải quản lý chặt chẽ theo các định mức
tiêu hao vật tư mà doanh nghiệp đã quy định ở tất cả các khâu SXKD của mình,
đồng thời phải thường xuyên hoặc định kỳ kiểm tra phân tích, đánh giá tình hình
thực hiện các định mức đó. Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu định mức về tiêu hao vật tư
cho phù hợp, tìm ra nhừng yếu tố tiêu cực để khắc phục và yếu tố tích cực để phát
huy nhằm động viên người lao động tích cực tiết kiệm trong SXKD của doanh
nghiệp
22
Hệ thống chỉ tiêu định mức tiêu hao vật tư do doanh nghiệp quyết định căn
cứ vào định mức quy định của cơ quan có thẩm quyền và tình hình sản xuất kinh
doanh thông thường của doanh nghiệp.
+ Về giá trị vật tư, để tính vào giá thành thực tế mua vào ghi trên chứng từ
hoá đơn theo đúng quy định của bộ Tài chính, sau khi đã trừ số tiền đền bù thiệt hại
do các cá nhân, tập thể gây ra, hao hụt định mức cho phép, giá trị phế liệu thu hồi,
số tiền giảm giá mua (nếu có).
Về nguyên tắc,toàn bộ chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp
trong kỳ được kết chuyển vào giá thành toàn bộ (Ztb) của sản phẩm dịch vụ đã tiêu
thụ trong kì đó. Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp có chu kì sản xuất kinh doanh dài
hoặc doanh thu không tương ứng với chi phí bán hàng và chi phí quản lí doanh
nghiệp đã phát sinh, thì được phép phân bổ cho sản phẩm tồn kho và sản phẩm dở
dang theo một tỉ lệ thích hợp.
4. Các chỉ tiêu cơ bản đánh giá tình hình chi phí và giá thành sản phẩm :
4.1. Các chỉ tiêu cơ bản đánh giá tình hình chi phí sản xuất kinh doanh:
* Tổng chi phí sản xuất kinh doanh (F): là toàn bộ chi phí sản xuất kinh
doanh phát sinh trong kì được kết chuyển (phân bổ) cho hàng hoá, dịch vụ đã tiêu
thụ trong kì của doanh nghiệp. Nó phản ánh số phải bù đắp từ doanh thu để tính lợi
nhuận và các chỉ tiêu tài chính quan trọng khác của doanh nghiệp.
Tổng chi phí sản xuất kinh doanh là một số tuyệt đối tính bằng tiền phản ánh
quy mô của chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được bù đắp từ doanh thu
của doanh nghiệp trong kì hạch toán song chưa phản ánh được trình độ sử dụng
nguồn lực của doanh nghiệp phục vụ sản xuất kinh doanh là cao hay thấp. Để khắc
phục điều đó ta sử dụng chỉ tiêu tỉ suất chi phí sản xuất kinh doanh.
* Tỉ suất chi phí sản xuất kinh doanh (F’):
Chỉ tiêu này được xác định theo công thức: F' =
F
M
x 100%
Trong đó, F’ được tính bằng %. Về ý nghĩa kinh tế, nó phản ánh cứ một đồng
doanh thu đạt được trong kì doanh nghiệp phải mất bao nhiêu đồng chi phí.
F’ càng thấp thì hiệu quả kinh doanh càng lớn và ngược lại. Vì vậy, nó được
sử dụng để phân tích, so sánh, xác định thành tích quản lí chi phí sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
24
* Mức độ hạ thấp hoặc tăng tỉ suất chi phí sản xuất kinh doanh (∆F’) và được
∆Z =
∑
i=1
n
Q
i1
x(Z
i1
-Z
i0
)
Trong đó: Qi1 là số lượng sản phẩm dịch vụ loại i tính ở kì so sánh.
Zi1 và Zi0 lần lượt là giá thành đơn vị của sản phẩm, dịch vụ so sánh được ở
kì so sánh và kì gốc.
n là số lượng các loại sản phẩm, dịch vụ so sánh được
* Tỉ lệ tăng giá thành sản phẩm, dịch vụ so sánh được (T’z) được tính theo
công thức:
25
T'z =
∆Z
∑
i=1
n
Q
i1
x Z
i0