Lời nói đầu
Đổi mới kinh tế ở Việt Nam đã trở thành một hiện thực sống động,
tạo ra một bước ngoặt quan trọng đời sống kinh tế xã hội nước ta, được
bạn bè quốc tế quan tâm sâu sắc và đánh giá cao. Đường lối chính sách ấy
được khởi nguồn từ Đại hội Đảng toàn quốc Việt Nam lần thứ VI. Đại
hội VI Đảng cộng sản Việt Nam đã phân tích đúng đắn nguyên nhân của
tình hình khủng hoảng kinh tế xã hội, đề ra định hướng lớn để thoát khỏi
tình trạng đó, đồng thời cũng đề ra đường lối đổi mới toàn diện cho nền
kinh tế Nhà nước.Thương mại nước ta, từ đó cũng liên tục vận động cho
phù hơp với thời kỳ đổi mới, trong đó phải kể đến một bộ phận vô cùng
quan trọng đó là thương mại quốc tế mà cụ thể là lĩnh vực xuất nhập
khẩu.
Nhập khẩu từ lâu đã được thừa nhận là một mặt hoạt động cơ bản
của kinh tế đối ngoại là một phương tiện quan trọng để phát triển nền
kinh tế. Nhập khẩu cho phép khai thác các tiềm năng thế mạnh của các
nước trên thế giới, bổ sung các sản phẩm trong nước chưa sản xuất được
hoặc sản xuất không đủ nhu cầu tiêu dùng trong nước.
Như chúng ta đã biết, Việt Nam cũng như một số nước nghèo chậm
phát triển khác đang tăng cường nhập khẩu máy móc thiết bị tiên tiến. Ta
cũng biết rằng máy móc, thiết bị, vật tư giữ một vị trí không nhỏ trong
công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Trong thời đại ngày
nay những phát minh sáng chế trong việc thiết kế chế tạo máy móc, thiết
bị của thế giới thay đổi từng ngày từng giờ, nếu không nắm bắt được các
thông tin đầy đủ, chính xác kịp thời thì việc chúng ta nhập khẩu máy móc
thiết bị công nghệ sẽ có thể dẫn đến tổn thất không nhỏ cho đất nước. Vì
vậy, việc nhập khẩu máy móc, vật tư thiết bị như thế nào để phù hợp với
điều kiện nền kinh tế của Việt Nam và đạt hiệu quả cao là vấn đề mà các
nhà doanh nghiệp nhập khẩu và các nghành các cấp có liên quan đang rất
quan tâm xem xét. Đặc biệt việc nhập khẩu máy móc thiết bị trong lĩnh
vực giao thông vận tải luôn có một lĩnh vực giao thông vận tải có một ý
nghĩa quan trọng trong việc củng cố, duy trì và nâng cao chất lượng cơ sở
và là một quy luật mà mọi quốc gia trong khu vực và trên thế giới
đều phải tuân theo. Biểu hiện rõ nét nhất của xu thế này là quá
trình tự do hoá buôn bán trong khu vực, lãnh thổ và phạm vi trên
toàn thế giới. Và mỗi người dân của một nước đã không ít lần sử
dụng hàng loạt kết quả của các giao dịch quốc tế. Đó là chúng ta
được đI xe ôtô TOYOTA của Nhật sản xuất, sử dụng máy tính
IBM của Mỹ, quần áo của Trung Quốc….
Với ý nghĩa ấy, Nhập khẩu được hiểu là hoạt động mua hàng
hoá của các doanh nghiệp trong nước từ nước ngoài nhằm mục
tiêu thoả mãn nhu cầu tiêu dùng cũng như sản xuất trong nước và
là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng giữa các quốc gia với nhau.
Nhập khẩu cũng là một trong những hoạt động cốt lõi của thương
mại quốc tế.
2. Các hình thức nhập khẩu.
Không phải ngẫu nhiên ngày nay có nhiều doanh nghiệp tham
gia vào các hoạt động thương maị quốc tế, mà là do kinh doanh
quốc tế có sự phong phú đa dạng về các phương thức hoạt động.
Chính sự đa dạng này cho phép các doanh nghiệp có thể tìm thấy
được những lợi ích thông qua việc lựa chọn phương thức phù hợp
với khả năng của mình nhất. Trước sự phát triển thay đổi của thị
3
trường, đến nay có một số phương thức nhập khẩu chủ yếu sau
mà các doanh nghiệp thường chọn lựa:
a/ Nhập khẩu uỷ thác.
Trong giao dịch quốc tế, không phải doanh nghiệp nào cũng
có thể tham gia một cách trực tiếp do nhiều yếu tố khác nhau,
trong khi đó họ lại muốn được giao dịch. Từ nhu cầu đấy hình
thành nên phương thức nhập khẩu uỷ thác. Đó là phương thức mà
doanh nghiệp này uỷ thác cho doanh nghiệp có chức năng giao
dịch trực tiếp tiến hành nhập khẩu theo yêu cầu của mình. Bên
c/ Nhập khẩu liên doanh.
Là hoạt động nhập khẩu hàng hoá trên cơ sở liên kết một
cách tự nguyện giữa các doanh nghiệp (trong đó có ít nhất một
doanh nghiệp nhập khẩu trực tiếp) nhằm phối hợp cùng nhau giao
dịch và đề ra các chủ trương biện pháp có liên quan đến hoạt
động nhập khẩu, thúc đẩy hoạt động này phát triển theo hướng có
lợi cho các bên tham gia, lãi cùng hưởng rủi ro cùng chịu.
Đặc điểm:
- Các bên tham gia chỉ phải góp một phần vốn nhất định và
tỷ lệ phân chia lãi lỗ phụ thuộc vào tỷ lệ vốn góp giữa các bên.
5
- Doanh nghiệp đứng ra nhập hàng sẽ được kim ngạch
nhập khẩu, nhưng khi đưa hàng về tiêu thụ chỉ được tính doanh
số bán hàng trên số hàng theo tỷ lệ vốn góp và chịu thuế trên
doanh số đó. Doanh nghiệp đứng ra nhập khẩu phải lập hai hợp
đồng:
1. Một hợp đồng với đối tác nước ngoài.
2. Một hợp đồng với đối tác liên doanh.
d/ Nhập khẩu hàng đổi hàng.
Là hình thức nhập khẩu gắn liền với xuất khẩu, phương tiện
thanh toán trong hợp đồng này không phải là tiền mà bằng hàng
hoá. Mục đích nhập khẩu ở đây không phải chỉ thu lãi từ hoạt
động nhập khẩu mà còn nhằm để xuất khẩu được hàng và thu lợi
từ hoạt động xuất khẩu nữa.
Đặc điểm:
- Phương thức này mang lại nhiều lợi ích hơn cho các bên
tham gia hợp đồng và có thể tiến hành cùng một lúc cả hoạt động
xuất và nhập khẩu.
- Hàng hoá xuất và nhập cũng là bạn hàng trong hoạt động
xuất khẩu.
7
2. Hợp đồng nhập khẩu và không chịu thuế xuất nhập
khẩu đối với các mặt hàng kinh doanh.
- Để đảm bảo thanh toán, hợp đồng tái xuất thường sử
dụng thư tín dụng giáp lưng.
- Hàng hoá không nhất thiết phải qua nước tái xuất mà có
thể nhập thẳng về nước thứ ba (các hoạt động giao dịch thì vẫn
liên quan đến nước tái xuất). Doanh nghiệp tái xuất còn có thể có
được những khoản lợi do được thanh toán tiền hàng song lại có
thể trả chậm cho bên xuất khẩu.
Với nhiều phương thức nhập khẩu như vậy, các doanh nghiệp
cần thiết phải tiến hành nghiên cứu kỹ lưỡng môi trường kinh
doanh, để từ đó ứng dụng các phương thức này một cách linh
hoạt với thị trường này, với bạn hàng này, ta có thể dùng phương
thức nào là có lợi hơn, song với thị trường, với bạn hàng khác và
vào một thời điểm khác thì phương thức ấy chưa chắc đã có lợi
bằng các phương thức khác. Không nên áp dụng một hay một vài
phương pháp cho mọi thị trường và mọi đối tác.
3. Quy trình nhập khẩu hàng hoá của doanh nghiệp
3.1 Xác định mặt hàng nhập khẩu
Mỗi doanh nghiệp có những nhiệm vụ chức năng khác nhau.
Vì vậy tuỳ thuộc vào chức năng pháp lý của từng doanh
nghiệp mà doanh nghiệp cần thực hiện nhiệm vụ kinh doanh
về chủng loại hay mặt hàng nào. Từ đó lựa chọn phương thức
giao dịch nhập khẩu. Trong kinh doanh thương mại quốc tế có
8
nhiều phương thức giao dịch khác nhau để doanh nghiệp có
nhiêù sự lựa chọn phù hợp đó là :
a/ Giao dịch thông thường.
Là phơng thức giao dịch đợc thực hiện ở mọi nơi, mọi lúc,
+ Xác định mức giá thấp nhập khẩu đối với thị ttrờng có
quan hệ giao dịch.
Trên cơ sở phân tích đúng đắn ảnh hưởng của nhân tố tới giá
cả doanh nghiệp sẽ nắm được xu hướng biến động của chúng, từ
đó xác định mức giá cho mặt hàng mà ta có kế hoạch nhập khẩu
đối với thị trường ta sẽ giao dịch.
Nếu mặt hàng này thuộc về đối tượng giao dịch phổ biến hoặc
có trung tâm giao dịch trên thế giới thì phải tham khảo giá thị
trường thế giới về mặt hàng cần kinh doanh. Chú ý khi định giá
cần tính đến yếu tố cước phí vận tải, cũng có thể dựa vào chào
hàng của hãng, dựa vào giá nhập khẩu của thời kỳ trước, vào giá
của lô hàng trước, các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật để tăng hay giảm
giá thành nhập khẩu khi giao dịch.
3.3 Đàm phán, ký kết hợp đồng nhập khẩu.
Sau khi chọn các bên tiến hành giao dịch đàm phán có kết
quả phải đi đến ký kết hợp đồng kinh tế .
10
Trước khi đàm phán ký kết hợp đồng doanh nghiệp phải đặt
hàng của đối tác cung cấp hàng nhập khẩu và dịch vụ, sau khi đặt
hàng doanh nghiệp có thể nhận được bản chào hàng hay thư trả
lời của nhà cung cấp. Từ đây doanh nghiệp có thể nắm bắt được
những thông tin cần thiết về giả cả, quy cách…của hàng hoá
nhập khẩu. Trong kinh doanh buôn bán quốc tế, các bên tham gia
giao dịch thường có phong tục tập quán, ngôn ngữ, tài chính tiền
tệ…khác nhau. Dẫn đến quyền lợi của các bên không thống nhất ,
trái ngược nhau, để giải quyết những bất đồng này các bên tham
gia đàm phán phảI trao đổi thống nhất các quan điểm chung với
nhau để có thể đi đến một hợp đồng ngoại thương.
Hợp đồng kinh tế ngoại thương là sự thoả thuận của những
doanh nghiệp, tổ chức quốc tịch khác nhau trong đó một bên là
+ Đồng tiền thanh toán
+ Thời hạn thanh toán
+ Phương thức thanh toán: Có nhiều phương thức trả tiền
nhưng trong thanh toán quốc tế chủ yếu dùng hai phương thức
sau:
* Phương thức nhờ thu
* Phương thức tín dụng chứng từ
c/ Phương thức ký hợp đồng.
12
*/ Có nhiều cách ký kết hợp đồng đó là:
- Hai bên ký kết vào một hợp đồng mua bán (một văn bản).
- Người mua xác nhận (bằng văn bản) là người mua đồng ý với
các điều khoản của một chủ chào hàng tự do. Nếu người mua viết
đúng thủ tục cần thiết và gửi đúng trong thời hạn quy định cho
người bán.
- Người bán xác nhận (bằng văn bản) đơn đặt hàng của người
mua. Trong trường hợp này hợp đồng thể hiện bằng hai văn bản:
đơn đặt hàng của người mua và văn bản xác nhận của người bán.
- Trao đổi bằng thư xác nhận đạt được thoả thuận giữa các bên
(nêu rõ các thoả thuận đã thoả thuận).
3.4 Thực hiện hợp đồng .
Sau khi hợp đồng được ký kết tức là quyền lợi và nghĩa vụ
của các bên được xác lập, các bên cần phải tổ chức thực hiện hợp
đồng đó. Bên nhập khẩu cần phải xắp xếp các việc phải làm và
ghi thành biểu bảng theo dõi tiến độ thực hiện hợp đồng. Quá
trình thực hiện hợp đồng rất phức tạp đòi hỏi các bên tham gia
phải tuân thủ luật lệ quốc gia và quốc tế, đồng thời đảm bảo
quyền lợi của quốc gia và uy tín của doanh nghiệp.
Trình tự các bước thực hiện hợp đồng gồm có:
+ Xin giấy phép nhập khẩu.
14
b/ Mở thư tín dụng L/C.
Nếu hợp đồng quy định phải thanh toán bằng phương thức th-
ư tín dụng chứng từ thì bên mua phải mở L/C ở ngân hàng khi có
thông báo của bên bán.
Thời gian mở L/C phụ thuộc vào thời hạn giao hàng. Để cho
chặt chẽ, hợp đồng thường quy định cụ thể ngày giao hàng và
ngày mở L/C. Nếu hợp đồng quy định không cụ thể thường thời
gian này là khoảng 15 - 20 ngày trước khi đến thời hạn giao hàng.
Cơ sở để mở L/C là các điều khoản trong hợp đồng. Đơn vị hợp
đồng dựa vào cơ sở đó làm đơn xin mở L/C theo mẫu của ngân
hàng.
c/ Thuê tàu chở hàng.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng việc ai thuê tàu, thuê tàu
theo hình thức nào dựa vào ba căn cứ: điều khoản hợp đồng, đặc
điểm hàng hoá, điều kiện vận tải. Nếu điều kiện cơ sở giao hàng
là FOB thì bên nhập khẩu phải thuê tàu chở hàng, còn nếu điều
kiện cơ sở giao hàng là CIF thì bên nhập khẩu không phải thuê
tàu mà nghĩa vụ đó thuộc về người bán.
Tuỳ theo đặc điểm của hàng hoá kinh doanh mà doanh nghiệp
lựa chọn phương thức thuê tàu phù hợp: tàu chuyến, tàu chợ hay
tàu bao. Nếu nhập khẩu thường xuyên với khối lợng lớn thì nên
thuê bao, nhập khẩu không thường xuyên nhưng khối lượng lớn
thì nên thuê tàu chuyến,còn nếu nhập khẩu với khối lượng nhỏ thì
thuê tàu chợ.
d/ Mua bảo hiểm hàng hoá.
15
Hàng hoá chuyên chở trên biển thường gặp nhiều rủi ro, mát
mát. Để hạn chế mọi tổn thất có thể xảy ra thì bảo hiểm hàng hoá
đường biển ra đời là loại bảo hiểm phổ biến nhất trong ngoại th-
giấy tờ liên quan và hàng hoá, hải quan ra quyết định: Cho hàng
được phép qua biên giới (thông quan) hoặc cho hàng qua với một
số điều kiện kèm theo hoặc hàng không được nhận,...Chủ hàng
phải thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của hải quan.
f/ Nhận hàng, kiểm tra hàng:
Để nhận được hàng hoá nhập khẩu từ nước ngoài về doanh
nghiệp nhập khẩu phải làm các công việc sau:
- Ký kết hợp đồng với cơ quan vận tải về việc giao hàng.
- Xác nhận với cơ quan vận tải kế hoạch tiếp nhận hàng hoá
nhập khẩu từng tháng, từng quý, từng năm, cơ cấu hàng hoá, lịch
tàu, vận chuyển, giao nhận.
- Cung cấp các tài liệu cần thiết cho việc nhận hàng như vận
đơn, lệnh giao hàng,... nếu tàu biển không giao những tài liệu đó
cho cơ quan vận tải.
- Theo dõi việc giao nhận và giải quyết trong phạm vi của
mình những vấn đề xảy ra trong việc giao nhận.
- Thanh toán cho cơ quan vận tải các khoản phí tổn về giao
nhận, bốc xếp, bảo quản, vận chuyển hàng hoá nhập khẩu.
17
- Thông báo cho doanh nghiệp đặt hàng chuẩn bị tiếp nhận
hàng hoá.
- Chuyển hàng hoá về kho hàng của doanh nghiệp hoặc giao
trực tiếp cho các đơn vị đặt hàng.
- Kiểm tra hàng hoá: Hàng hoá nhập khẩu về qua cửa khẩu
phải được kiểm tra chặt chẽ , trách các sai sót. Mỗi cơ quan chứ
năng tiến hành kiểm tra đúng quyền hạn của mình. Nếu phát hiện
ra các dấu hiệu không bình thường thì mời bên giám định đến lập
biên bản. Cơ quan giao thông kiểm tra niêm phong, kẹp chì trước
khi dỡ hàng ra khỏi phương tiện vận tải. Đơn vị nhập khẩu có tư
cách là một bên đứng tên trong vận đơn cũng phải kiểm tra hàng
quả và đem lại lợi nhuận cao nhất cho doanh nghiệp. Đây là khâu
cuối cùng nhưng nó có vai trò hết sức quan trọng trong kết quả
kinh doanh của một doanh nghiệp nhập khẩu. Vì vậy doanh
nghiệp cần phải:
- Nghiên cứu kỹ nhu cầu thị trường trong nước và tâm lý khách
hàng trong việc mua hàng hoá nhất là đối với hàng hóa mà doanh
nghiệp kinh doanh.
- Xác đinh các kênh phân phối hàng hoá và các hình thức bán
hàng phù hợp đạt hiệu quả cao.
19
- Tiến hành quảng cáo hàng hoá và xúc tiến hoạt động bán
hàng.
- Xác định mức giá cụ thể dựa trên cơ sở cung cầu thị trường
trong nước và chi phí của doanh nghiệp bỏ ra.
- Tổ chức, đào tạo nhân sự của doanh nghiệp về nghiệp vụ bán
hàng cụ thể tại các cửa hàng.
- Chấp hành những quy định của phấp luật nhà nước ban hành.
4. Đặc điểm của sản phẩm thiết bị y tế:
Sản phẩm thiết bị y tế một yếu tố quan trọng trong việc bảo vệ và
chăm sóc sức khoẻ của người dân. Sản phẩm thiết bị y tế bao
gồm nhiều chủng loại hàng hoá khác nhau nhưng có thể chia
thành 3 nhóm chính sau: Thiết bị y tế, dụng cụ y tế, hoá chất và
vật tư y tế. Những mặt hàng này chủ yếu phục vụ trong nghành y
tế thường có yêu cầu cao về chất lượng kỹ thuật, vệ sinh, bảo
quản phải nghiêm ngặt đúng theo một quy trình quy định tiêu
chuẩn và có giá thành cũng rất cao. Ví dụ như máy chụp cắt lớp,
máy siêu âm, máy X quang, ôtô cứu thương đều có giá mấy chục
nghìn USD.
Hoà với nhịp độ phát triển kinh tế của đất nước và trên thế giới,
thì yêu cầu của nhiều người dân ngày càng cao về chất lượng
tiếp tới khối lượng kinh doanh của doanh nghiệp. Việc làm của các doanh
nghiệp là xác định được lượng cung và cầu hiện tại, đồng thời cần phải
dự báo được những xu hướng thay đổi của nó trong ngắn hạn cũng như
21
dài hạn. Với các doanh nghiệp nhập khẩu, việc làm này không chỉ dừng
lại ở thị trường nội địa mà phải trên các thị trường khác và cả thị trường
quốc tế. Đặc biệt với các doanh nghiệp vừa nhập khẩu thành phẩm vừa
nhập khẩu bán thành phẩm và nguyên liệu như Công ty XNK và kỹ thuật
bao bì thì hoạt động của họ còn phải chịu chi phối của nền sản xuất và
từng thời kỳ phát triển của đất nước.
5.3 Chính sách quản lý vĩ mô và quan hệ kinh tế quốc tế của Nhà
nước.
Ngoài hệ thống luật pháp, tuỳ từng thời kỳ phát triển của đất nước mà
chính phủ ban hành các chính sách vĩ mô quản lí hoạt động nhập khẩu.
Các chính sách mà các chính phủ thường đưa ra và tác động trực tiếp tới
hoạt động nhập khẩu là việc dựng nên các hàng rào nhằm bảo hộ nền sản
xuất còn yếu sức cạnh tranh trong nước. Các công cụ mà thường sử dụng
là công cụ thuế quan và công cụ phi thuế quan (hạn nghạch, giấy phép
nhập khẩu, biện pháp quản lí ngoại tệ và các tiêu chuẩn địa phương).
a/ Chính sách tỷ giá hối đoái.
Tỷ giá hối đoái có tác động rất lớn tới hoạt động nhập khẩu vì nó là
cơ sở để so sánh giá cả của hàng hoá trong nước với thế giới, đồng thời
phục vụ cho sự vận động của tiền tệ và hàng hoá giữa các quốc gia, các
doanh nghiệp nhập khẩu theo dõi và căn cứ vào tỷ giá hối đoái giữa đồng
nội tệ và ngoại tệ để đẩy mạnh hay hạn chế hoạt động của mình. Khi
đồng nội tệ bị mất giá thì hoạt động nhập khẩu là không có lợi và so với
trước doanh nghiệp phải trả nhiều tiền hơn cho một đơn vị hàng hoá và
ngược lại khi đồng nội tệ tăng giá thì hoạt động nhập khẩu là có lợi và so
với trước doanh nghiệp phải trả ít tiền hơn cho một đơn vị hàng hoá. Sự
điều tiết tỷ giá của Nhà nước: cố định, thả nổi, hay thả nổi có quản lý vì
xuất khẩu phát triển và ngược lại.
23
24
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU CUẢ CÔNG TY CỔ
PHẦN THIẾT BỊ Y TẾ MEDINSCO
I. Kết quả kinh doanh của công ty Medinsco.
Để biết về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty,chúng ta đi tìm
hiểu và phân tích một số chỉ tiêu của công ty trong năm 2004 đến 2006.
Bảng 1: Kết quả kinh doanh của công ty Medinsco
ĐVT : triệu đồng
Chỉ tiêu
TH năm
2004
TH năm 2005
TH năm
2006
Tỷ lệ %
06/05
I. Giá trị( doanh thu) 76.202 84.000 179.729 214
1. kinh doanh sản phẩm
chính: 72.414 80.200 175.297 218
_Máy, thiết bị y tế 42.314 43.243 96.745
_Dụng cụ y tế 15.265 17.576 34.256
_Hoá chất và vật tư 14.835 19.381 44.296
2. Phí hàng uỷ thác 0.416 0.8 1.153 144
3. Trị giá phí dịch vụ 3.372 3.000 3.279 109
II. Gía trị hàng nhập khẩu 52.800 62.500 144.800 153
III. Lợi nhuận trước thuế 416 1.390 2.465 177
IV. Thuế TNDN 116 380 769
V. Lợi nhuận sau thuế 300 1.010 1.696 122