LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan với Nhà trường và Khoa là: Chuyên đề thực tập tốt nghiệp này là do
em tự nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của TS. Đàm Quang Vinh, và sự giúp đỡ của các anh
chị trong Phòng Xuất nhập khẩu - Công ty cổ phần xuất nhập khẩu Viglacera. Bài viết
không có sự sao chép từ bất cứ chuyên đề thực tập hoặc luận văn tốt nghiệp nào, mà các tài
lệu đó chỉ mang tính chất tham khảo. Nếu như lời cam đoan trên đây là sai, em xin chịu
trách nhiệm trước Nhà trường và Khoa
Lời cảm ơn
Trong thời gian thực tập, em đã nhận được sự hướng dẫn nhiệt tình của TS. Đàm
Quang Vinh và sự chỉ bảo của các cán bộ Phòng XNK Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu
Viglacera. Từ đó, đã giúp em hoàn thành tốt hơn chuyên đề tốt nghiệp của mình.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới TS. Đàm Quang Vinh và các cán bộ phòng XNK
Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Viglacera đã hết sức tạo điều kiện và tận tình hướng dẫn,
giúp đỡ em trong quá trình thực tập và hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp.
Đồng thời, em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa Kinh tế & Kinh
doanh Quốc tế trường Đại học Kinh tế Quốc Dân đã trang bị cho em những kiến thức cần
thiết và bổ ích làm cơ sở để em có thể hoàn thành tốt đề tài của mình.
Hà Nội, ngày tháng năm 2007
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
LỜI MỞ ĐẦU......................................................................................................9
CHƯƠNG 1........................................................................................................12
Những vấn đề lý luận chung về hoạt động nhập khẩu và quy trình tổ chức
thực hiện hợp đồng nhập khẩu...........................................................................12
1.1.Khái quát về hoạt động nhập khẩu..................................................12
1.1.1.Khái niệm về nhập khẩu...................................................................12
1.1.2. Vai trò của nhập khẩu......................................................................12
1.1.3. Các hình thức nhập khẩu hàng hoá.................................................15
1.1.4. Quy trình hoạt động nhập khẩu.......................................................17
1.2. Quy trình tổ chức thực hiện hợp đồng nhập khẩu.........................22
cổ phần xuất nhập khẩu Viglacera tại thành phố Hồ Chí Minh thực hiện
mọi hoạt động kinh doanh tiêu thụ sản phẩm Viglacera trong phạm vi
khu vực các tỉnh phía Nam........................................................................44
2.1.4. Đặc điểm nguồn lực của Công ty....................................................44
2.1.4.1. Vốn kinh doanh............................................................................44
Khi chưa tiến hành cổ phần hoá, Công ty cổ phần xuất nhập khẩu
Viglacera là một đơn vị nhà nước trực thuộc Tổng công ty Thuỷ tinh và
Gốm xây dựng. Vì vậy, một mặt nó chịu sự quản lý về mặt tổ chức, mặt
khác được nhận vốn kinh doanh do Nhà nước và Tổng công ty cấp và
còn có thể nhận được một lượng vốn nhất định từ ngân sách nhà nước
khi cần thiết. Đây có thể nói là nguồn vốn ban đầu đảm bảo cho Công ty
hoạt động. Công ty phải có trách nhiệm bảo toàn và phát triển nguồn vốn
này trong quá trình kinh doanh của mình. Trong các năm qua, nhờ có sự
cố gắng vượt bậc về huy động vốn, tổng vốn kinh doanh của Công ty
không ngừng tăng lên................................................................................44
Đơn vị tính: Tỷ đồng.................................................................................44
Chỉ tiêu.......................................................................................................44
Năm 2002...................................................................................................44
Năm 2003...................................................................................................44
Năm 2004...................................................................................................44
Năm 2005...................................................................................................44
vốn..............................................................................................................44
Tỷ trọng......................................................................................................44
(%)..............................................................................................................44
vốn..............................................................................................................44
Tỷ trọng......................................................................................................44
(%)..............................................................................................................44
vốn..............................................................................................................44
Tỷ trọng......................................................................................................44
(%)..............................................................................................................44
(Nguồn: Báo cáo tổng kết năm – Phòng tổ chức hành chính – Công ty cổ
phần xuất nhập khẩu Viglacera)................................................................45
Qua bảng trên ta thấy, tổng số vốn của Công ty qua các năm đều tăng,
năm sau cao hơn năm trước tuy có sự thay đổi khá lớn của tỷ trọng giữa
nguồn vốn cố định và nguồn vốn lưu động so với tổng số vốn. Mặc dù
vậy, xét về tuyệt đối thì cả vốn lưu động và vốn cố định của Công ty đều
tăng qua các năm. Điều này chứng tỏ hoạt động sản xuất kinh doanh của
Công ty có hiệu quả và Công ty chú trọng đến việc bảo toàn và phát triển
nguồn vốn. Cụ thể: năm 2002, tổng số vốn của công ty là 2100 tỷ đồng,
trong đó vốn cố định là 357 tỷ đồng chiếm 17%, vốn lưu động là 1743 tỷ
đồng chiếm 83%. Năm 2003, tổng số vốn là 2560 tỷ đồng, trong đó vốn
cố định là 358,4 tỷ đồng chiếm 14%, vốn lưu động là 2201,6 tỷ đồng
chiếm 86%. Công ty là một đơn vị kinh doanh thương mại do đó vốn lưu
động chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số vốn của Công ty và tỷ trọng vốn
cố định giảm dần so với tỷ trọng của vốn lưu động. Trong các năm tiếp
theo vốn cố định tăng lên nhiều do Công ty được Tổng công ty giao
nhiệm vụ trực tiếp quản lý việc tiến hành thi công xây dựng và điều hành
việc sản xuất kinh doanh của Nhà máy sản xuất gương và các sản phẩm
sau kính Bình Dương. Vì thế, từ năm 2004, tổng số vốn của Công ty tăng
mạnh đặc biệt là vốn cố định. Trong năm 2004, tổng số vốn của Công ty
là 3200 tỷ đồng, trong đó vốn cố định là 1008 tỷ đồng chiếm 31,5%, vốn
lưu động là 2192 tỷ đồng chiếm 68,5%. Năm 2005, tổng số vốn là 5119
tỷ đồng, trong đó vốn cố định là 2272,84 tỷ đồng chiếm 44,4%, vốn lưu
động là 2846,16 tỷ đồng chiếm 55,6%.....................................................45
Cuối tháng 3 năm 2006, Công ty hoàn tất thủ tục cổ phần hoá, số vốn
điều lệ được đóng góp của các cổ đông như sau:.....................................45
Tổng vốn điều lệ là 2 tỷ. Trong đó các cổ đông chính là:.......................45
Tổng công ty Thuỷ tinh và Gốm xây dựng. Đại diện: Trần Quốc Thái. Lê
Minh Tuấn (chiếm 40% tổng vốn điều lệ của Công ty)...........................45
Công ty TNH Sản xuất Thương mại và Dịch vụ Thuận Thành...............45
6..................................................................................................................46
11................................................................................................................46
Công nhân kỹ thuật và sơ cấp....................................................................46
6..................................................................................................................46
5..................................................................................................................46
7..................................................................................................................46
5..................................................................................................................46
Tổng số lao động........................................................................................46
63................................................................................................................46
68................................................................................................................46
75................................................................................................................46
84................................................................................................................46
(Nguồn: Báo cáo tổng kết năm – Phòng tổ chức hành chính – Công ty cổ
phần xuất nhập khẩu Viglacera )...............................................................46
Lực lượng lao động của Công ty là niềm tự hào và là nguồn sống của
Công ty. Chính nhờ những lao động giỏi mà Công ty đã gặt hái được
nhiều thành công. Hiện nay đội ngũ cán bộ công nhân viên của Công ty
được đánh giá là trẻ, năng động, có trình độ chuyên môn và nhiệt tình
trong công việc kinh doanh và XNK. Đặc biệt, ban lãnh đạo Công ty đều
là những người được đào tạo chuyên sâu. Tất cả các thành viên trong
Ban giám đốc đều có trình độ trên đại học...............................................46
....................................................................................................................46
Nhìn vào biểu đồ phân loại trình độ học vấn của lao động năm 2006,
chúng ta càng thấy rõ hơn chất lượng lao động của Công ty. Đa số lao
động có trình độ đại học (chiếm 55%) và xu hướng này còn tăng lên
trong các năm tới........................................................................................46
Công ty rất chú ý đến công tác đào tạo, đầu tư phát triển, tuyển dụng
nhân tài. Năm vừa qua Tổng công ty đã đầu tư xây dựng trường đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ công nhân viên kỹ thuật… trong đó có đào tạo kiến
thức quản lý cho các cán bộ quản lý, đại diện cho các đơn vị và đào tạo
2.1.5.1. Ngành nghề kinh doanh của Công ty...........................................47
Công ty cổ phần xuất nhập khẩu Viglacera là một doanh nghiệp kinh
doanh và XNK với các ngành nghề kinh doanh được xác định trong giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh như sau:................................................47
Kinh doanh vật tư (không bao gồm thuốc bảo vệ thực vật và thuốc thú
y), nguyên vật liệu, thiết bị phụ tùng máy móc, hoá chất (trừ hoá chất
nhà nước cấm), phụ gia phục vụ sản xuất công nhiệp và xây dựng;.......48
Kinh doanh vật liệu xây dựng, vật liệu trang trí nội thất;........................48
Kinh doanh nhà hàng, khách sạn, dịch vụ ăn uống, bất động sản, cho
thuê văn phòng (không bao gồm kinh doanh phòng hát karaoke, vũ
trường, quán bar);......................................................................................48
Dịch vụ vận tải và giao nhận hàng hoá;....................................................48
Kinh doanh lữ hành nội địa và quốc tế;....................................................48
Kinh doanh đại lý xăng, dầu, gas, đại lý ô tô;..........................................48
Đại lý mua, đại lý bán, ký gửi hàng hoá...................................................48
2.1.5.2. Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty................................48
Mỗi một doanh nghiệp khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh trên
thương trường đều luôn theo đuổi mục tiêu là tối đa hoá lợi nhuận. Công ty
cổ phần xuất nhâp khẩu Viglacera cũng không nằm ngoài mục tiêu đó. Mục
tiêu đó được đánh giá thông qua hiệu quả sản xuất kinh doanh mà doanh
nghiệp đã đạt được trong mỗi năm. Có thể thấy một số kết quả hoạt động
kinh doanh của Công ty qua bảng:............................................................48
2.2. Thực trạng quy trình tổ chức thực hiện hợp đồng nhập khẩu tại Công
ty cổ phần xuất nhập khẩu Viglacera........................................................50
2.2.1. Tổng quan về hoạt động nhập khẩu tại Công ty cổ phần xuất nhập
khẩu Viglacera...........................................................................................50
2.2.2. Thực trạng quy trình tổ chức thực hiện hợp đồng nhập khẩu tại
Công ty cổ phần xuất nhập khẩu Viglacera trong thời gian qua..............58
2.3. Đánh giá công tác tổ chức thực hiện hợp đồng nhập khẩu của Công
ty.................................................................................................................67
lợi an toàn thì một nghiệp vụ quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp là quy trình xây dựng và
thực hiện hợp đồng. Tuy nhiên đây là một vấn đề khó khăn và lại ảnh hưởng đến sự thành
bại của một doanh nghiệp. Do đó mỗi doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển tốt thì vấn đề
đặt ra là phải thực hiện tốt quy trình tổ chức thực hiện hợp đồng, bởi đây là cơ sở pháp lý để
xác định quyền và nghĩa vụ giữa các bên, là căn cứ giải quyết tranh chấp khiếu nại - một vấn
đề mà trong hoạt động TMQT khó tránh khỏi.
Công ty cổ phần xuất nhập khẩu Viglacera là một doanh nghiệp trực thuộc Tổng
công ty Thuỷ tinh và Gốm xây dựng - một đơn vị chủ đạo của ngành thuỷ tinh và gốm xây
dựng tại Việt Nam, vừa hoàn tất thủ tục cổ phần hoá từ hình thức ban đầu là doanh nghiệp
nhà nước vào tháng 3 năm 2006. Là trung tâm xuất nhập khẩu (XNK) của Tổng công ty nên
Công ty cổ phần xuất nhập khẩu Viglacera rất quan tâm đến công tác XNK, coi đây là một
trong những hoạt động chủ đạo liên quan chặt chẽ đến sự tồn tại và phát triển của mình. Gần
đây, khi công tác tiêu thụ sản phẩm ở thị trường nội địa còn nhiều khó khăn thì việc đẩy
mạnh xuất khẩu sản phẩm, tìm kiếm thị trường tiêu thụ mới cũng như tìm kiếm nguồn hàng
nhập khẩu phục vụ cho công tác xuất khẩu chính là lối thoát và là hướng phát triển lâu dài
của Công ty.
Trong quá trình thực tập tại phòng xuất nhập khẩu của Công ty cổ phần xuất nhập
khẩu Viglacera, nhận thức được tầm quan trọng của việc tổ chức thực hiện hợp đồng cùng
với những kiến thức đã được trang bị trong nhà trường, em đã lựa chọn đề tài: “Hoàn thiện
quy trình tổ chức thực hiện hợp đồng nhập khẩu ở Công ty cổ phần xuất nhập khẩu
Viglacera” cho chuyên đề tốt nghiệp của mình.
Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở xem xét thực trạng của quy trình tổ chức thực
hiện hợp đồng nhập khẩu tại Công ty để đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng
cao công tác này ở Công ty.
Đối tượng nghiên cứu: là toàn bộ hoạt động tổ chức thực hiện hợp đồng nhập khẩu
tại Công ty cổ phần xuất nhập khẩu Viglacera.
Phương pháp nghiên cứu: sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát hoá
trên cơ sở các số liệu và tình hình thực tế tại Công ty.
Kết cấu của đề tài: Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, đề tài được trình bày
thành 3 chương như sau:
đổi hàng hoá với nhau và chịu sự chi phối của quy luật chung này. Trong đó, hoạt động mua
hàng hoá, dịch vụ từ nước ngoài được gọi là hoạt động nhập khẩu và ngược lại hoạt động
bán hàng hoá, dịch vụ từ trong nước ra nước ngoài được gọi là xuất khẩu. Theo nghĩa đó có
thể hiểu: “Nhập khẩu là một trong hai hoạt động cấu thành của nghiệp vụ ngoại thương, là
một mặt không thể tách rời của hoạt động TMQT. Có thể hiểu đơn giản đó là sự mua hàng
hoá và dịch vụ từ nước ngoài phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước hoặc tái sản xuất mở
rộng nhằm mục đích kinh tế - lợi nhuận”.
1.1.2. Vai trò của nhập khẩu
Ngày nay, sản xuất đã được quốc tế hoá. Để có thể tồn tại và phát triển kinh tế các
quốc gia đều tích cực tham gia vào phân công lao động quốc tế và trao đổi hàng hoá với bên
ngoài. Trong đó hoạt động nhập khẩu ngày càng có vai trò quan trọng trong quá trình phát
triển kinh tế xã hội của các quốc gia, đặc biệt đối với các quốc gia đang phát triển còn nghèo
đói và lạc hậu như Việt Nam. Có thể thấy tầm quan trọng của hoạt động nhập khẩu qua
những vai trò sau:
1.1.2.1. Đối với quốc gia nhập khẩu
Nhập khẩu tác động một cách trực tiếp và quyết định đến sản xuất và đời sống trong
nước. Bởi vì, không một quốc gia nào có khả năng sản xuất hiệu quả đối với tất cả các loại
hàng hoá. Theo thuyết lợi thế so sánh, các quốc gia đều muốn đạt tới lợi ích tối đa, do đó
hoạt động nhập khẩu là một hoạt động tất yếu. Nó cho phép các quốc gia có thể sử dụng
được tất cả các loại hàng hoá với chất lượng tốt nhất và mức giá rẻ nhất.
Nhập khẩu góp phần tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật công nghệ tiên tiến, hiện đại
cho sản xuất các hàng hoá cho tiêu dùng mà trong nước không sản xuất được hoặc sản xuất
không đáp ứng được đủ nhu cầu.
Nhập khẩu còn là để thay thế, nghĩa là nhập khẩu những thứ mà sản xuất trong nước
sẽ không có lợi bằng nhập khẩu, làm được như vậy sẽ tác động đến sự phát triển cân đối và
khai thác tiềm năng, thế mạnh của nền kinh tế quốc dân vế sức lao động, vốn, tài nguyên và
khoa học kỹ thuật. Đặc biệt là đối với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam khi mà
trình độ khoa học công nghệ còn thấp, lực lượng sản xuất chưa phát triển. Hướng đi tốt cho
các quốc gia này là nhập khẩu các trang thiết bị máy móc, công nghệ...phục vụ cho xây dựng
cơ sở vật chất kỹ thuật để theo kịp sự phát triển của thế giới mà không mất thời gian, nguồn
Thứ nhất, nhập khẩu góp phần đổi mới máy móc thiết bị, thay đổi phương thức quản
lý, sản xuất nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Thứ hai, nhập khẩu góp phần mở rộng quan hệ của doanh nghiệp với các bạn hàng
trong nước và quốc tế. Tạo ra những cơ hội làm ăn mới cho doanh nghiệp.
Thứ ba, nhập khẩu cũng có vai trò nâng cao năng lực cạnh tranh cho các sản phẩm
của doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh của nghành trên bình diện quốc gia cũng như nâng
cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm, ngành, quốc gia trên bình diện quốc tế. Điều này có
vai trò rất quan trọng trong quá trình Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế mà trong đó các
doanh nghiệp Việt Nam là một chủ thể không thể tách rời đối với tiến trình này.
Thứ tư, nhập khẩu là một hoạt động kinh doanh, do vậy nhập khẩu cũng góp phần
vào việc đảm bảo mục tiêu của doanh nghiệp.
Tóm lại, vai trò của nhập khẩu là không thể phủ nhận. Tuy nhiên, nhập khẩu như thế
nào lại là vấn đề nan giải. Nếu nhập khẩu một cách ồ ạt các thiết bị cũ kĩ lạc hậu hoặc nhập
khẩu các sản phẩm trong nước đã sản xuất được sẽ bóp chết nền sản xuất trong nước gây
thiệt hại đến lợi ích của quốc gia. Vì vậy cần phải có chính sách nhập khẩu hợp lý để khai
thác triệt để lợi ích của nhập khẩu cũng như mỗi bản thân doanh nghiệp phải nhận thức được
hoạt động nhập khẩu mà doanh nghiệp đang tiến hành trên nhiều mặt, không chạy theo
mụch đích lợi nhuận mà bỏ qua lợi ích xã hội.
1.1.3. Các hình thức nhập khẩu hàng hoá
Do điều kiện kinh doanh và sự sáng tạo, năng động của các doanh nhân nên trên thực
tế đã xuất hiện rất nhiều hình thức nhập khẩu.Tuỳ theo các tiêu chí khác nhau mà ta có thể
phân chia các hình thức nhập khẩu thành các nhóm khác nhau. Một số cách phân loại chủ
yếu đó là:
•Theo chủ thể của hoạt động nhập khẩu:
+Nhập khẩu tự doanh (Nhập khẩu trực tiếp).
+Nhập khẩu uỷ thác.
•Theo mục đích nhập khẩu:
+Nhập khẩu hàng mậu dịch.
+Nhập khẩu hàng phi mậu dịch.
•Theo phương thức nhập khẩu:
Là hoạt động nhập khẩu hình thành giữa một doanh nghiệp trong nước có vốn ngoại
tệ riêng, có nhu cầu cần nhập khẩu một số loại hàng hoá nhưng không có quyền tham gia
hoặc không có điều kiện nhập khẩu trực tiếp đã uỷ thác cho doanh nghiệp khác có chức năng
trực tiếp tham gia giao dịch ngoại thương tiến hành nhập khẩu hàng hoá theo yêu cầu của
mình.
Bên nhận uỷ thác phải tiến hành đàm phán với đối tác nước ngoài và làm thủ tục
nhập khẩu hàng hoá theo yêu cầu của bên uỷ thác. Bên nhận uỷ thác sẽ nhận được một phần
thù lao gọi là phí uỷ thác.
Trong hoạt động này, doanh nghiệp XNK (bên nhận uỷ thác) sẽ không phải bỏ vốn,
không phải xin hạn ngạch (nếu có), không phải nghiên cứu thị trường tiêu thụ cho hàng hoá
mà chỉ đứng ra đại diện bên uỷ thác tiến hành giao dịch, đàm phán, kí kết hợp đồng, làm thủ
tục nhập hàng cũng như thay mặt bên uỷ thác khiếu nại, đòi bồi thường với đối tác nước
ngoài khi có tổn thất. Hình thức này giúp cho doanh nghiệp nhận uỷ thác không mất nhiều
chi phí, độ rủi ro thấp nhưng lợi nhuận từ hoạt động này không cao.
Khi tiến hành nhập khẩu uỷ thác, doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu uỷ thác sẽ
phải lập hai hợp đồng là hợp đồng nhập khẩu ký với đối tác nước ngoài và một hợp đồng
nhận uỷ thác nhập khẩu với bên uỷ thác.
Khi tiến hành nhập khẩu uỷ thác, doanh nghiệp nhận uỷ thác sẽ chỉ tính kim nghạch
nhập khẩu chứ không tính vào doanh số. Hợp đồng nhập khẩu uỷ thác thường áp dụng cho
những hàng hoá chuyên dùng, máy móc thiết bị kĩ thuật.
1.1.4. Quy trình hoạt động nhập khẩu
1.1.4.1. Nghiên cứu thị trường
Đây là công việc đầu tiên mà bất kì một doanh nghiệp kinh doanh XNK nào cũng
cần phải thực hiện và phải trở thành công việc thường xuyên trong hoạt động XNK của
doanh nghiệp.
Nghiên cứu thị trường trong nước.
Các doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu luôn phải tự quyết định: mua cái gì, bán cho
ai, theo hình thức nào và với giá là bao nhiêu mà vẫn thu được lợi nhuận? và để giải quyết
những vấn đề này thì việc nghiên cứu thị trường trong nước là vô cùng quan trọng, là tiền đề
để có được những quyết định đúng đắn. Khi nghiên cứu thị trường trong nước, doanh nghiệp
Doanh nghiệp cần chú ý thu thập thông tin trên thị trường quốc tế thông qua các
nguồn như: sách, báo, tạp chí, bản tin, internet, hội chợ triển lãm, hội thảo, các tổ chức xúc
tiến thương mại, đại diện thương mại, tổ chức dịch vụ thông tin chuyên nghiệp, các tổ chức
liên quan đến hoạt động XNK như ngân hàng, hải quan, hãng vận tải...
1.1.4.2. Lập phương án kinh doanh.
Phương án kinh doanh là kế hoạch hoạt động của đơn vị nhằm đạt đến những mục
tiêu xác định trong kinh doanh. Sau khi đã hoàn tất việc nghiên cứu thị trường, doanh nghiệp
phải lập ra được một phương án kinh doanh.
Một phương án kinh doanh thường gồm những nội dung cơ bản như: tình hình hàng
hoá, thị trường và khách hàng, dự đoán hướng biến động của thị trường, xác định thời cơ
mua bán, phương hướng thị trường và thương nhân, đặt ra mục tiêu (tối đa và tối thiểu), biện
pháp hành động cụ thể, sơ bộ đánh giá hiệu quả.
Dựa trên những thông tin đã thu thập được thông qua nghiệp vụ nghiên cứu thị
trường trong và ngoài nước, doanh nghiệp phải đưa ra được phương án kinh doanh tối ưu
của mình.
Để lập một phương án kinh doanh, doanh nghiệp cần tiến hành các bước sau:
•Bước 1: Đánh giá tổng quát tình hình thị trường và thương nhân. Phân tích những khó
khăn, thuận lợi trong kinh doanh.
•Bước 2: Lựa chọn các mặt hàng, thời cơ, điều kiện và phương thức kinh doanh (phải
chứng minh được sự lựa chọn của mình là đúng trên cơ sở phân tích tình hình thực tế).
•Bước 3: Đề ra mục tiêu: phải là những mục tiêu cụ thể, bằng số liệu rõ ràng: sẽ bán
(mua) bao nhiêu hàng? với giá cả bao nhiêu? sẽ thâm nhập vào thị trường nào? mua (bán)
với ai?...
•Bước 4: Đề ra biện pháp thực hiện. Những biện pháp này là những công cụ để đạt tới
những mục tiêu đề ra. Bao gồm cả những biện pháp ở trong nước và những biện pháp ở
nước ngoài.
•Bước 5: Sơ bộ đánh giá hiệu quả kinh tế của việc kinh doanh thông qua việc tính một
loạt các chỉ tiêu như: tỷ suất ngoại tệ hàng nhập khẩu, thời gian hoàn vốn, điểm hoà vốn…
1.1.4.3. Giao dịch và đàm phán.
Giao dịch.
Sau khi đã thống nhất thoả thuận với nhau về mọi điều kiện giao dịch, hai bên tiến
hành ghi lại và xác nhận những điều khoản đã được thoả thuận đó. Về phía người nhập
khẩu, công việc xác nhận bao gồm ký vào giấy xác nhận mua hàng, gửi giấy này cho người
bán đồng thời nhận giấy xác nhận bán hàng do phía bên kia gửi đến.
Đàm phán.
Đàm phán là một công đoạn quan trọng trong toàn bộ quá trình nhập khẩu của một
doanh nghiệp. Đàm phán có thể diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau, ngoài hình thức gặp
mặt trực tiếp còn có các hình thức khác như qua thư từ, điện tín, fax hoặc điện thoại... Mỗi
hình thức đều có những ưu nhược điểm riêng, tuỳ theo từng trường hợp cụ thể mà lựa chọn
hình thức đàm phán cho phù hợp.
Để thực hiện đàm phán thắng lợi, hướng đối phương theo mục đích của doanh
nghiệp là cả một nghệ thuật. Do đó doanh nghiệp phải hết sức lưu ý đến mọi yếu tố của cuộc
đàm phán từ khâu tổ chức đàm phán, lựa chọn hình thức đàm phán, địa điểm đàm phán, thời
gian đàm phán, bối cảnh đàm phán, các chiến thuật và thủ thuật mà doanh nghiệp sẽ sử dụng
trong quá trình đàm phán. Mục đích cuối cùng là ký được hợp đồng mua bán hàng hoá sao
cho có lợi nhất cho doanh nghiệp.
1.1.4.4. Kí kết hợp đồng nhập khẩu.
Sau khi đàm phán kết thúc thành công, các bên sẽ tiến hành ký kết hợp đồng mua
bán ngoại thương. Đối với người kinh doanh TMQT nói chung đều cần phải tiến hành ký kết
hợp đồng kịp thời ngay khi điều kiện ký kết đã chín muồi. Hợp đồng đơn thuần là sản phẩm
cuối cùng của sự thương lượng giữa người mua và người bán. Hợp đồng là một cam kết
bằng văn bản quy định những quyền lợi và trách nhiệm của các bên trong việc trao đổi mua
bán hàng hoá - dịch vụ.
Người đại diện hợp pháp có đủ tư cách pháp nhân của doanh nghiệp sẽ là người trực
tiếp kí vào các văn bản này sau khi đã kiểm tra kỹ lưỡng nội dung cũng như hình thức của
hợp đồng được soạn thảo ra. Việc kí kết các hợp đồng kinh doanh quốc tế có thể diễn ra theo
hai phương thức:
•Ký kết hợp đồng trực tiếp.
•Ký kết hợp đồng gián tiếp.
Khi kí kết hợp đồng, các bên cần lưu ý một số đặc điềm như sau:
khẩu để thực hiện hợp đồng đó.
Theo nghị định số 12/2006/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/05/2006 quy định thương
nhân là doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế được thành lập theo quy định của pháp
luật được phép XNK hàng hoá theo những ngành nghề đã đăng ký theo giấy chứng nhận
kinh doanh.
Xin giấy phép nhập khẩu (nếu có)
Làm thủ tục mở L/C (nếu
thanh toán bằng L/C)
Người mua đôn đốc người bán
giao hàng
Thuê phương tiện vận tải
Mua bảo hiểm
Làm thủ tục hải quan
Nhận hàng nhập khẩu
Kiểm tra hàng hoá nhập khẩu
Làm thủ tục thanh toán
Giải quyết các tranh chấp,
khiếu nại (nếu có)
Như vậy thì tất cả các doanh nghiệp có tư cách pháp nhân đều được phép tiến hành
nhập khẩu hàng hoá theo ngành nghề đã đăng ký và doanh nghiệp chỉ cần đăng ký mã số
kinh doanh XNK của mình với hải quan địa bàn mình có trụ sở chính. Tuy nhiên thì đối với
những mặt hàng thuộc danh mục hàng hoá cấm nhập khẩu, nhập khẩu có điều kiện hay tạm
ngừng nhập khẩu thì doanh nghiệp cần phải xin giấy phép nhập khẩu.
Để xin giấy phép nhập khẩu, doanh nghiệp phải xuất trình bộ hồ sơ xin giấy phép
bao gồm:
Hợp đồng nhập khẩu.
Phiếu hạn ngạch (nếu hàng thuộc diện quản lý bằng hạn ngạch).
Hợp đồng uỷ thác nhập khẩu (nếu đó là trường hợp nhập khẩu uỷ thác)…
Việc cấp giấy phép nhập khẩu được phân công như sau:
Bộ Thương Mại (các phòng cấp giấy phép) cấp những giấy phép nhập khẩu hàng
Bước 3: Người mua đôn đốc người bán giao hàng.
Để quá trình nhập khẩu đúng tiến độ như đã quy định trong hợp đồng, nhà nhập
khẩu cần phải đôn đốc phía bán giao hàng theo đúng số lượng chất lượng, quy cách bao bì…
và đúng hạn. Như vậy mới không làm chậm trễ tiến độ kinh doanh của doanh nghiệp nhập
khẩu.
Bước 4: Thuê tàu lưu cước.
Phần lớn hàng hoá giao dịch mua bán trên thị trường thế giới đều được thực hiện vận
chuyển bằng đường biển (chiếm khoảng 80 % khối lượng hàng hoá trong buôn bán quốc tế)
bởi những tính ưu việt của loại hình vận tải này. Vì thế nghiệp vụ thuê tàu vận chuyển hàng
hoá bằng đường biển đã trở thành nghiệp vụ phổ biến, cơ bản và gần như không thể thiếu
trong đa số các hoạt động XNK trên thế giới hiện nay.
Đối với nhà nhập khẩu, nghiệp vụ thuê tàu để vận chuyển hàng hoá chỉ phát sinh khi
trong hợp đồng mua bán quy định nghĩa vụ này thuộc về phía người mua (theo điều kiện
giao hàng nhóm F và EXW).
Nhà nhập khẩu sẽ tiến hành nghiệp vụ thuê tàu của mình dựa trên các căn cứ sau:
−Những điều khoản của hợp đồng mua bán.
−Đặc điểm của hàng hoá mua bán.
−Điều kiện vận tải.
Hiện nay trên thế giới có ba phương thức thuê tàu cho nhà nhập khẩu lựa chọn. Đó
là:
Phương thức thuê tàu chợ: Thuê tàu chợ còn gọi là lưu cước tàu chợ (Booking
Shipping Space) là người chủ hàng thông qua môi giới hoặc tự mình đứng ra yêu cầu chủ tàu
giành cho thuê một phần chiếc tàu để chở hàng từ cảng này qua cảng khác.
Phương thức thuê tàu chuyến: Thuê tàu chuyến là chủ tàu (Shipowner) cho người
thuê tàu (charter) thuê toàn bộ hay một phần chiếc tàu chạy rông để chuyên chở hàng hoá từ
một hay vài cảng này đến một hay vài cảng khác. Mối quan hệ giữa người chủ tàu và người
thuê tàu được điều chỉnh bằng một văn bản gọi là hợp đồng thuê tàu chuyến (C/P – Voyage
Charter Party).
Phương thức thuê tàu định hạn: Thuê tàu định hạn là chủ tàu cho người thuê tàu con
tàu để sử dụng vào mục đích chuyên chở hàng hoá hoặc cho thuê lại trong thời gian nhất