Một số giải pháp mở rộng hoạt động cho vay trả góp tại ngân hàng ngoài quốc doanh Việt Nam (VPBank) - Pdf 11

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
MỤC LỤC
Trang
1
Ngô Thanh Tùng Lớp: TCDN 46A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Trong những năm qua, kinh tế thế giới đã có nhiều biến chuyển, nổi lên
trong đấy là khu vực kinh tế Châu Á Thái Bình Dương, một khu vực năng
động và giàu tiềm năng. Nằm trong khu vực, Việt Nam đã có những bước
phát triển vượt bậc, có sự chuyển biến trên tất cả các lĩnh vực của đời sống,
kinh tế xã hội. Có thể nói, trong hơn 10 năm trở lại đây, nước ta là nước có
nền kinh tế đang phát triển với tốc độ cao nhất khu vực Đông Nam Á. Trong 5
năm qua, GDP đạt bình quân 7,8 %/năm. Trong năm 2007 GDP đã đạt
8,48%/năm, cao nhất trong vòng 10 năm qua. Tình hình chính trị ổn định,
kinh tế tăng trưởng nhanh và bền vững cùng với những thuận lợi khi gia nhập
vào tổ chức Thương mai quốc tế đã thúc đẩy hoạt động đầu tư, xây dựng, kinh
doanh, buôn bán… phát triển, tạo tiền đề cho việc tạo việc làm, tăng thu nhập
và nâng cao đời sống của các tầng lớp nhân dân. Đời sống người dân ngày
càng được cải thiện mạnh mẽ.
Riêng năm 2007, chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế từng bước được
nâng lên thể hiện trên các chỉ số tăng trưởng cao, duy trì tốc độ ổn định trên
mọi lĩnh vực kinh tế. Cơ cấu kinh tế có bước chuyển dịch tích cực theo hướng
tăng tỷ trọng công nghiệp, xây dựng dịch vụ và giảm tỷ trọng khu vực nông
nghiệp (khu vực nông nghiệp chiếm 20%; công nghiệp và xây
dựngchiếm41,5%,dịchvụ38,1%).
Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2007 ước đạt 574 nghìn tỷ đồng,
tăng 17,1% so với năm 2006; trong đó, khu vực ngoài quốc doanh tăng
20,9%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 18,2% và khu vực doanh
nghiệp nhà nước tăng 10,3%.
Theo số liệu của tổng cục thống kê, thu nhập bình quân đầu người ở Việt

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY TRẢ
GÓP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
1.1.1. Các hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại là một trong những tổ chức trung gian tài chính
quan trọng nhất, là tổ chức thu hút tiết kiệm lớn nhất trong mọi nền kinh tế.
Ngân hàng thương mại điều phối tiền tệ nhàn rỗi từ những cá nhân tổ chức
chưa có nhu cầu sử dụng đến những cá nhân tổ chức có nhu cầu sử dụng.
Ngân hàng là tổ chức cho vay chủ yếu đối với các doanh nghiệp, cá
nhân, hộ gia đình và một phần đối với Nhà nước. Thành công của ngân hàng
phụ thuộc vào việc thực hiện các hoạt động của mình một cách có hiệu quả.
Các hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại bao gồm:
1.1.1.1. Hoạt động huy động vốn
Huy động vốn là hoạt động cơ sở cũng như là tiền đề của hoạt động cho
vay. Bất kỳ một ngân hàng nào muốn cho vay được đều phải đi huy động vốn.
Huy động vốn vừa sinh lợi cho các cá nhân tổ chức gửi tiền cũng vừa tạo
nguồn vốn cho chính ngân hàng thực hiện hoạt động kinh doanh tiền tệ.
Ngân hàng mở các dịch vụ nhận tiền gửi để bảo quản hộ người có tiền
với cam kết hoàn trả đúng hạn. Để tìm và thu hút được các khoản tiền gửi, các
ngân hàng thương mại thường đưa ra những mức lãi suất huy động khá hấp
dẫn như là phần thưởng cho khách hàng về việc sẵn sàng hy sinh nhu cầu tiêu
dùng trước mắt và cho phép ngân hàng sử dụng tạm thời để kinh doanh. Sau
khi thu hút được các khoản tiền gửi, ngân hàng sẽ gián tiếp thu “phí” thông
qua thu nhập của hoạt động sử dụng tiền gửi đó.
1.1.1.2. Hoạt động cho vay
4
Ngô Thanh Tùng Lớp: TCDN 46A

5
Ngô Thanh Tùng Lớp: TCDN 46A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
 Bảo lãnh
Đây là hoạt động mà ngân hàng cam kết dưới hình thức thư bảo lãnh về
việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng của ngân hàng khi
khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ như cam kết. Bảo lãnh thường có
ba bên: Bên hưởng bảo lãnh, bên được bảo lãnh và bên bảo lãnh. Bảo lãnh
của ngân hàng có nghĩa ngân hàng là bên bảo lãnh; khách hàng của ngân hàng
là người được bảo lãnh và người hưởng bảo lãnh là bên thứ ba.
Ngân hàng thường bảo lãnh cho khách hàng của mình để phát hành
chứng khoán, mua chịu hàng hoá và trang thiết bị, vay vốn của các tổ chức tín
dụng khác… Trong những năm gần đây, nghiệp vụ bảo lãnh ở các ngân hàng
ngày càng đa dạng và phát triển mạnh.
 Quản lý ngân quỹ
Các ngân hàng mở tài khoản và giữ tiền của phần lớn các doanh nghiệp
và nhiều cá nhân. Nhờ đó, ngân hàng thường có mối liên hệ chặt chẽ với
nhiều khách hàng. Với kinh nghiệm trong quản lý ngân quỹ và khả năng trong
việc thu ngân, nhiều ngân hàng đã cung cấp cho khách hàng dịch vụ quản lý
ngân quỹ, trong đó ngân hàng đồng ý quản lý việc thu chi cho một công ty
kinh doanh và tiến hành đầu tư phần thặng dư tiền mặt tạm thời vào các
chứng khoán sinh lợi, tín dụng ngắn hạn cho đến khi khách hàng cần tiền mặt
để thanh toán.
 Bảo quản vật có giá
Các ngân hàng thực hiện việc lưu giữ vàng, các vật có giá khác cho
khách hàng trong kho bảo quản. Ngân hàng giữ vàng và giao cho khách tờ
biên nhận (giấy chứng nhận do ngân hàng phát hành). Do khả năng chi trả bất
cứ lúc nào cho giấy chứng nhận, nên giấy chứng nhận đã được sử dụng như
tiền, dùng để thanh toán khoản nợ trong phạm vi ảnh hưởng của ngân hàng
phát hành. Lợi ích của việc sử dụng phương tiện thanh toán bằng giấy thay

cho vay với các điều kiện ưu đãi cho các doanh nghiệp của Chính phủ.
 Cung cấp các hoạt động môi giới đầu tư chứng khoán
Nhiều ngân hàng đang phấn đấu cung cấp đủ các dịch vụ tài chính cho
phép khách hàng thoả mãn mọi nhu cầu. Đây là một trong những lý do khiến
7
Ngô Thanh Tùng Lớp: TCDN 46A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
các ngân hàng bắt đầu bán các dịch vụ môi giới chứng khoán, cung cấp cho
khách hàng cơ hội mua cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán khác mà
không phải nhờ đến người kinh doanh chứng khoán. Trong một vài trường
hợp, các ngân hàng tổ chức ra công ty chứng khoán hoặc công ty môi giới
chứng khoán.
 Cung cấp các dịch vụ uỷ thác tư vấn
Do hoạt động trong lĩnh vực tài chính, các ngân hàng có nhiều chuyên
gia về quản lý tài chính. Vì vậy, nhiều cá nhân và doanh nghiệp đã nhờ ngân
hàng quản lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính hộ. Dịch vụ uỷ thác phát
triển sang cả uỷ thác vay hộ, uỷ thác cho vay hộ, uỷ thác đầu tư, uỷ thác phát
hành… Thậm chí, các ngân hàng còn đóng vai trò là người được uỷ thác trong
di chúc, quản lý tài sản cho khách hàng đã qua đời bằng cách công bố tài sản,
bảo quản các tài sản có giá. Nhiều khách hàng coi ngân hàng như một chuyên
gia tư vấn tài chính. Ngân hàng sẵn sàng tư vấn về đầu tư, quản lý tài chính,
về thành lập, mua bán, sáp nhập doanh nghiệp…
 Cung cấp các dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ đại lý
Từ nhiều năm nay, các ngân hàng đã bán bảo hiểm cho khách hàng, điều
đó bảo đảm việc hoàn trả trong trường hợp khách hàng bị chết, bị tàn phế hay
gặp rủi ro trong hoạt động, mất khả năng thanh toán.
Trong quá trình hoạt động, ngân hàng cũng không thể thiết lập chi nhánh
hoặc văn phòng ở khắp mọi nơi. Các ngân hàng, thường là ngân hàng lớn đã cung
cấp dịch vụ ngân hàng đại lý cho các ngân hàng khác như phát hành hộ, thanh
toán hộ các chứng chỉ tiền gửi, làm ngân hàng đầu mối trong đồng tài trợ…

tài khoản có tiền. Việc xác định trước thời hạn thu nợ trong trường hợp này có
thể gây khó khăn cho khách hàng trong việc tiêu thụ sản phẩm.
1.1.2.2. Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay
 Cho vay tiêu dùng
Là loại hình cho vay để tài trợ cho việc tiêu dùng nhằm giúp người tiêu
dùng có thể sử dụng hàng hoá, dịch vụ trước khi họ có khả năng chi trả, tạo
điều kiện cho người vay được hưởng mức sống cao hơn. Thông thường quy
9
Ngô Thanh Tùng Lớp: TCDN 46A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
mô của những khoản vay này nhỏ, rủi ro cao nên lãi suất của cho vay tiêu
dùng thường cao. Tuy nhiên cho vay tiêu dùng là hình thức đem lại lợi nhuận
cao cho ngân hàng. Đối tượng được vay là các cá nhân và hộ gia đình vay để
phục vụ cho mục đích mua nhà, mua ô tô, du học, du lịch…
 Cho vay kinh doanh
Là loại hình cho vay của tổ chức tín dụng đối với các dự án đầu tư,
phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ của các cá nhân, tổ chức như: cho
vay công nghiệp, cho vay thương mại, cho vay nông nghiệp. Các khoản vay
này thường được sử dụng vào việc mua sắm máy móc thiết bị, tài trợ cho vốn
lưu động… Lãi suất của chúng thường thấp hơn trong hệ thống lãi suất và đối
tượng khách hàng chủ yếu của loại hình cho vay này là các doanh nghiệp.
1.1.2.3. Căn cứ vào tính chất bảo đảm của khoản vay
 Cho vay có tài sản bảo đảm
Là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm như cầm cố, thế chấp hoặc
phải có bảo lãnh của bên thứ ba. Việc cho vay có bảo đảm nhằm hạn chế rủi
ro cho ngân hàng khi khách hàng mất khả năng thanh toán khi đến hạn. Ngân
hàng có thể phát mại tài sản nếu khách hàng không có khả năng chi trả khi đã
áp dụng các biện pháp cần thiết. Giá trị của tài sản bảo đảm thông thường cao
hơn giá trị của khoản vay nhằm đề phòng sự mất mát, hao hụt, trượt giá… và
chi phí quản lý.

không biết được điều đó. Hiện nay ở Việt Nam hình thức này tương đối phát
triển, nguyên nhân là do nhiều khách hàng có nhu cầu vay vốn lớn nhưng các
ngân hàng bị giới hạn bởi “luật các tổ chức tín dụng” quy định mỗi ngân hàng
không được cho vay đối với mỗi khách hàng vượt quá 15% vốn điều lệ.
 Cho vay theo dự án đầu tư
Ngân hàng cho khách hàng vay để thực hiện dự án đầu tư, phát triển sản
xuất kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tư phục vụ đời sống. Ngân hàng có
thể giải ngân theo từng hạng mục mà dự án đang thực hiện khi khách hàng
cung cấp đủ các tài liệu, chứng từ ngân hàng yêu cầu cho lần giải ngân đó.
 Cho vay luân chuyển
11
Ngô Thanh Tùng Lớp: TCDN 46A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Loại hình cho vay này dựa trên sự luân chuyển của hàng hoá. Doanh
nghiệp khi mua hàng có thể thiếu vốn, khi đó ngân hàng có thể cho vay để
mua hàng và sẽ thu nợ khi doanh nghiệp bán hàng. Cho vay luân chuyển rất
thuận tiện cho các khách hàng, thủ tục vay chỉ cần thực hiện một lần cho
nhiều lần vay. Loại hình cho vay này thường được áp dụng đối với các doanh
nghiệp thương nghiệp hoặc doanh nghiệp sản xuất có chu kỳ tiêu thụ ngắn
ngày, có quan hệ vay trả thường xuyên với ngân hàng.
 Cho vay thấu chi
Là nghiệp vụ cho vay theo đó ngân hàng cho phép người vay được chi
vượt số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định và trong
khoảng thời gian xác định. Thấu chi dựa trên cơ sở thu và chi của khách hàng
không phù hợp về thời gian và quy mô. Hình thức này nhìn chung chỉ sử dụng
đối với khách hàng có độ tin cậy cao, thu nhập đều đặn và kỳ thu nhập ngắn.
1.1.2.5. Căn cứ vào phương thức hoàn trả
 Cho vay trả góp
Là hình thức tín dụng, theo đó ngân hàng cho phép khách hàng trả gốc
làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thoả thuận. Nhờ vậy việc hoàn trả

Cho vay trả góp bao gồm cả hoạt động cho vay kinh doanh và cho vay
tiêu dùng. Tuy nhiên do đặc điểm của hoạt động cho vay kinh doanh cần tiền
quay vòng vốn trong sản xuất nên thường áp dụng cách vay theo món, trả gốc
một lần vào cuối kỳ khi kết thúc chu kỳ sản xuất và thu được lợi nhuận. Do
vậy, cho vay trả góp được áp dụng chủ yếu cho các món vay tiêu dùng, đáp
ứng các nhu cầu chi tiêu trước mắt vượt quá khả năng thanh toán hiện tại của
khách hàng. Phương thức cho vay trả góp này thường được áp dụng cho các
khoản vay lớn như cho vay mua nhà, mua ô tô…
Số tiền khách hàng phải thanh toán cho ngân hàng mỗi kỳ theo phương
thức trả góp có thể được tính bằng một trong những phương pháp sau đây:
Trả đều: Ngân hàng tính toán một cách phù hợp rồi thống nhất với khách
hàng hàng tháng phải trả cho ngân hàng một khoản cố định đến hết thời gian
vay. Như vậy, khách hàng luôn luôn phải trả một khoản tiền cố định từ đợt trả
13
Ngô Thanh Tùng Lớp: TCDN 46A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
đầu tiên cho đến lần cuối cùng. Để làm được điều trên, ngân hàng căn cứ vào
mức lãi suất, thời gian cho vay và số tiền cho vay để đưa ra cụ thể số tiền mà
mỗi tháng người vay phải nộp.
Trả không đều: Phương thức thanh toán này bao gồm nhiều hình thức
khác nhau. Ví dụ như thanh toán nợ gốc từng kỳ, lãi trả hàng tháng; trả đều
nhưng lãi suất thanh toán vào đầu mỗi kỳ; gốc và lãi trả hàng tháng…Lãi ở
đây được tính trên số dư nợ thực tế của khoản vay. Thực chất các hình thức
trả khác nhau này chỉ là thoả thuận giữa ngân hàng và khách hàng sao cho
phù hợp với khả năng trả nợ của người vay.
1.2.2. Đặc điểm của hoạt động cho vay trả góp
 Đối tượng
Trước hết đối tượng cho vay của ngân hàng phải là những cá nhân, tổ
chức có đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự. Xuất phát từ nhu
cầu đi vay của các chủ thể mà đối tượng của cho vay trả góp tập trung chủ

thu nhập thường xuyên của khách hàng như tiền lương… cho nên bất cứ một
sự thay đổi nào ảnh hưởng tới công việc của khách hàng cũng có thể khiến
ngân hàng gặp khó khăn trong việc thu hồi nợ. Do vậy, có thể nói hoạt động
cho vay trả góp tiềm ẩn rủi ro cao.
 Lãi suất cho vay
Lãi suất cho vay trả góp áp dụng tùy từng trường hợp cụ thể. Lãi suất
thường được ấn định ngay từ đầu cho đến hết kỳ hạn vay hoặc chỉ được điều
chỉnh mỗi năm một lần dựa trên lãi suất huy động cộng thêm với một biên độ
nhất định tùy thuộc quy định của từng ngân hàng.
 Tài sản bảo đảm
Giống như tất cả mọi khoản vay khác, cho vay trả góp cũng đòi hỏi
khách hàng phải có một tài sản để đảm bảo cho khoản vay của mình.Thường
tài sản đó chính là tài sản hình thành từ vốn vay của ngân hàng. Tuy nhiên, tài
sản đó cũng có thể là tài sản độc lập thuộc sở hữu của khách hàng hoặc của
bên thứ ba. Tài sản này giúp ngân hàng hạn chế được rủi ro cho mình trong
trường hợp có tình huống xấu xảy ra đối với khoản vay.
15
Ngô Thanh Tùng Lớp: TCDN 46A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
 Lợi nhuận thu được
Do tính chất của vay trả góp các khoản cho vay trả góp chủ yếu là các
khoản cho vay trung và dài hạn. Bên cạnh đó, do tiềm ẩn tính rủi ro cao nên
mức lãi suất mà khách hàng phải chịu là không nhỏ. Trong trường hợp khách
hàng không thanh toán gốc và lãi khi đến kỳ thanh toán sẽ phải chịu một mức
lãi phạt rất lớn (150%) so với mức lãi suất trong hợp đồng. Hoạt động này tỏ
ra rất hiệu quả nên mức lợi nhuận mà ngân hàng thu về là rất lớn.
Với những đặc điểm như trên, cho vay trả góp đã tỏ ra là hoạt động rất
có ưu thế trong các loại hình cho vay của ngân hàng. Hiện nay, cho vay trả
góp đang chiếm tỷ lệ lớn trong doanh số cho vay của ngân hàng, đặc biệt là
trong cho vay tiêu dùng. Tuy lợi nhuận mà các món cho vay trả góp mang về

chi tiêu cấp bách như nhu cầu chi tiêu cho giáo dục, y tế. Tuy nhiên, nếu lạm
dụng có thể sẽ làm người đi vay chi tiêu vượt mức cho phép, làm giảm khả
năng tiết kiệm hoặc chi tiêu trong tương lai, gây ảnh hưởng tới cuộc sống của
họ sau này.
 Đối với ngân hàng
Ngân hàng thương mại là một trung gian tài chính. Trước khi trở thành
người cho vay, bản thân ngân hàng phải đi vay tiền của các cá nhân và tổ chức
trong xã hội. Song song với nỗ lực huy động vốn đó, các ngân hàng thương
mại còn cố gắng tối đa trong việc cấp tín dụng cho các cá nhân trong và ngoài
nước, đảm bảo hoạt động cho vay diễn ra nhanh nhất, an toàn và hiệu quả
nhất, đặc biệt bù đắp khoản chi phí huy động vốn và tạo sự chênh lệch thu chi
cho ngân hàng. Đối với hầu hết các ngân hàng, khoản mục cho vay thường
chiếm tới quá nửa giá trị tổng tài sản, từ 1/2 đến 2/3 nguồn thu của ngân hàng.
Việc mở rộng hoạt động cho vay trả góp vừa giúp ngân hàng mở rộng
được khách hàng, vừa tận dụng được nguồn vốn huy động, vừa đa dạng hóa
các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng. Bằng cách đó ngân hàng có thể nâng
cao sức mạnh trong cạnh tranh, đồng thời tạo ra sự khác biệt trong sản phẩm,
dịch vụ của mình. Điều này đặc biệt quan trọng đối với những ngân hàng có
17
Ngô Thanh Tùng Lớp: TCDN 46A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
xu hướng thực hiện chiến lược ngân hàng bán lẻ, đa dạng hoá dịch vụ cung
ứng.
Hơn thế nữa, hoạt động cho vay trả góp mang lại một khoản lợi nhuận
không nhỏ cho ngân hàng. Cho vay trả góp được đánh giá là hoạt động có
mức rủi ro thực tế thấp hơn so với các nghiệp vụ khác, hơn nữa số món vay
trả góp lại lớn, do đó rủi ro thực tế được chia sẻ bớt. Lãi suất áp dụng đối với
loại hình cho vay này lại tương đối cao, điều này khiến cho hoạt động cho vay
trả góp có tỷ suất lợi nhuận không nhỏ.
Mở rộng hoạt động cho vay trả góp giúp ngân hàng vừa mở rộng được

điểm nhất định. Dư nợ cho vay trả góp được tính như sau:
Dư nợ CVTG năm nay
Dư nợ CVTG năm trước
Doanh số thu nợ CVTG năm nay
Doanh số CVTG năm nay
=
+
-
Tăng trưởng dư nợ cho vay trả góp là chỉ tiêu tương đối thể hiện bằng
nhịp độ gia tăng tổng dư nợ cho vay trả góp năm sau so với năm trước. Đây là
chỉ tiêu cơ bản và quan trọng nhất làm căn cứ cho việc đánh giá hoạt động
cho vay trả góp. Chỉ tiêu này càng cao thể hiện hoạt động cho vay trả góp của
ngân hàng càng mở rộng.
 Tỷ trọng dư nợ cho vay trả góp trong tổng dư nợ:
Đây là chỉ tiêu tương đối phản ánh quy mô của các món vay trả góp
trong tổng số các món vay được ngân hàng giải ngân. Sự tăng trưởng của chỉ
tiêu này cho thấy sự phát triển của hoạt động cho vay trả góp của ngân hàng.
19
Ngô Thanh Tùng Lớp: TCDN 46A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
 Tỷ trọng thu nhập từ hoạt động cho vay trả góp trong tổng thu
nhập
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của các khoản cho vay trả góp.
Tỷ trọng này càng cao chứng tỏ khả năng sinh lời của các khoản cho vay trả
góp càng lớn.
Tỷ trọng thu nhập từ CVTG
=
Thu nhập từ CVTG
Tổng thu nhập
 Tỷ lệ nợ quá hạn trong tổng dư nợ cho vay trả góp

 Các nhân tố chủ quan
Việc phát triển hoạt động cho vay trả góp trước hết phụ thuộc vào chính
các yếu tố nội lực của ngân hàng.
• Chính sách của ngân hàng
Không chỉ hoạt động cho vay trả góp mà tất cả các hoạt động khác của
ngân hàng đều chịu sự chi phối trực tiếp từ những văn bản pháp quy, quy
trình, quy chế… của chính ngân hàng đó. Mỗi ngân hàng đều có một chính
sách tín dụng riêng bao gồm mức cho vay, lãi suất, tài sản đảm bảo… Một
chính sách tín dụng hợp lý của ngân hàng với các phương thức trả nợ gốc và
lãi linh hoạt, mức lãi suất hợp lý, thời hạn cho vay dài, đáp ứng nhu cầu đa
dạng của khách hàng thì chắc chắn sẽ thu hút được nhiều khách hàng đến vay.
Từ đó, ngân hàng sẽ dễ thành công hơn trong việc mở rộng hoạt động cho
vay. Ngược lại, nếu chính sách tín dụng của ngân hàng cứng nhắc, không chú
ý đến nhu cầu của khách hàng sẽ hạn chế cho vay, giảm tính cạnh tranh trong
hoạt động của ngân hàng.
• Định hướng chiến lược phát triển của ngân hàng
21
Ngô Thanh Tùng Lớp: TCDN 46A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nếu như ngân hàng không có định hướng rõ ràng trong việc phát triển
hoạt động cho vay, không có các chính sách phân bổ nguồn vốn một cách hợp
lý cho hoạt động này thì chắc chắn ngân hàng đó không thể hoạt động có hiệu
quả như mong muốn. Chẳng hạn một ngân hàng với định hướng phát triển các
dịch vụ ngân hàng bán lẻ, thì sẽ tập trung chủ yếu vào các đối tượng khách
hàng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cùng với tầng lớp trung lưu trong xã
hội. Từ đó, các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng cũng tập trung thoả mãn nhu
cầu của các đối tượng này. Khi đó, hoạt động ngân hàng sẽ đem lại hiệu quả
cao hơn. Hoặc những ngân hàng có chiến lược bán buôn thì khách hàng chính
của họ là những đối tác lớn như các tập đoàn, các tổng công ty hay các ban dự
án.

cư tăng lên, thu nhập của người dân được cải thiện, từ đó nhu cầu tiêu dùng
và hưởng thụ của người dân tăng lên bởi họ có thể yên tâm vào mức thu nhập
trong tương lai. Hoạt động cho vay trả góp của ngân hàng thương mại nhờ đó
sẽ có cơ hội phát triển mạnh. Ngược lại, khi nền kinh tế rơi vào suy thoái, mất
ổn định, người dân sẽ hạn chế nhu cầu chi tiêu mà chỉ duy trì một mức sống
bình thường, các doanh nghiệp không thể tăng cường hay mở rộng quy mô
hoạt động. Do vậy, môi trường kinh tế có ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động
cho vay trả góp của ngân hàng.
• Môi trường văn hoá xã hội
Thói quen, trình độ văn hoá cũng như phong tục tập quán, bản sắc dân
tộc cũng đều có ảnh hưởng nhất định đến hoạt động cho vay trả góp. Mỗi xã
hội đều có những nét đặc thù về văn hoá riêng biệt, nó cũng ảnh hưởng không
nhỏ đến nhu cầu tiêu dùng và hưởng thụ của dân cư. Điều đó ảnh hưởng hoặc
trực tiếp hoặc gián tiếp tới những nhu cầu tiêu dùng và hưởng thụ hiện đại
hơn của các cá nhân hay doanh nghiệp. Từ đó cũng ảnh hưởng đến hoạt động
cho vay của ngân hàng.
• Môi trường pháp lý
23
Ngô Thanh Tùng Lớp: TCDN 46A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Môi trường pháp lý có tác động đến tính quy chuẩn, trật tự giúp hoạt động
cho vay của ngân hàng diễn ra thông suốt và an toàn. Một môi trường pháp lý ổn
định với hệ thống các văn bản luật cụ thể, đầy đủ, rõ ràng và xuyên suốt sẽ tạo
điều kiện rất lớn cho sự phát triển của hoạt động cho vay trả góp của ngân hàng.
Ngược lại, nếu những văn bản và quy định của pháp luật không rõ ràng, rườm rà,
thiếu khoa học sẽ tạo ra nhiều khe hở khiến nhiều đối tượng xấu lợi dụng để
phạm pháp, gây khó khăn trong hoạt động của các ngân hàng.
• Các nhân tố thuộc về phía khách hàng
Nhóm nhân tố đầu tiên và quan trọng nhất phải kể đến trong những yếu
tố thuộc về khách hàng là đạo đức khách hàng. Nó được đánh giá trên năng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status