nghiên cứu - trao đổi
8 tạp chí luật học số 5/2009
PGS.TS. Bùi Xuân Đức *
rong hot ng x pht vi phm hnh
chớnh, vic c ra h thng cỏc
hỡnh thc x pht v cỏc bin phỏp khc
phc hu qu (gi chung l cỏc ch ti x
pht hnh chớnh
(1)
y , hp lớ cú hiu lc
v hiu qu cao cú ý ngha quan trng. Thi
gian qua, cựng vi quỏ trỡnh y mnh v
tng cng hot ng x pht hnh chớnh
bo m cho vic qun lớ nh nc cú hiu
lc, mt h thng cỏc ch ti x pht ó
c xõy dng v hon thin, c bit ó cú
nhng thay i th hin rừ tớnh giỏo dc, tinh
thn nhõn o v tụn trong cỏc quyn t do
dõn ch ca cụng dõn phự hp vi iu kin
xõy dng nh nc phỏp quyn, hi nhp
quc t nc ta hin nay.
Tuy nhiờn, trong quỏ trỡnh ỏp dng, h
thng ch ti ny ó v ang bc l nhng
bn quy nh cỏc hỡnh thc x pht i vi
cỏc hnh vi vi phm cỏc chớnh sỏch ca Nh
nc. T ú hỡnh thnh nờn h thng ch ti
x pht vi phm hnh chớnh vi nhng nột
c thự ng vi mi giai on phỏt trin ca
t nc. Cú th chia quỏ trỡnh ny theo 3
giai on sau:
a) Giai on t sau Cỏch mng thỏng
Tỏm nm 1945 n nm 1954
Trong giai on ny phỏp lut quy nh
T
* U ban trung ng Mt trn T quc Vit Nam nghiên cứu - trao đổi
tạp chí luật học số 5/2009
9
nhng bin phỏp x lớ rt c trng ỏp dng
i vi cỏc vi phm cng rt c trng ca
thi kỡ ú. Cỏc ch ti c quy nh ngay
trong cỏc vn bn theo tng lnh vc qun
lý. Mt s ch ti ca ch c c phộp
tm thi lu gi (nh pht giam vi cnh).
Hỡnh thc qun ch - hỡnh thc x pht
mang tớnh na hnh chớnh na hỡnh s cng
c ỏp dng i vi cỏc hnh vi phm ti
nhng cha ỏng pht tự nh: lm tay sai
cho ch, cha thc s hi ci, lu manh
chuyờn nghip
ngh nghip chớnh ỏng di hỡnh thc
cng ch lao ng bt buc. i vi cỏc
hnh vi vi phm vi cnh thỡ ngoi cỏc hỡnh
thc pht thng nh pht tin, tch thu,
phỏp lut tip tc gi hỡnh thc pht khỏ
nghiờm khc l pht giam hnh chớnh v
quy nh thờm hỡnh thc pht lao ng cụng
ớch. Hỡnh thc pht qun ch khụng thy
nhc n nhng cú l thay vo ú l hỡnh
thc pht mi l tp trung ci to c quy
nh ti Ngh quyt s 49/NQ-TVQH ngy
20/6/1961 ca U ban thng v Quc hi
v tp trung giỏo dc ci to nhng phn t
cú hnh vi nguy hi cho xó hi.
Nh vy, h thng ch ti x pht hnh
chớnh giai on ny gm: phờ bỡnh (n nm
1973 thỡ bi b), cnh cỏo, pht tin, tch thu
tang vt, phng tin vi phm, tc quyn
s dng giy phộp, cng ch np thu, gii
tỏn hi, cm hp, cng ch lao ng bt
buc, pht giam hnh chớnh, pht lao ng
cụng ớch, tp trung ci to. So vi giai on
trc, h thng ny ó tr nờn cht ch, y
v thng nht hn.
c) Giai on t nm 1989 n nay
T nm 1989 n nay, phỏp lut x pht
vi phm hnh chớnh núi chung cng nh ch
ti x pht núi riờng ó cú bc phỏt trin
mi. V hỡnh thc x pht, trờn c s k
tha nhng hỡnh thc phự hp ó cú, tip
thuc phm vi xem xột õy).
H thng ch ti c phõn ra hỡnh thc
x pht (chớnh v b sung) v cỏc bin phỏp
khc phc hu qu. Hỡnh thc x pht bao
gm hỡnh thc pht chớnh l cnh cỏo v
pht tin v hỡnh thc pht b sung l tc
quyn s dng giy phộp v tch thu tang vt
phng tin vi phm. Ngoi hỡnh thc pht,
cỏ nhõn, t chc cũn cú th b ỏp dng cỏc
bin phỏp khc phc hu qu nh: buc khụi
phc li tỡnh trng ó b thay i do vi phm
hnh chớnh gõy ra hoc buc thỏo d cụng
trỡnh xõy dng trỏi phộp; buc bi thng
thit hi; buc tiờu hu cỏc vn hoỏ phm
i tru, vt phm cú th gõy hi cho sc
kho con ngi; ỡnh ch hot ng gõy ụ
nhim mụi trng, gõy nỏo ng lm mt s
yờn tnh chung.
2. Nhng bt cp, hn ch ca h thng
ch ti x pht hnh chớnh hin hnh v
phng hng i mi, hon thin
2.1. Nhng bt cp, hn ch ca h thng
ch ti x pht vi phm hnh chớnh hin hnh
Cỏc quy nh v hỡnh thc ch ti hnh
chớnh v thc t thc hin cỏc quy nh ú
trong hot ng x pht vi phm hnh chớnh
hin nay ang ny sinh nhng bt cp v
vng mc lm hn ch n hiu lc v hiu
qu ca cụng tỏc ny v ũi hi sm c
khc phc ú l:
hình thức xử phạt này sẽ làm cho người vi
phạm thấy được sự nghiêm minh cũng như
độ lượng của pháp luật mà trở nên cẩn trọng
tự giác chấp hành pháp luật hơn. Nhiều khi
phạt cảnh cáo có hiệu quả hơn phạt tiền tràn
lan. Tuy nhiên, hiện tại việc quy định cơ sở
cũng như đối tượng áp dụng phạt cảnh cáo
trong pháp luật về xử phạt vi phạm hành
chính chưa rõ ràng dẫn đến khó vận dụng.
Điều kiện áp dụng phạt cảnh cáo được quy
định chung chung trong Pháp lệnh và các
nghị định sau đó đều ghi lại giống như Pháp
lệnh mà không quy định một cách chi tiết cụ
thể. Vi phạm lần đầu thì có thể hiểu được
nhưng thế nào là vi phạm nhỏ, có tình tiết
giảm nhẹ thì chưa được giải thích. Các quy
định chung chung này dẫn đến sự không
thống nhất trong việc áp dụng truy cứu trách
nhiệm hành chính tại các văn bản xử phạt
trong từng lĩnh vực. Đấy là chưa kể nhiều
văn bản hướng dẫn thi hành Pháp lệnh lại tự
đưa ra điều kiện khác như “chưa gây hậu quả
và chưa đến mức cần phải phạt tiền” càng
làm cho vấn đề rối thêm. Hơn nữa, về đối
tượng áp dụng, cảnh cáo áp dụng đối với cả
tổ chức có lẽ không phù hợp. Thực tế việc áp
dụng trách nhệm dưới hình thức cảnh cáo
đối với tổ chức không có tác dụng đấu tranh
phòng chống vi phạm hành chính. Còn việc
chỉ áp dụng cảnh cáo đối với mọi vi phạm
phân định rõ khung tiền phạt. Các mức phạt
tiền đối với các vi phạm hành chính cụ thể
được quy định trong Pháp lệnh và các nghị
định hiện tại nhìn chung còn rất chung
chung, chưa cụ thể. Ở Pháp lệnh chỉ mới quy
định mức phạt tiền tối đa áp dụng cho các
lĩnh vực quản lí nhà nước (5 nhóm lĩnh vực),
còn ở các nghị định mặc dù có kê ra các
hành vi vi phạm và mức phạt nhưng mức độ
phân loại cũng chưa cụ thể và mức phạt từ
tối thiểu đến tối đa là khá xa. Quy định như
vậy rõ ràng là gây khó khăn cho việc áp nghiªn cøu - trao ®æi
12 t¹p chÝ luËt häc sè 5/2009
dụng khi truy cứu trách nhiệm hành chính.
Điều này dễ gây ra sự tùy tiện trong việc
quyết định mức xử phạt. Có những hành vi
vi phạm hành chính như nhau, cùng thời
điểm song ở các địa điểm khác nhau và
người xử lí khác nhau sẽ có mức phạt khác
nhau. Cần thiết phải chia nhỏ khung phạt tiền
để áp dụng thống nhất và đúng đắn hơn.
(5)
Điều kiện và đối tượng áp dụng hình
thức phạt tiền cũng chưa được quy định rõ
và hợp lí. Theo quy định của Pháp lệnh thì
bản của Chính phủ quy định cụ thể. Chính
“điểm trống” này đang tạo ra hành vi tùy
tiện và không công bằng trong truy cứu trách
nhiệm hành chính; hình thức phạt bổ sung
tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng
để vi phạm hành chính cũng cần được quy
định cụ thể và chặt chẽ hơn trên tinh thần
của xử phạt hành chính là không nên có các
biện pháp thái quá không tương xứng với
tính chất và mức độ vi phạm hành chính,
với nguyên tắc không tịch thu toàn bộ, phải
để cho người vi phạm có điều kiện sinh
sống để tránh sự áp dụng tràn lan, đôi khi
lạm dụng, tùy tiện như vẫn thấy. Ở khía
cạnh khác, thời gian qua do yêu cầu tăng
cường đấu tranh đối với vi phạm hành chính
nhất là trong lĩnh vực quản lí giao thông,
trật tự xây dựng, văn minh đô thị… Chính
phủ và các cấp chính quyền địa phương đã
ban hành nhiều chính sách, biện pháp về xử
phạt hành chính, đặt ra thêm nhiều hình
thức xử phạt bổ sung, trong đó có hình thức
thậm chí còn trái với Pháp lệnh.
(6)
Thứ ba, về các biện pháp khắc phục
hậu quả:
Về bản chất đây là các biện pháp kèm
theo các hình thức phạt chính và bổ sung.
Pháp lệnh quy định 4 biện pháp khắc phục
giải quyết hậu quả. Cần thiết phải mở rộng
các hình thức chế tài đó. Kinh nghiệm nước
ta và kinh nghiệm các nước cho thấy còn có
nhiều hình thức xử phạt hành chính hiệu quả
mà ta cần nghiên cứu vận dụng. Theo chúng
tôi, việc pháp luật xử phạt vi phạm hành
chính nước ta từ năm 1995 đưa vào áp dụng
các biện pháp xử lí hành chính khác nói ở
trên (bao gồm: giáo dục tại xã, phường, thị
trấn; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ
sở giáo dục; đưa vào cơ sở chữa bệnh; quản
chế hành chính) chính là bắt nguồn từ sự
thiếu hụt các hình thức xử phạt, không đủ để
xử lí các vi phạm ngày càng trở nên đa dạng.
Tuy nhiên, việc mở rộng này, xét trên góc độ
xử phạt vi phạm hành chính lại đã và đang
bộc lộ nhiều khiếm khuyết đòi hỏi phải
chỉnh sửa.
Thứ năm, về việc quy định hai hình thức
phạt bổ sung:
Hai hình thức phạt bổ sung: tước quyền
sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề và
tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng
để vi phạm hành chính chỉ được áp dụng
cùng với hình thức phạt chính trên thực tế là
không phù hợp. Nhiều trường hợp, đối tượng
vi phạm bỏ chạy nên không áp dụng được
hình phạt chính, từ đó cũng không thể áp
dụng hình thức phạt bổ sung được.
3.2. Phương hướng đổi mới, hoàn thiện
chính vừa phạt bổ sung như hiện nay là phù
hợp. Vấn đề đặt ra là cần xác định lại hình
thức nào chỉ áp dụng phạt chính, hình thức
nào chỉ áp dụng phạt bổ sung và hình thức
nào vừa áp dụng như là phạt chính vừa có thể
áp dụng như là phạt bổ sung cũng như việc
phạt bổ sung có nhất thiết phải gắn với phạt
chính hay không? Hiện tại có 5 hình thức xử
phạt. Giả dụ Luật xử phạt vi phạm hành chính
sẽ quy định thêm các hình thức phạt mới
được đề nghị ở trên thì lúc đó sẽ có 8 hình
thức phạt là: cảnh cáo, phạt tiền, phạt giam
hành chính, phạt lao động công ích, cấm đảm
nhận trách nhiệm, trục xuất, tước quyền sử
dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, tịch
thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi
phạm hành chính. Trong số các hình thức đó,
theo chúng tôi, các hình thức phạt cảnh cáo,
phạt tiền, phạt giam hành chính, phạt lao
động công ích, cấm đảm nhận trách nhiệm chỉ
áp dụng như là hình thức phạt chính; hình
thức tước quyền sử dụng giấy phép, chứng
chỉ hành nghề (hiện chỉ là hình thức phạt bổ
sung), trục xuất được áp dụng như là phạt
chính vừa có thể áp dụng như là phạt bổ sung;
tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng
để vi phạm hành chính là hình thức chỉ phạt
bổ sung. Việc áp dụng các hình thức phạt bổ
sung không nhất thiết phải đi kèm với phạt
chính. Có như vậy mới đảm bảo đấu tranh kịp
biệt là những nguyên tắc của chủ nghĩa lập
hiến càng ngày càng phải được đề cao. Một
trong những nguyên tắc đó là: những vấn đề
về quyền và nghĩa vụ công dân phải được
luật - do cơ quan đại diện quyền lực nhà
nước cao nhất hoặc cơ cấu tương đương ban
hành - quy định.
(7)
Ở nước ta, như đã đề cập
ở trên, thời kì đầu việc quy định về xử phạt
hành chính do nhiều cơ quan thực hiện, đến
Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính năm
1989 chỉ có Hội đồng bộ trưởng và hội đồng
nhân dân cấp tỉnh được quy định. Hiến pháp
năm 1992 tại Điều 51 đã ghi nhận nguyên nghiên cứu - trao đổi
tạp chí luật học số 5/2009 15
tc quyn v ngha v cụng dõn do hin
phỏp v lut quy nh. T Phỏp lnh x lớ
vi phm hnh chớnh nm 1995 ó bc u
tuõn th nguyờn tc ny khi xỏc nh ch cũn
Chớnh ph c quyn quy nh. Vic ban
hnh B lut x pht hnh chớnh, tc vn
bn lut do Quc hi ban hnh quy nh ton
b cỏc vn x pht vi phm hnh chớnh l
hon ton phự hp vi xu th chung v
nguyờn tc hin nh ú./.
chớnh nm 1984 vi nhng sa i b sung n nm
1998. Tp chớ o lut, 9/1998, ting Nga).
QUY NH CA PHP LUT I VI
DOANH NGHIP (tip theo trang 7)
Th ba, cn quy nh c th v liờn kt
o to ngh v mi liờn h gia doanh
nghip v c s o to ngh. S liờn kt dy
ngh gia doanh nghip vi c s dy ngh
u xut phỏt t li ớch cỏc bờn ng thi u
hng ti mc tiờu chung trong phỏt trin s
nghip dy ngh. Tuy nhiờn hin nay, vic
liờn kt o to gia doanh nghip vi c s
dy ngh nc ta ch yu l t phỏt nờn cũn
nhiu hn ch, lng lo c v trỏch nhim v
quyn li. Vỡ th, trong c ch th trng, do
yờu cu ca cnh tranh v hi nhp, s liờn
kt ny phi c th ch hoỏ bng nhng
vn bn phỏp quy. Trong ú cng cn thit
quy nh c th cỏc lnh vc chớnh trong mi
quan h gia doanh nghip vi c s o to
ngh. Cú nh vy thỡ mi quan h ny mi
cú th phỏt trin nhanh chúng v bn vng
gúp phn nõng cao cht lng v hiu qu
o to trong bi cnh hin nay.
Th t, tng cng hp tỏc quc t gia
doanh nghip vi cỏc c s o to v doanh
nghip nc ngoi. Hp tỏc quc t l con
ng ngn nht v hiu qu nht tip cn
vi khoa hc, cụng ngh cỏc nc tiờn tin.
Vỡ th doanh nghip cn xõy dng mi liờn