Giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm soát nội bộ nghiệp vụ thanh toán vốn tại Chi nhánh NHĐT&PT Cầu Giấy - Pdf 11

Khoá luận tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động kinh doanh Ngân hàng tại Việt Nam đang ngày càng phát triển
mạnh mẽ, cả về chiều rộng và chiều sâu. Các Ngân hàng đang gắng sức
chạy đua để tăng thị phần của mình trong nền kinh tế. Họ luôn cố gắng tìm
biện pháp nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, tạo ra các giá trị gia tăng
mới, đem lại tiện ích cho khách hàng. Bất kỳ một điểm vượt trội nào cũng
đều đem lại ưu thế cạnh tranh cho Ngân hàng.
Nền kinh tế nước ta đang trong giai đoạn phát triển mạnh, nhu cầu trao
đổi, giao lưu thương mại giữa các chủ thể kinh tế, các vùng miền đất nước
và cả ngoài biên giới quốc gia vì thế cũng gia tăng mạnh mẽ. Thanh toán
bằng tiền mặt trở nên hạn chế, và nhu cầu sử dụng các dịch vụ thanh toán
qua Ngân hàng tăng lên. Xuất phát từ nhu cầu đó, và các nhu cầu thanh
toán trong nội bộ ngân hàng hoặc giữa các hệ thống ngân hàng, nghiệp vụ
thanh toán vốn đóng vai trò ngày càng quan trọng trong Ngân hàng và
trong nền kinh tế. Nhờ đó, hạn chế thanh toán bằng tiền mặt, giảm các chi
phí lưu thông tiền mặt, tăng nhanh vòng chu chuyển vốn trong nền kinh tế,
nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội. Đồng thời tạo điều kiện nâng cao hiệu
quả quản lý Nhà nước và hiệu quả thực thi chính sách tiền tệ.
Khi Ngân hàng thực hiện tốt nghiệp vụ thanh toán vốn, đảm bảo an toàn
nhanh chóng, chính xác thì không chỉ đem lại lợi ích cho khách hàng mà đó
cũng chính là lợi thế trong cạnh tranh của Ngân hàng. Khách hàng nhận
được nhiều tiện ích và họ tin tưởng vào Ngân hàng thì họ sẽ đặt quan hệ lâu
dài với Ngân hàng.
Thanh toán vốn là nghiệp vụ có nhiều giao dịch phức tạp, liên quan trực
tiếp đến vấn đề an toàn tài sản của khách hàng và ngân hàng. Vì vậy, để
đảm bảo được hiệu quả của nghiệp vụ thanh toán vốn như trên, ngân hàng
phải có sự quan tâm và đầu tư đặc biệt vào việc thiết kế và vận hành KSNB
Sinh viên: Lê Ngọc Hân
1

Khoá luận tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ VÀ KIỂM
SOÁT NỘI BỘ NGHIỆP VỤ THANH TOÁN VỐN TRONG NHTM
1.1. TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ
1.1.1. Khái niệm và mục tiêu của hệ thống kiểm soát nội bộ
1.1.1.1. Khái niệm
Trong tổ chức có thể có nhiều cách phân cấp quản lý khác nhau song
chung nhất thường là phân thành quản lý vĩ mô và quản lý vi mô. Để đảm
bảo hiệu quả hoạt động, tất yếu mỗi đơn vị cơ sở đều tự kiểm tra mọi hoạt
động của mình trong tất cả các khâu. Công việc rà soát này có tên là kiểm
soát. Kiểm soát có thể được hiểu theo nhiều chiều: cấp trên kiểm soát cấp
dưới thông qua chính sách, biện pháp cụ thể, đơn vị này kiểm soát đơn vị
khác thông qua việc chi phối đáng kể quyền và lợi ích tương ứng, nội bộ
đơn vị kiểm soát lẫn nhau thông qua quy chế và thủ tục quản lý… Tuy
nhiên, thông dụng nhất vẫn là kiểm soát nội bộ đơn vị.
Có nhiều khái niệm về hệ thống kiểm soát nội bộ đã được đưa ra:
Khái niệm 1: HTKSNB là toàn bộ các quy định về tổ chức quản lý, chức
năng, nhiệm vụ, phương pháp công tác mà một đơn vị phải tuân theo.
Khái niệm 2: HTKSNB là toàn bộ những chính sách, quy định và thủ tục
kiểm soát do Ban Giám đốc của đơn vị thiết lập nhằm đảm bảo tính chặt
chẽ và hiệu quả của các hoạt động trong khả năng có thể. (Theo IAS 400)
Khái niệm 3: Theo COSO (Committee of sponsoring organization of
treadway commision), HTKSNB là một quy trình chịu ảnh hưởng của
người quản lý, hội đồng quản trị, và các nhân viên của tổ chức, được thiết
lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý, nhằm thực hiện các mục tiêu:
+ Bảo vệ tài sản của đơn vị
+ Đảm bảo độ tin cậy của các thông tin, báo cáo tài chính
Sinh viên: Lê Ngọc Hân
3

Sinh viên: Lê Ngọc Hân
4
Khoá luận tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng
Ngân hàng nắm giữ lượng tài sản có giá trị rất lớn: tiền mặt, giấy tờ có
giá, các tài sản thế chấp, cầm cố…, bên cạnh đó, những thông tin liên quan
tới hoạt động ngân hàng có tính bảo mật cao và liên quan đến nhiều đối
tượng trong nền kinh tế. Chúng rất dễ bị lạm dụng, đánh cắp vì nhiều mục
đích khác nhau. Chính vì thế, các ngân hàng cần thiết lập các quy trình hoạt
động, xác định rõ hạn mức, quyền và trách nhiệm của các thành viên tham
gia để có được sự kiểm soát chặt chẽ đối với tài sản và thông tin của mình.
2/ Đảm bảo độ tin cậy của các thông tin
Thông tin kinh tế, tài chính do bộ phận kế toán xử lý và tổng hợp là căn
cứ quan trọng cho việc ra quyết định của các nhà quản lý, từ các cấp quản
lý ở đơn vị đến cấp quản lý nhà nước, đặc biệt là lĩnh vực ngân hàng phải
chịu sự điều chỉnh của nhiều cơ quan quản lý nhà nước. HTKSNB phải
đảm bảo các thông tin đó được đưa ra có tính kịp thời về mặt thời gian, tính
chính xác và tin cậy về thực trạng hoạt động và phản ánh đầy đủ, khách
quan các nội dung chủ yếu của mọi hoạt động kinh tế, tài chính.
3/ Đảm bảo thực hiện các chế độ pháp lý
Do tính đặc biệt của ngành kinh doanh ngân hàng, việc tuân thủ các chế
độ pháp lý trong kinh doanh là quan trọng thiết yếu. HTKSNB được thiết
kế trong ngân hàng phải đảm bảo các quy định và chế độ pháp lý trong hoạt
động kinh doanh của ngân hàng phải được tuân thủ đúng mức. HTKSNB
cần:
+ Duy trì và kiểm tra việc tuân thủ các chính sách có
liên quan đến hoạt động kinh doanh ngân hàng
+ Ngăn chặn và phát hiện kịp thời cũng như xử lý các
sai phạm, gian lận trong mọi hoạt động của ngân hàng
+ Đảm bảo việc hạch toán kế toán và lập báo cáo tài
chính theo đúng chế độ của NHNN và Bộ tài chính.

nhà quản lý trong đơn vị.
Đặc thù về quản lý
Sinh viên: Lê Ngọc Hân
6
Khoá luận tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng
Một nhà quản lý có quan điểm, triết lý trong quản lý như thế nào, họ sẽ
tạo môi trường như thế. Quan điểm, triết lý quản lý đó sẽ ảnh hưởng trực
tiếp đến hiệu quả của hoạt động kiểm tra, kiểm soát trong đơn vị. Nếu một
nhà quản lý cho rằng công tác kiểm tra, kiểm soát là quan trọng đối với
hoạt động kinh doanh, họ sẽ có nhận thức và hành động đúng đắn về hoạt
động kiểm tra, kiểm soát thông qua việc xây dựng và thực hiện tuân thủ
các quy định và chế độ đề ra. Việc phân chia quyền lực trong tổ chức cũng
tác động đến hiệu quả của kiểm soát. Trường hợp quyền lực tập trung quá
ít thì kiểm soát nếu có chỉ là hình thức, bị vô hiệu hoá. Nếu quá phân tán
thì sẽ gây ra sự chồng chéo, có thể bỏ sót một số chốt kiểm soát.
Đặc thù về tổ chức
Một cơ cấu tổ chức hợp lý trong ngân hàng sẽ tạo được môi trường kiểm
soát tốt. Cơ cấu tổ chức hợp lý đảm bảo một hệ thống xuyên suốt từ trên
xuống dưới trong việc ban hành các quyết định cũng như kiểm tra, giám
sát việc thực hiện các quyết định đó trong toàn bộ ngân hàng. Để thiết lập
một cơ cấu tổ chức hợp lý như vậy, nhà quản lý phải tuân thủ một số
nguyên tắc sau:
• Thiết lập sự điều hành và kiểm soát trên toàn bộ hoạt động của
ngân hàng, không bỏ sót lĩnh vực nào, đồng thời không có sự
chồng chéo giữa các bộ phận.
• Thực hiện sự phân chia độc lập giữa ba chức năng: xử lý nghiệp
vụ, ghi chép sổ sách và bảo quản tài sản.
• Đảm bảo sự độc lập tương đối giữa các bộ phận để duy trì sự
kiểm soát lẫn nhau.
Chính sách nhân sự

nghiệp vụ mà được thiết kế độc lập với các hoạt động nghiệp vụ. Về tổ
chức, bộ phận kiểm toán nội bộ phải trực thuộc một cấp cao đủ để không
giới hạn phạm vi hoạt động của nó, đồng thời phải được giao một quyền
hạn tương đối rộng rãi để đảm bảo hiệu lực hoạt động.
Các nhân tố bên ngoài
Sinh viên: Lê Ngọc Hân
8
Khoá luận tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng
Các nhân tố bên ngoài tuy không thuộc sự kiểm soát của các nhà quản lý
nhưng có ảnh hưởng rất lớn đến thái độ, phong cách điều hành của nhà
quản lý, cũng như việc thiết kế, vận hành các thủ tục kiểm soát nội bộ.
Thuộc nhóm nhân tố này bao gồm: tình hình phát triển kinh tế, xã hội, sự
kiểm soát của các cơ quan chức năng, môi trường pháp lý, đường lối phát
triển kinh tế của đất nước…
Như vậy, môi trường kiểm soát bao gồm tất cả những nhân tố ảnh hưởng
đến quá trình thiết kế, vận hành và xử lý dữ liệu của hệ thống kiểm soát
nội bộ, trong đó nhân tố chủ yếu và quan trọng là nhận thức về hoạt động
kiểm tra, kiểm soát và điều hành của các nhà quản lý.
1.1.2.2. Hệ thống kế toán
Ngoài chức năng ghi chép sổ sách, tính toán và phân loại, tổng hợp các
thông tin của kế toán tài chính vào các sổ sách và báo cáo tài chính thích
hợp mà nó còn đóng vai trò quan trọng trong quá trình kiểm soát các hoạt
động kinh tế tài chính trong đơn vị thông qua quá trình thu thập, tính toán,
đối chiếu và ghi chép, phân loại thông tin, trên cơ sở sử dụng các phương
pháp kế toán thì kế toán cung cấp chức năng kiểm soát toàn diện thường
xuyên đối với các hoạt động của đơn vị.
Một hệ thống kế toán hữu hiệu phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Tính có thực: việc ghi chép sổ sách kế toán phải dựa trên cơ sở
nghiệp vụ có thật và phản ánh khách quan với nghiệp vụ đã diễn
ra và hoàn thành.

Nguyên tắc phân công, phân nhiệm: Trách nhiệm và công việc cần được
phân chia cụ thể cho các bộ phận và cá nhân trong đơn vị. Điều đó tạo sự
chuyên môn hoá trong công việc, khi có sai sót thường dễ phát hiện do có
sự kiểm tra chéo.
Nguyên tắc bất kiêm nhiệm: Nguyên tắc này quy định phải có sự cách ly
thích hợp giữa các nghiệp vụ có liên quan nhằm ngăn ngừa các sai phạm và
hành vi lạm dụng quyền hạn. Muốn vậy phải đảm bảo yêu cầu: đảm bảo sự
Sinh viên: Lê Ngọc Hân
10
Khoá luận tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng
phân tách chức năng (người giữ tài sản vật chất không kiêm nhiệm sổ sách)
và thường xuyên có sự kiểm tra, đối chiếu giữa các chức năng liên quan để
kịp thời phát hiện sai sót để có biện pháp điều chỉnh kịp thời.
Nguyên tắc uỷ quyền và phê chuẩn: Trách nhiệm và quyền hạn có thể được
uỷ quyền cho các cấp trong đơn vị mà vẫn không làm mất tính tập trung
trong đơn vị. Bên cạnh đó, để tuân thủ tốt các quá trình kiểm soát, mọi
nghiệp vụ phải được phê chuẩn đúng đắn. Sự phê chuẩn được thực hiện
theo hai bước: phê chuẩn chung và phê chuẩn cụ thể.
Ngoài những nguyên tắc cơ bản trên, các thủ tục kiểm soát còn bao gồm:
việc quy định chứng từ và sổ sách phải đầy đủ, quá trình kiểm soát vật chất
đối với tài sản và sổ sách phải độc lập việc thực hiện các hoạt động của
đơn vị.
1.1.3. Phân loại kiểm soát
Dựa trên cơ sở tác dụng cũng như giai đoạn tiến hành của các thủ tục
kiểm soát, có thể chia thành một số loại kiểm soát:
1.1.3.1.Kiểm soát phòng ngừa
Đây là thủ tục kiểm soát được thực hiện trước khi cho phép nghiệp vụ
tiến hành để ngăn ngừa, phát hiện những điều kiện có thể dẫn đến sai
phạm, rủi ro. Ví dụ: Trong nghiệp vụ cho vay, trước khi cho vay, cán bộ
tín dụng thực hiện thẩm định yêu cầu vay, dự án đầu tư, tình hình tài

đan xen, phức tạp. Từ đó phát sinh nhu cầu thanh toán, chuyển tiền qua
ngân hàng giữa các chủ thể đó với nhau. Nếu bên trả tiền và bên thụ hưởng
cùng có tài khoản tại một đơn vị ngân hàng thì việc thanh toán không gặp
vấn đề gì khó khăn. Nhưng nếu bên trả tiền và bên thụ hưởng mở tài khoản
ở hai đơn vị ngân hàng khác nhau, trong cùng một hệ thống hoặc có thể
khác hệ thống, việc thanh toán lúc này không chỉ là đáp ứng nhu cầu của
khách hàng mà còn phát sinh quan hệ thanh toán giữa các ngân hàng với
nhau. Bên cạnh đó, trong nội bộ các ngân hàng, việc tập trung quản lý, điều
hoà vốn và vay mượn lẫn nhau cũng là cơ sở để phát sinh quan hệ thanh
Sinh viên: Lê Ngọc Hân
12
Khoá luận tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng
toán giữa các ngân hàng với nhau. Đó là nghiệp vụ thanh toán vốn giữa các
ngân hàng.
Thanh toán vốn giữa các ngân hàng là nghiệp vụ thanh toán qua lại giữa
các ngân hàng nhằm tiếp tục hoàn thành quá trình thanh toán giữa các tổ
chức, cá nhân với nhau mà họ không cùng mở tài khoản tại một ngân hàng
hoặc thanh toán vốn trong nội bộ các ngân hàng. Các ngân hàng phải đảm
bảo thanh toán về vốn với nhau một cách đầy đủ, chính xác và kịp thời,
đồng thời phải có biện pháp để kiểm soát tính xác thực của các khoản thanh
toán nhằm đảm bảo an toàn tài sản.
Thanh toán vốn có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động ngân hàng:
- Thực hiện chức năng tập trung thanh toán của ngân hàng đối
với nền kinh tế quốc dân và điều hoà vốn trong nội bộ ngân
hàng.
- Thực hiện tốt nghiệp vụ thanh toán giữa các ngân hàng sẽ thúc
đẩy thanh toán không dùng tiền mặt, tăng độ an toàn trong quan
hệ thanh toán, tăng vòng quay của vốn, tiết kiệm chi phí lưu
thông xã hội.
- Tạo điều kiện cho Ngân hàng Nhà nước thực thi có hiệu quả

- Dự trữ thanh khoản bằng tiền mặt
- Tiền gửi thanh toán tại NHNN và các tổ chức tín dụng khác
- Vay NHNN hoặc các TCTD khác
1.2.1.3. Các hệ thống thanh toán vốn giữa các ngân hàng ở Việt Nam
hiện nay
Các phương thức thanh toán vốn giữa các ngân hàng ở Việt Nam hiện
nay tương đối phong phú, bao gồm:
- Thanh toán liên chi nhánh ngân hàng trong cùng hệ thống (bằng
giấy và điện tử)
- Thanh toán bù trừ khác hệ thống (bằng giấy và điện tử)
- Thanh toán điện tử liên ngân hàng
- Uỷ nhiệm thu hộ, chi hộ
- Mở tài khoản lẫn nhau để thanh toán
Sinh viên: Lê Ngọc Hân
14
Khoá luận tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, tôi xin đi sâu nghiên cứu
KSNB đối với các phương thức chính là: Thanh toán liên chi nhánh ngân
hàng trong cùng hệ thống, thanh toán bù trừ khác hệ thống, thanh toán
điện tử liên ngân hàng. Đây cũng là các phương thức thanh toán vốn chủ
yếu trong NHTM.
a) Thanh toán liên chi nhánh ngân hàng
Ngày 20/10/1997, thống đốc NHNN Việt Nam đã ra quyết định số
353/1997/QĐ-NHNN2 về việc ban hành Quy chế chuyển tiền điện tử.
Thanh toán liên chi nhánh ngân hàng (chuyển tiền điện tử) là phương
thức thanh toán vốn giữa các chi nhánh ngân hàng trong cùng một hệ
thống bằng chương trình phần mềm chuyển tiền với sự trợ giúp của hệ
thống máy tính và mạng truyền tin nội bộ. Thực chất của thanh toán liên
chi nhánh ngân hàng là việc chuyển tiền từ chi nhánh ngân hàng này đến
chi nhánh ngân hàng khác để phục vụ thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ

đối chiếu khớp đúng với TTTT mới được lưu trữ các lệnh chuyển tiền.
Để đảm bảo việc điều hoà vốn trong hệ thống, TTTT sẽ mở cho mỗi
đơn vị chuyển tiền những tài khoản thích hợp hoặc quy định một hạn
mức được thanh toán vượt khả năng chi trả của mình. Những đơn vị
ngân hàng thừa vốn gửi ở TTTT sẽ được hưởng lãi điều hoà, đơn vị thiếu
vốn phải nhận vốn điều hoà phải trả lãi cho số thanh toán vượt.
b) Thanh toán bù trừ giữa các ngân hàng
Thanh toán bù trừ giữa các ngân hàng (TTBT) là phương thức thanh
toán vốn giữa các ngân hàng được thực hiện bằng cách bù trừ tổng số
phải thu, phải trả và trên cơ sở đó chỉ thanh toán với nhau số chênh
lệch (kết quả bù trừ). TTBT phát sinh trên cơ sở các quan hệ thanh toán
của các khách hàng tại các ngân hàng khác nhau hoặc thanh toán vốn
của bản thân các ngân hàng. TTBT được áp dụng giữa các ngân hàng
khác hệ thống với nhau (TTBT khác hệ thống) hoặc có thể áp dụng
giữa các đơn vị ngân hàng trong cùng một hệ thống ngân hàng (TTBT
cùng hệ thống). Tuỳ thuộc vào phương pháp luân chuyển chứng từ,
chuyển số liệu mà có cơ chế TTBT trên cơ sở chứng từ giấy (TTBT
Sinh viên: Lê Ngọc Hân
16
Khoá luận tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng
giấy) và TTBT điện tử. Khi tham gia thanh toán bù trừ giấy, các ngân
hàng thành viên phải mở tài khoản tại ngân hàng chủ trì. Đối với TTBT
khác hệ thống, các ngân hàng thành viên phải mở tài khoản tiền gửi tại
ngân hàng chủ trì là NHNN trên địa bàn.
 Một số nguyên tắc trong TTBT
Khi tham gia TTBT các ngân hàng thành viên phải tuân thủ một số
nguyên tắc sau:
- Phải có văn bản đề nghị tham gia TTBT và cam kết chấp hành đúng
các quy định trong TTBT.
- Có văn bản giới thiệu các nhân viên có trách nhiệm đến trực tiếp

xử lý tài khoản tiền gửi thanh toán và cổng giao dịch với hệ thống chuyển
tiền điện tử của NHNN. Hệ thống TTLNH hiện đã được triển khai tại Sở
Giao dịch NHNN và 05 tỉnh thành phố là Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng,
Cần Thơ và Tp. Hồ Chí Minh.
Các thành viên trực tiếp của hệ thống TTĐTLNH là các tổ chức cung ứng
dịch vụ thanh toán có đủ điều kiện và được chấp nhận tham gia hệ thống
TTLNH. Các thành viên trực tiếp phải có tài khoản tiền gửi thanh toán tại
SGD NHNN và phải đăng ký danh sách các chi nhánh trực thuộc của mình
tham gia TTLNH dể được kết nối trực tiếp vào hệ thống. Thành viên gián
tiếp là các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán được tham gia vào hệ thống
thông qua thành viên trực tiếp.
Hệ thống TTLNH xử lý các lệnh thanh toán giá trị cao hoặc khẩn thông
qua tài khoản tiền gửi thanh toán của ngân hàng thành viên mở tại SGD
NHNN theo phương thức quyết toán tổng tức thời. Theo phương thức đó,
việc xử lý và quyết toán chuyển tiền được diễn ra một cách liên tục theo
thời gian thực tế phát sinh chuyển tiền, nghĩa là các giao dịch thanh toán
được xử lý ngay theo tổng số tiền phải thanh toán và theo từng lệnh chuyển
một. Đối với các lệnh chuyển tiền giá trị thấp sẽ được xử lý thông qua
thanh toán bù từ trên địa bàn tỉnh, thành phố. Kết quả đó được chuyển về
Trung tân thanh toán quốc gia, cùng với kết quả bù trừ tại Trung ương (bù
Sinh viên: Lê Ngọc Hân
18
Khoá luận tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng
trừ giữa các Hội sở NH) sẽ được tiếp tục xử lý bù trừ một lần nữa – bù trừ
“kép” để xác định kết quả cuối cùng.
TTLNH áp dụng chữ ký điện tử (mã khoá bảo mật) trong việc chuyển,
nhận các lệnh thanh toán và các giao dịch có liên quan trong hệ thống.
1.2.2. Kiểm soát nội bộ đối với nghiệp vụ thanh toán vốn trong NHTM
1.2.2.1. Sự cần thiết của kiểm soát nội bộ đối với nghiệp vụ thanh toán
vốn

Trong nghiệp vụ thanh toán vốn, thủ tục kiểm soát chủ yếu bao gồm:
- Kiểm soát các văn bản quy định phân cấp uỷ quyền của lãnh đạo. Việc tổ
chức quy trình thanh toán vốn, uỷ quyền cán bộ được phép tham gia vào
thanh toán vốn, hạn mức giao dịch, kiểm soát việc phân công cán bộ có
đảm bảo kiểm soát toàn diện các giao dịch trong nghiệp vụ thanh toán
vốn…
- Kiểm soát tính hợp lệ, hợp pháp của chứng từ, tính xác thực của ngân
hàng người thụ hưởng…
- Kiểm soát việc tuân thủ chế độ, quy trình, quy định trong nghiệp vụ thanh
toán vốn: Việc chấp hành chế độ bảo mật, lựa chọn kênh thanh toán, xử lý
sai sót khi phát sinh…
- Kiểm soát việc thực hiện đối chiếu cuối ngày các giao dịch của giao dịch
viên, cán bộ hậu kiểm, cán bộ kiểm toán nội bộ…
1.2.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kiểm soát nội bộ nghiệp vụ
thanh toán vốn
a) Quan điểm về hiệu quả trong kiểm soát nội bộ nghiệp vụ thanh toán
vốn
Thanh toán vốn giữa các ngân hàng phát triển vừa đáp ứng được nhu cầu
thanh toán của nền kinh tế đồng thời thoả mãn nhu cầu thanh toán của
chính các ngân hàng. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, tỷ trọng thanh
toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng ngày càng tăng vì tính tiện ích của
nó. Về phía các ngân hàng, khi thị trường liên ngân hàng phát triển, quan
hệ vay mượn, thanh toán nội bộ với nhau cũng trở nên sôi động hơn. Sự
Sinh viên: Lê Ngọc Hân
20
Khoá luận tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng
phát triển đó đặt ra yêu cầu đối với các ngân hàng phải nâng cao hiệu quả
KSNB nghiệp vụ thanh toán vốn.
Khái niệm hiệu quả có thể hiểu là khả năng thực hiện được mục tiêu đề ra
và với mức chi phí thấp nhất có thể, không lãng phí nguồn lực của đơn vị.

- Trình độ tác nghiệp và thái độ nghiêm túc tuân thủ của các thành viên
tham gia vào quy trình KSNB. Khả năng xử lý nghiệp vụ tốt của các
nhân viên thực hiện nghiệp vụ thanh toán vốn, của cán bộ hậu kiểm và
kiểm toán viên nội bộ; thái độ nghiêm túc, có trách nhiệm và trung thực
của họ chắc chắn sẽ mang lại hiệu quả cao cho công tác KSNB trong
đơn vị.
- Thanh toán vốn là nghiệp vụ phức tạp và được thực hiện dựa trên nền
tảng kỹ thuật, công nghệ thông tin hiện đại. Vì vậy, một yếu tố có ảnh
hưởng rất lớn đến nghiệp vụ này là trình độ tin học hoá, trang bị các
thiết bị hiện đại phục vụ việc thanh toán, chuyển tiền tại đơn vị. Nếu
thường xuyên được đầu tư, nâng cấp, hoạt động thanh toán vốn sẽ diễn
ra được nhanh chóng, thông suốt, giảm được nhiều sai sót. Cùng với đó
là việc nâng cao trình độ của các chuyên gia tin học và trình độ tin học
chung của nhân viên sẽ giúp cải thiện môi trường KSNB trong ngân
hàng.
**********************
Trên cơ sở lý luận như trên, tôi xin đi sâu vào nghiên cứu thực trạng kiểm
soát nội bộ nghiệp vụ thanh toán vốn tại NHĐT&PT chi nhánh Cầu Giấy.
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ NGHIỆP VỤ THANH TOÁN
VỐN TẠI NHĐT&PT CẦU GIẤY
Sinh viên: Lê Ngọc Hân
22
Khoá luận tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng
2.1. KHÁI QUÁT VỀ NHĐT&PT CHI NHÁNH CẦU GIẤY
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của NHĐT&PT Cầu Giấy

Ngày 31/10/1963, chi điếm 2 thuộc Chi hàng Kiến thiết Hà Nội ( tiền
thân của NHĐT&PT Cầu Giấy ngày nay) được thành lập. Trải qua hơn 40
năm xây dựng và trưởng thành, qua từng bước thăng trầm của nền kinh tế

đây là nền tảng vững chắc cho sự phát triển.
Với sự phấn đấu không ngừng, chi nhánh đã được UBND thành phố Hà
Nội, thống đốc NHNN tặng bằng khen và Tổng Giám đốc NHĐT&PT Việt
Nam tặng Giấy khen về những thành tích trong hoạt động.
Ngày 1/10/2004, Chi nhánh NHĐT&PT Cầu Giấy chính thức được nâng
cấp trở thành Chi nhánh cấp 1 - một chi nhánh lớn nằm ở cửa ngõ phía Tây
thủ đô Hà Nội, xứng đáng với những kết quả đạt được của 41 năm hình
thành và phát triển của mình. Đây cũng là một mốc đánh dấu sự phát triển
mạnh mẽ của Chi nhánh trong thời gian sau.
2.1.2. Cơ cấu tổ chức
Căn cứ quyết định só 323/QĐ-HĐQT ngày 5/9/2003 của hội đồng quản
trị NHĐT&PT Việt Nam về việc phê duyệt sơ cấu tổ chức bộ máy thí điểm
áp dụng tại chi nhánh NHĐT&PT Cầu Giấy. Đây là mô hình tổ chức phù
hợp với dự án Hiện đại hoá ngân hàng.
Phòng tín dụng
- Bộ phận quan hệ trực tiếp với khách hàng:
Nhận hồ sơ, kiểm tra tính đầy đủ và hợp pháp của hồ sơ sau đó chuyển
đến các phòng ban có liên quan để thực hiện theo chức năng. Bên cạnh đó,
phân tích tín dụng theo quy trình nghiệp vụ, quyết định các khoản vay
trong hạn mức được giao, quản lý giải ngân, tài sản đảm bảo nợ, thu nợ, xử
lý gia hạn nợ, thực hiện các biện pháp thu nợ, lập các báo cáo tín dụng theo
quy định.
- Bộ phận tác nghiệp: Nhập các dữ liệu về các khoản vay vào chương trình
phần mềm ứng dụng. Đồng thời chịu trách nhiệm về tính đúng đắn của các
giao dịch được nhập vào hệ thống đó. Thực hiện lưu trữ hồ sơ tín dụng,
Sinh viên: Lê Ngọc Hân
24
Khoá luận tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng
chuẩn bị số liệu thống kê các khoản vay phục vụ cho mục đích quản lý nội
bộ của chi nhánh, NHĐT&PT Việt Nam và các cơ quan Nhà nước có thẩm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status