Nguyễn Mỹ Hạnh
Quảng cáo 48
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sự kiện Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế mở ra nhiều cơ hội cũng như nhiều
thách thức về năng lực cạnh tranh cho hàng loạt doanh nghiệp trong nước. Các Ngân
Hàng Thương Mại Việt Nam (NHTMVN) cũng không ở ngoài xu thế chung đó. Họ sẽ
phải đối mặt với rất nhiều các tập đoàn tài chính lớn trên thế giới với lợi thế hơn hẳn về
vốn, kinh nghiệm quản lý, quản trị rủi ro, các dòng sản phẩm dịch vụ đa dạng và chất
lượng hoàn hảo. Liệu các NHTMVN có bị đo ván ngay trên sân nhà? Câu trả lời sẽ là
không nếu các NHTMVN biết tận dụng thế mạnh của mình và nắm lấy cơ hội để nâng
cao hiệu quả kinh doanh, qua đó tăng năng lực cạnh tranh. Trong các yếu tố góp phần
nâng cao hiệu quả kinh doanh và năng lực cạnh tranh, thì hoạt động xây dựng và phát
triển ngân hàng trở thành một thương hiệu mạnh đóng vai trò hết sức quan trọng.
Vấn đề này đang được dư luận đặc biệt quan tâm, nhất là sau ngày 1.4.2007, khi
ngân hàng nhà nước cho phép thành lập các chi nhánh ngân hàng 100% vốn nước ngoài
tại Việt Nam. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng trở nên khốc liệt, hơn bao giờ hết,
các NHTMVN đang ráo riết đầu tư hàng chục tỷ VND mỗi năm vào việc xây dựng và
phát triển thương hiệu, trong đó điển hình là Maritime Bank, VP bank, VIB Bank,
Techcombank. Chi phí này đang ngày càng có xu hướng tăng cao và chiếm một phần
không nhỏ trong chi phí hoạt động của ngân hàng. Khoản chi này cũng có ý nghĩa lớn
trong việc củng cố hình ảnh và niềm tin của công chúng vào các NHTMVN. Ý thức
được tầm quan trọng của vấn đề này, tôi đã lựa chọn đề tài:“ Chiến lược xây dựng và
phát triển thương hiệu Maritime Bank trở thành thương hiệu mạnh” làm đề tài
chuyên đề tốt nghiệp của mình.
2. Nội dung và mục tiêu nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu: Phân tích thực trạng hoạt động xây dựng và phát triển
thương hiệu Maritime Bank trong giai đoạn 2006 – 2010 với chiến lược đưa Maritime
Bank trở thành thương hiệu mạnh.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Chuyên Đề Tốt Nghiệp
2
Nguyễn Mỹ Hạnh
Quảng cáo 48
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ MARITIME BANK
1.1. Môi Trường Kinh Doanh Của Các NHTMVN
1.1.1. Khái quát về hệ thống NHTMVN
1.1.1.1. Giới thiệu về hệ thống NHTMVN
Tài chính ngân hàng đóng một vai trò quan trọng trong việc phân bổ hữu hiệu các
nguồn vốn trong nền kinh tế. Hiện nay, hệ thống ngân hàng Việt Nam bao gồm 5 ngân
hàng thương mại nhà nước (NHTMNN),39 ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP)
đô thị, 42 chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt nam, 5 ngân hàng liên doanh, 5 ngân
hàng 100% vốn nước ngoài tại Việt nam, 17 công ty tài chính, 13 công ty cho thuê tài
chính, 54 văn phòng đại diện ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam. Trong đó NHTMNN
và các NHNN mới chuyển sang mô hình cổ phần, chiếm gần 76% tổng nguồn vốn huy
động và 80% thị phần tín dụng, tổng số vốn tự có gần 1 tỷ USD. Khối NHTMCP chiếm
khoảng hơn 10% tổng nguồn vốn huy động và 10% thị phần tín dụng.
Ngày 7/11/2006, Việt Nam đã chính thức gia nhập tổ chức thương mại thế giới
(WTO), đồng nghĩa với việc mở ra nhiều cơ hội cũng như thách thức đối với nền kinh tế
nói chung và lĩnh vực tài chính ngân hàng nói riêng. Cũng từ 1/4/2007, các ngân hàng
nước ngoài chính thức được phép thành lập chi nhánh 100% vốn nước ngoài tại Việt
nam, có nghĩa là ở thời điểm hiện nay, sân chơi ngân hàng đã có thêm nhiều đối thủ
nặng ký tham gia.
Căn cứ vào các cam kết quốc tế, Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam (NHNNVN)
tiếp tục tăng cường quan hệ hợp tác đa phương, song phương, mở rộng hội nhập theo
nhiệm vụ và lộ trình sau:
Từ năm 2001-2005 có các biện pháp hỗ trợ các NHTMVN duy trì và tăng cường
NHTMCPVN liên tục ra tăng trong những năm gần đây nhưng so với các ngân hàng
trong khu vực thì con số này còn thấp. NHTMCP có mức vốn điều lệ lớn nhất cũng chưa
đến 5000 tỷ tương đương khoảng 285 triệu USD. Xét theo tiêu chuẩn Basel I ( hiệp ước
vốn của uỷ ban Basel) thì hầu hết các NHTMCPVN đều không đáp ứng được, CAR ( hệ
số đủ vốn) chỉ đạt bình quân xấp xỉ 5%. Trong khi đó, hầu hết các NHTMCP trong khu
vực hệ số này đã đạt trên 8%. Chẳng hạn: Hệ số CAR bình quân của các ngân hàng khu
vực Châu Á - Thái Bình Dương (gồm 52 ngân hàng thuộc10 nước) là 13,1%; của các
ngân hàng các nước Châu Á mới nổi (Gồm 14 ngân hàng của Thailand, Indonesia,
Malaysia, Phillipines) là 12,3%.
- Về khả năng sinh lời: Khả năng sinh lời là điều kiện để đánh giá hiệu quả kinh
doanh của ngân hàng. Khả năng sinh lời được thể hiện qua các chỉ số ROE và ROA.
Về hệ số ROA (tỷ suất lợi nhuận ròng sau thuế so với tổng tài sản): Trong những
năm gần đây hệ số này đã được cải thiện đáng kể nhưng do chất lượng tín dụng kém,
trong khi đó các hoạt động kinh doanh khác chưa phát triển, nên hệ số ROA của
NHTMCPVN vẫn còn khá thấp, khoảng 0,38%. Trong khi đó, hệ số này của NHTM các
nước trong khu vực là tương đối cao. Hệ số ROA của nhóm các ngân hàng khu vực
Châu á - Thái Bình Dương là 0,94. Hệ số ROA ở các ngân hàng thuộc các nước mới nổi
là 0,77.
Về hệ số ROE (tỷ suất lợi nhuận trên vốn): Hệ số này của các NHTMCPVN tăng
so với giai đoạn trước nhưng vẫn ở mức thấp chưa tới 15%; trong khi đó, hệ số này của
NHTMCP các nước luôn ở mức trên 15%.
Chuyên Đề Tốt Nghiệp
4
Nguyễn Mỹ Hạnh
Quảng cáo 48
* Khả năng huy động vốn
Do nhu cầu vốn hoạt động từ các khách hàng một số năm gần đây khá lớn, nên các
NHTMCP đã đưa ra nhiều chính sách khuyến mãi để huy động vốn, sự cạnh tranh nhìn
Chuyên Đề Tốt Nghiệp
5
Nguyễn Mỹ Hạnh
Quảng cáo 48
* Khả năng công nghệ
Theo tính toán và kinh nghiệm của các ngân hàng nước ngoài, công nghệ thông tin
có thể làm giảm 76% chi phí hoạt động của ngân hàng. Nhưng đây là một lĩnh vực đòi
hỏi sự đầu tư rất lớn, ví dụ như để xây dựng hệ thống thông tin quản lý cho một
NHTMCP như Techcombank cần phải chi phí tới 500 - 600 tỷ đồng VND. Đây cũng
chính là bất cập đối với hệ thống ngân hàng Việt Nam do qui mô vốn điều lệ thấp.
Nhìn tổng thể thì công nghệ của các NHTMCPVN còn nhiều yếu kém so với các
ngân hàng nước ngoài. Theo ngân hàng thương mại thế giới (WB) , công nghệ trong lĩnh
vực ngân hàng ở Việt nam vẫn còn ở mức thấp. Chỉ số công nghệ ngân hàng ở Việt Nam
mới chỉ là (-0,47). Trong khi ở Thái Lan (-0,07), Indonexia (-0,07), Malaysia là 1,08 và
của Singapore là 1,95. Tính liên kết giữa các ngân hàng về giải pháp công nghệ chưa
cao… dẫn đến các dịch vụ ngân hàng chưa phong phú, tiện lợi và hấp dẫn, phạm vi kinh
doanh trùng với lĩnh vực hoạt động có ưu thế của các ngân hàng nước ngoài (về hoạt
động thanh toán quốc tế, tài trợ thương mại, đầu tư dự án,…).Tuy nhiên với sự phát triển
của công nghệ thông tin, viễn thông, công nghệ mạng và kỹ thuật số tạo nền tảng cho sự
phát triển các dịch vụ ngân hàng điện tử, tự động, như: Home Banking, Internet
Banking, thẻ thanh toán, giao dịch điện tử… nhờ đó góp phần tích cực làm văn minh hoá
hoạt động ngân hàng nhưng hiện nay an ninh mạng trong hoạt động ngân hàng của Việt
Nam còn rất nhiều lỗ hổng.
* Khả năng phát triển thương hiệu
Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, đời sống con người ngày càng được nâng
cao thì sự cạnh tranh về thương hiệu sẽ ngày càng mạnh mẽ. Bản chất thương hiệu chính
là uy tín về chất lượng dịch vụ mà một ngân hàng sẵn sàng cung ứng cho xã hội. Xét về
mặt này thì các NHTMCPVN đã có sự đầu tư lớn trong những năm gần đây, cải thiện
giới nên tốc độ này giảm xuống còn 6,2% vào năm 2008 và 5,3% vào năm 2009. Nhưng
đến cuối năm 2009 kinh tế đã có những dấu hiệu khôi phục và dự kiến đạt mức tăng
trưởng 6,5% vào năm 2010. Bên cạnh đó thì GDP bình quân đầu người cũng luôn tăng
trưởng mức ổn định, từ năm 2005- 2007 luôn đạt trên 8%. Năm 2008, 2009 dự báo GDP
bình quân đầu người tăng 6,5 % nhưng do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn
cầu nên tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm, thực tế GDP bình quân đầu người năm 2008
chỉ tăng 6,23% và năm 2009 tăng 5,32%. Tuy vậy con số này sẽ được cải thiện đáng kể
trong những năm tới khi nền kinh tế đang dần được phục hồi. Đây là những dấu hiệu tốt,
tạo điều kiện thuận lợi để phát triển thị trường tài chính tiền tệ trong đó bao gồm các
hoạt động của các NHTMVN.
Hiện nay khi Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của WTO cùng với sự
hội nhập kinh tế quốc tế mạnh mẽ thì trong những năm tới khả năng thu hút vốn đầu tư
trong và ngoài nước tăng nhanh, phát triển khoa học kỹ thuật và công nghệ, tạo điều kiện
thuận lợi cho phát triển kinh tế nói chung và kinh doanh lĩnh vực tài chính, ngân hàng
nói riêng. Năm 2008 vốn FDI đạt mức kỷ lục 64,01 tỷ USD, đến năm 2009 do ảnh
hưởng của khủng hoảng tài chính thu hút vốn đầu tư nước ngoài chỉ đạt 21,48 tỷ USD
bằng 30% năm 2008 nhưng vẫn là một kết quả khả quan vì đã vượt mức kế hoạch đề ra
ban đầu là 20 tỷ USD.
Chuyên Đề Tốt Nghiệp
7
Nguyễn Mỹ Hạnh
Quảng cáo 48
*Môi trường chính trị, luật pháp
Nước ta luôn có tình hình chính trị ổn định, đó là một điều kiện thuân lợi thu hút
vốn đầu tư để phát triển kinh tế nói chung và lĩnh vực kinh hoạt động tài chính nói riêng
trong thời gian tới.
Hệ thống ngân hàng đã được cơ cấu lại nhằm giảm thiểu những yếu kém của hệ
Nguyễn Mỹ Hạnh
Quảng cáo 48
*Môi trường kỹ thuật, công nghệ
Ngày nay đang bùng nổ thời đại công nghệ thông tin và ứng dụng tiến bộ khoa học
kỹ thuật. Đối với hoat động kinh doanh ngân hàng thì công nghệ có ảnh hưởng rất lớn,
bởi công nghệ ảnh hưởng trực tiếp đến các dịch vụ của ngân hàng. Cơ sơ vật chất, trang
thiết bị hiện đại sẽ tạo điều kiện cho các ngân hàng mở rộng hoạt động, phát triển dịch
vụ mới, cắt giảm chi phí tới mức tối đa.
Hiện nay công nghệ ngân hàng đang được hiện đại hoá nhanh chóng. Hệ thống
thanh toán điện tử liên ngân hàng tính đến năm 2008 đã có gần 100 chi nhánh với 50
thành viên tham gia. Hệ thống thanh toán bù trừ điện tử cũng đã được chính thức vận
hàng và thay thế hoàn toàn việc trao đổi trực tiếp chứng từ, nhờ đó rút ngắn thời gian
chuyển tiền và đảm bảo độ an toàn, chính xác cao. Bên cạnh đó nhiều ứng dụng tin học
được đưa vào hoạt động như: dịch vụ thẻ ATM, Home Banking, Mobile Banking,
Internet Banking…Gần đây ngày 28/2/2009 NHNN đã tổ chức lễ khai trương hệ thống
thanh toán điện tử liên ngân hàng giai đoạn II, đây có thể coi là hệ thống thanh toán
xương sống của quốc gia. Như vậy có thể thấy ứng dụng công nghệ ngân hàng ngày
càng phát triển, đây là cơ hội để các ngân hàng hiện đại hoá các nghiệp vụ, nâng cao
chất lượng dịch vụ, thoả mãn tốt nhất mong muốn của khách hàng.
1.2. Tổng Quan Về Maritime Bank
1.2.1. Giới thiệu về Maritime Bank
1.2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển
* Sự ra đời và quá trình phát triển
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Hàng Hải Việt Nam (NHTMCPHH) có tên giao
dịch Quốc tế là Vietnam Commercial Stock Bank (viết tắt là MSB hoặc Maritime Bank)
chính thức thành lập theo giấy phép số 0001/NH-GP ngày 08/06/1991 của Thống đốc
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Ngày 12/07/1991 Ngân hàng TMCP Hàng Hải chính
thức khai trương và đi vào hoạt động tại Thành phố cảng Hải Phòng. Maritime Bank đã
Việt Nam do Thời báo Kinh tế Việt Nam và Cục Xúc tiến Thương mại – Bộ Thương
mại Việt Nam tổ chức đã góp phần nhấn mạnh thêm điều đó.
Với những tiềm năng sẵn có, Maritime Bank đã được Ngân hàng Thế giới (World
Bank - WB) lựa chọn là 1 trong 6 ngân hàng thương mại Việt Nam tham gia Dự án Hiện
đại hóa Ngân hàng và Hệ thống thanh toán. Vừa qua, Maritime Bank tiếp tục vượt qua
các đối thủ khác để trở thành ngân hàng thương mại cổ phần duy nhất của Việt Nam
được World Bank tài trợ cho giai đoạn 2 của Dự án trên. Kết thúc giai đoạn này,
Maritime Bank sẽ xây dựng hoàn chỉnh hệ thống Ngân hàng điện tử (e-bank) đạt tiêu
chuẩn Quốc tế nhằm đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ, đáp ứng tối
đa nhu cầu của đông đảo khách hàng.
Sau gần 18 năm hoạt động với bao thăng trầm, Maritime Bank đã ngày càng lớn
mạnh. Đến nay, Maritime Bank đã trở thành một ngân hàng thương mại cổ phần phát
triển mạnh, bền vững và tạo được niềm tin đối với khách hàng. Với phương châm“Tạo
lập giá trị bền vững!” cho các cổ đông, khách hàng và chính ngân hàng, cùng bề dày
kinh nghiệm, tiềm lực sẵn có và đường hướng hoạt động đúng đắn Maritime Bank đã và
đang không ngừng đổi mới, đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao chất lượng dịch vụ, khả
năng quản trị rủi ro để chứng tỏ được bản lĩnh vững vàng, tự tin trong quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế, dù biết rằng phía trước sẽ còn không ít khó khăn, thử thách.
Chuyên Đề Tốt Nghiệp
10
Nguyễn Mỹ Hạnh
Quảng cáo 48
* Một số cột mốc đáng nhớ của Maritime Bank
-Ngày 08/06/1991 chính thức thành lập theo giấy phép số 0001/NH-GP của Thống
đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
-Ngày 12/7/1991:Maritime Bank chính thức khai trương tại thành phố Hải Phòng.
-Thời kỳ 1992 – 1994: Maritime Bank phát triển mạnh việc thực hiện giao dịch qua
hệ thống máy tính nối mạng và là một địa chỉ danh tiếng về chất lượng dịch vụ đặc biệt
Nguyễn Mỹ Hạnh
Quảng cáo 48
hình thành các Khối nghiệp vụ: Khối Dịch vụ và Khách hàng cá nhân, Khối Khách hàng
doanh nghiệp, Khối Kinh doanh Nguồn vốn và Khối Quản lý rủi ro.
-Năm 2008-2009: Tuy chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính nhưng
Maritime Bank vẫn có những bước tăng trưởng và phát triển đáng kể: mở rộng mạng
lưới, gia tăng các sản phẩm và dịch vụ.
-Năm 2010: Maritime Bank ra mắt logo mới và thay đổi hệ thống nhận diện cho
thấy một bước chuyển mình tích cưc, một hình ảnh Maritime Bank hoàn toàn mới: năng
động, trẻ trung, hiện đại, chuyên nghiệp.
1.2.1.2. Tầm nhìn chiến lược, sứ mệnh và giá trị cốt lõi
* Tầm nhìn chiến lược
-Maritime Bank phấn đấu trở thành Ngân hàng TMCP dẫn đầu thị trường về cung
ứng các dịch vụ tài chính đa năng, chuyên nghiệp trọn gói theo tiêu chuẩn quốc tế.
-Với cam kết vì sự phát triển bền vững, Maritime Bank phấn đấu trở thành Ngân
hàng TMCP hàng đầu cả nước về hiện đại hóa, năng động, chuyên nghiệp và lấy chữ Tín
trong mọi hoạt động kinh doanh.
* Sứ mệnh
- Thiết lập quan hệ toàn diện với các tập đoàn kinh tế thuộc các ngành Hàng hải,
Bưu chính viễn thông, Hàng không, Đầu tư, Bảo hiểm…
- Phát triển bền vững, tin cậy với khách hàng là doanh nghiệp vừa và nhỏ.
- Cung cấp các sản phẩm dịch vụ ngân hàng với chất lượng cao cho mọi đối
tượng khách hàng.
- Xây dựng quan hệ đối tác hiệu quả với các định chế tài chính trong nước và quốc
tế.
* Gía trị cốt lõi
- Chú trọng đáp ứng khách hàng bằng chất lượng dịch vụ.
- Hiệu quả là mục tiêu của mọi công việc.
Sơ đồ 1.1:Sơ đồ bộ máy tổ chức
Nguồn: Phòng Nhân sự
Chuyên Đề Tốt Nghiệp
13
Nguyễn Mỹ Hạnh
Quảng cáo 48
* Cơ cấu tổ chức toàn hệ thống Maritime Bank
- Cơ cấu tổ chức của Maritime Bank bao gồm: Hội sở chính; Các phòng nghiệp vụ
thuộc các khối; Văn phòng điều phối khu vực B; Văn phòng điều phối khu vực C; Ban
Giám đốc Chi nhánh.
Maritime Bank được mở Sở Giao dịch, các Chi nhánh cấp 1, cấp 2 và cấp 3, các
Văn phòng đại diện, các Phòng giao dịch, các điểm giao dịch, đơn vị sự nghiệp, các
Công ty trực thuộc khi có sự chấp thuận của NHNN. Cơ cấu tổ chức của các đơn vị trên
sẽ do Hội đồng Quản trị quy định phù hợp với quy định của pháp luật.
- Cơ cấu tổ chức của Hội sở chính: Đại hội đồng Cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban
kiểm soát, Ban Thư ký, Ban Cố vấn Điều hành, Tổng giám đốc, Ủy ban Alco, Các Phó
Tổng Giám đốc, Các văn phòng điều phối khu vực, Phòng giao dịch trực thuộc Hội sở
chính.
- Cơ cấu tổ chức Chi nhánh: Ban Giám đốc Chi nhánh, Phòng Khách hàng
Doanh nghiệp, Phòng Khách hàng Cá nhân, Phòng Ngân quỹ, Phòng Kế toán và
kiểm toán, Tổ tin học, Phòng Hành chính, Các Phòng Giao dịch.
*Chức năng nhiệm vụ của các phòng ban
Chức năng:
Chức năng chung của các Phòng ban: Tham mưu và giúp việc cho Ban Điều hành
trong các lĩnh vực thuộc chức năng của Hội sở chính.
Nhiệm vụ:
-Tổng hợp, phân tích, báo cáo nghiệp vụ hoặc cung cấp thông tin định kỳ hay đột
xuất về các lĩnh vực nghiệp vụ thuộc chức năng đảm nhiệm theo quy định của Maritime
cạnh tranh cho ngân hàng.
Nhiệm vụ:
- Quản trị thương hiệu Maritime Bank:
Xây dựng và triển khai chính sách thúc đẩy mức độ nhận biết thương hiệu trong
nhóm khách hàng và phân đoạn thị trường tiềm năng.
Quản lý, giám sát, hoàn thiện hệ thống nhận diện thương hiệu (bao gồm và liệt kê
chưa đầy đủ: logo, bảng hiệu, pano quảng cáo, tờ rơi, ấn phẩm, vật phẩm, hoạt động hoạt
náo…) nhằm đảm bảo tính nhất quán về mặt hình ảnh cho toàn hệ thống Maritime Bank.
- Quản trị quan hệ công chúng: Quản lý công tác truyền thông nội bộ và bên ngoài;
Thiết lập, quản lý, duy trì và phát triển các mối quan hệ với các đối tác; Quan hệ báo chí:
tổ chức họp báo, soạn thảo thông cáo báo chí, thu xếp các buổi phỏng vấn; Tổ chức các
sự kiện: khai trương, động thổ, khánh thành, kỷ niệm…; Đối phó với các rủi ro: khiếu
nại, tranh chấp… hoặc những lĩnh vực kinh doanh nhạy cảm của ngân hàng; Các hoạt
động tài trợ cộng đồng; Xây dựng và triển khai các quan hệ vận động hành lang theo
định hướng chính sách của ngân hàng; Quản lý website.
- Kết hợp với các phòng ban tiến hành hoạch định và xây dựng chương trình
marketing mix cho ngân hàng bao gồm các hoạt động: Chiến lược về sản phẩm, dịch vụ;
giá; phân phối; truyền thông; con người; quy trình dịch vụ; môi trường vật chất.
Chuyên Đề Tốt Nghiệp
15
Nguyễn Mỹ Hạnh
Quảng cáo 48
1.2.2. Hoạt động kinh doanh của Maritime Bank
1.2.2.1. Hoạt động huy động vốn
Maritime Bank là ngân hàng có sản phẩm đa dạng, phù hợp với nhu cầu của dân cư
và tổ chức tín dụng cả bằng ngoại tệ, nội tệ và tập trung vào hai khu vực thị trường:
* Thị trường I: Là mảng thị trường tập trung vào các đối tượng là tổ chức kinh
tế và dân cư
Nguyễn Mỹ Hạnh
Quảng cáo 48
18% tín dụng doanh nghiệp từ 13443 tỷ lên 16000 tỷ đồng; trái phiếu phát hành tăng từ
5000 tỷ lên 11000 tỷ đồng vào cuối năm.
*Thị trường 2: Là thị trường tiền gửi của các tổ chức tài chính và các định chế
tài chính
Đây là thị trường được Maritime Bank quan tâm và chú trọng phát triển trong năm
2007 và có sự tăng trưởng mạnh. Do vậy, tiền gửi của các tổ chức tín dụng năm 2007 đạt
7821 tỷ đồng, tăng 4328 tỷ đồng so với năm 2006, tương đương 124%, vượt kế hoạch
24%. Đến năm 2009 tổng vốn huy động từ thị trường này tăng nhanh, cuối năm 2009 đạt
mức 23800 tỷ đồng, tăng 9200 tỷ so với năm 2008, chiếm tỷ trọng 40% trên tổng vốn
huy động phục vụ kinh doanh. Trong đó, 90% số vốn huy động thị trường II được thực
hiện tái đầu tư tiền gửi liên ngân hàng, 10% được thực hiện đầu tư tài chính. Dự kiến
năm 2010 tăng 96%, đạt mức 37000 tỷ đồng.
1.2.2.2. Hoạt động tín dụng
Năm 2007 hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp và cá nhân có sự tăng
trưởng mạnh mẽ. Tính đến ngày 31/12/2007 dư nợ tín dụng đạt 6528 tỷ đồng tăng 126%
so với năm 2006, so với kế hoạch đã vượt mức 19%. Tuy mức tăng trưởng cao nhưng
các chỉ số an toàn vẫn được đảm bảo. Năm 2008 khi các ngân hàng Viêt Nam phải đối
mặt với tình trạng rủi ro thanh khoản, đẩy lãi suất huy động và cho vay lên mức cao kỷ
lục, tạo ra sự khan hiếm nguồn vốn cho hoạt động tín dụng, có thời điểm phần lớn các
ngân hàng ngừng cấp tín dụng cho nền kinh tế. Song Maritime Bank một mặt vẫn giữ
vững khả năng thanh khoản, mặt khác duy trì giải ngân và phát triển tín dụng để hỗ trợ
các khách hàng truyền thống của mình vượt qua khó khăn, thiều hụt nguồn tài chính.
Đến cuối năm 2008, Maritime Bank đã hoàn thành 102% chi tiêu do cổ đông giao. Năm
2009, tuy chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính nhưng hoạt động tín dụng của
Maritime Bank lại có bước tăng trưởng vượt bậc cả về số lượng và chất lượng tín dụng,
số dư nợ tín dụng cuối năm 2009 đạt mức 23872 tỷ đồng, tăng 115% so với đầu năm.
* Hoạt động đầu tư tài chính
Trong giai đoạn 2006- 2010 Maritime Bank hoạt động rất tích cực trong hoạt động
kinh doanh trên thị trường liên ngân hàng. Tính đến ngày 31/122007 số dư tiền gửi tại
các tổ chức tín dụng của Maritime Bank là 8210 tỷ đồng, tăng 88,9% so với năm 2006.
Đến năm 2009 tiền gửi liên ngân hàng đã lên đến con số 20672 tỷ đồng chiếm 64% hoạt
động đầu tư tài chính, tăng 36% so với năm 2008. Dự kiến năm 2010 đầu tư tiền gửi liên
ngân hàng tăng 89% lên 40000 tỷ.
Bên cạnh đó kinh doanh giấy tờ có giá (đầu tư trái phiếu) cũng đạt mức tăng
trưởng tốt. Đến cuối năm 2007 số dư của nghiệp vụ kinh doanh này là 2169 tỷ đồng,
tăng gấp 2,13 lần so với năm 2006. Đến năm 2009 con số này lên tới 11682 tỷ đồng tăng
85% so với năm 2008. Vì có tính thanh khoản cao và mang lại lợi nhuận ổn định cho nên
giấy tờ có giá luôn được Maritime Bank quan tâm đầu tư đúng mức. Dự kiến năm 2010
đầu tư giấy tờ có giá tăng 83% lên 20400 tỷ đồng.
Với việc kinh doanh trên thị trường liên ngân hàng đã giúp Maritime Bank tối đa
hoá lợi nhuận trên cơ sở cân đối nguồn vốn hiện tại, nhưng để đảm bảo an toàn trong
kinh doanh Maritime Bank đã đầu tư theo hạn mức đối với từng tổ chức tín dụng nhằm
quản lý tốt rủi ro thanh khoản.
Chuyên Đề Tốt Nghiệp
18
Nguyễn Mỹ Hạnh
Quảng cáo 48
* Hoạt động kinh doanh vốn và ngoại hối
Trong năm 2008 hoạt động kinh doanh vốn và ngoại hối tiếp tục có bước phát triển
bền vững và chuyên nghiệp, thực hiện thành công hai nhiệm vụ cơ bản là đảm bảo khả
năng thanh khoản của Maritime Bank và nắm bắt tốt cơ hội thị trường tiền tệ trong năm
2008 để tối đa hoá hiệu quả kinh doanh nguồn vốn và ngoại hối. Tổng vốn giao dịch của
Maritime Bank năm 2008 đạt 130000 tỷ đồng, tăng 28% so với năm 2007, mức giao
dịch bình quân/ tháng của Maritime Bank đạt 11.000 tỷ đồng. Maritime Bank đã hoàn
Quảng cáo 48
Gòn; công ty cổ phần Ngoại Thương và Đầu Tư Phát Triển TP Hồ Chí Minh ( FIDICO);
Công ty cổ phần Container Phia Nam ( Viconship Sài Gòn).
1.2.2.4. Đánh giá về hoạt động kinh doanh.
Bảng 1.1: Bảng báo cáo kết quả kinh doanh từ năm 2006 – 2009.
Đơn vị: Tỷ VNĐ
STT Chỉ tiêu Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
Thu nhập lãi và các khoản tương tự
Chi phí lãi và các chi phí tương tự
546.065
(355.011)
1.060.638
(706.589)
2.481.603
(1.755.291)
4.041.658
(2.763.209)
1
Thu nhập lãi thuần
209.504 354.049 726.312 1.278.449
Thu nhập từ hoạt động dịch vụ
Chí phí hoạt động dịch vụ
19.263
(4.714)
48.049
(6.928)
74.475
(15.175)
kinh doanh trước chi phí rủi ro
tín dụng
151.080 297.919 511.311 1.166.035
10 Chi phí dự phòng rủi ro tín dụng (41.644) (58.060) (74.303) (160.720)
11 Tổng lợi nhuận trước thuế 109.436 239.859 437.008 1.005.315
12 Chi phí thuế TNDN (30.368) (67.013) (120.358) (232.429)
13 Lợi nhuận sau thuế 79.068 172.846 316.650 772.886
Nguồn: Phòng kế toán
Trong điều kiện môi trường kinh doanh ngày càng được cải thiện cùng sự phát
triển của nền kinh tế Việt Nam, với tầm nhìn chiến lược đúng đắn trong đầu tư công
nghệ và nguồn nhân lực, nhạy bén trong điều hành và tinh thần đoàn kết nội bộ Maritime
Bank đã có những bước phát triển mạnh mẽ: Vốn điều lệ của Maritime Bank ban đầu là
Chuyên Đề Tốt Nghiệp
20
Nguyễn Mỹ Hạnh
Quảng cáo 48
40 tỷ đồng, đến 31/12/2007 đạt 1.500 tỷ đồng, tăng 37,5 lần so với ngày thành lập, đến
đầu năm 2009 con số này lên tới 2240 tỷ và đầu năm 2010 là 3000 tỷ. Tổng tài sản năm
1991 là 137 tỷ đồng, đến 31/12/2009 đạt 64.400 tỷ đồng, tăng 470 lần. Dư nợ cho vay
cuối năm 1991 là 34 tỷ đồng, đến 31/12/2009 đạt 24200 tỷ đồng, tăng 711 lần. Lợi
nhuận trước thuế cuối năm 1991 là 1,6 tỷ đồng, đến 31/12/2009 đạt 975 tỷ đồng tăng
609 lần.
Từ bảng báo cáo kết quả kinh doanh và các con số trên cho thấy Maritime Bank
có tình hình kinh doanh hết sức khả quan với những bước phát triển nhanh, mạnh, ổn
định, an toàn và hiệu quả.
1.2.2.5. Thành tích và giải thưởng đạt được
- Năm 2006, Maritime Bank được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước tặng thưởng
Bằng khen vì đã có thành tích xuất sắc, góp phần hoàn thành nhiệm vụ của ngân hàng
trao tặng. Bằng khen của Thủ tướng Chính Phủ vì đã có nhiều thành tích trong công tác
từ năm 2006 đến năm 2008, góp phần vào sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa Xã hội và bảo
vệ Tổ quốc.
1.2.3. Phân tích ma trận SWOT
1.2.3.1. Điểm mạnh
-Là ngân hàng cổ phần đầu tiên được thành lập tại VN với bề dày hơn 18 năm hoạt
động.
-Đang tiến hành tái cơ cấu, đổi mới bộ máy tổ chức theo hướng chuyên môn hoá,
hiện đại hoá.Cơ cấu tổ chức mới sau khi tái cấu trúc nhằm bảo đảm tính chỉ đạo xuyên
suốt toàn hệ thống. Phát triển kinh doanh và quản lý rủi ro được quan tâm đúng mức.
Các kênh phân phối tập trung phân phối sản phẩm, dịch vụ cho khách hàng mục tiêu.
-Có chiến lược kinh doanh hiệu quả: Chiến lược ngắn hạn trong bối cảnh khủng
hoảng kinh tế toàn cầu, chiến lược dài hạn khi Việt Nam ra nhập WTO và hội nhập kinh
tế quốc tế.
-Có đội ngũ nhân viên trẻ, năng động, nhiệt tình và sáng tạo trong công việc. Tăng
cường thu hút nhân tài vào các vị trí chủ chốt, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển
trong tương lai.
-Có các đối tác chiến lược lớn như VID, VNPT, Vinaline, ngành Hàng Hải... Đây
cũng là nhóm khách hàng truyền thống luôn đem lại lợi nhuận cao cho Ngân hàng.
Ngoài ra khối lượng khách hàng mới bao gồm khách hàng cá nhân, khách hàng là các
doanh nghiệp vừa và nhỏ không ngừng ra tăng.
-Đang triển khai mở rộng mạng lưới phân phối, phát triển hoạt động kinh doanh,
cho ra nhiều sản phẩm và dịch vụ mới với chất lượng cao.
-Thời gian gần đây, hoạt động kinh doanh của Maritime Bank đạt được những kết
quả khả quan và luôn nằm trong top 5 ngân hàng có mức lợi nhuận cao nhất, lợi nhuận
năm sau thường tăng gấp đôi so với năm trước.
-Vốn điều lệ và nguồn vốn huy động liên tục ra tăng qua các năm, Maritime Bank
luôn duy trì tỷ lệ an toàn vốn trên 8%.
-Hoạt động tín dụng tăng trưởng cao và bền vững. Tình hình nợ xấu, tỷ lệ nợ quá
hạn trong những năm qua luôn dưới 3%, cho thấy tính chất an toàn và hiệu quả trong
-Việc mở rộng tín dụng cho khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đã có chuyển biến
tích cực nhưng vẫn còn nhiều vướng mắc. Hầu hết các chủ trang trại và công ty tư nhân
khó tiếp cận được nguồn vốn ngân hàng và vẫn phải huy động vốn bằng các hình thức
khác.
-Trong khi đó, năng lực giám sát, quản trị ngân hàng còn nhiều hạn chế. Quá trình
giám sát từ xa còn bất cập trong việc tổng hợp, thu thập và xử lý thông tin, đặc biệt
trong bối cảnh các chuẩn mực về kế toán, kiểm toán chưa được áp dụng thật rộng rãi,
nhất quán. Công tác giám sát tín dụng cũng chưa bao quát hết toàn bộ các định chế tài
chính có liên quan đến hoạt động tín dụng do thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ
quan quản lý Nhà nước và do mô hình quản lý hệ thống tài chính hiện tại về thực chất là
quản lý theo định chế tài chính.
Chuyên Đề Tốt Nghiệp
23
Nguyễn Mỹ Hạnh
Quảng cáo 48
-Các quy định quản lý theo tiêu chuẩn quốc tế như quản lý rủi ro, quản trị tài sản
có, tài sản nợ, kiểm toán nội bộ,… mới được áp dụng, nên chưa thật sự có hiệu lực và
hiệu quả, nhất là trong việc ngăn chặn và cảnh báo sớm các rủi ro trong hoạt động ngân
hàng.
1.2.3.3. Cơ hội
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã và sẽ tác động trực tiếp đến hệ thống ngân
hàng trong nước, đặc biệt là các NHTMCP. Đối với việc Việt Nam gia nhập WTO,
chúng ta phải chấp nhận mở cửa hơn nữa các dịch vụ ngân hàng. Các ngân hàng nước
ngoài dưới nhiều hình thức khác nhau sẽ có nhiều cơ hội hơn trong việc xâm nhập thị
trường Việt nam. Đây chính là động lực để ngành ngân hàng Việt nam phải tự hoàn
thiện, nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững hơn. Hội nhập quốc tế sẽ làm
tăng uy tín và vị thế của hệ thống ngân hàng Việt nam, nhất là trên thị trường tài chính
khu vực. Đồng thời cũng mang lại rất nhiều cơ hội cho các NHTMCPVN nói chung và
tế, các ngân hàng nước ngoài tạo nên áp lực cạnh tranh rất lớn cho các NHTMCPVN,
trong đó có Maritme Bank bởi các đối thủ cạnh tranh này có tiềm lực vốn lớn, kinh
nghiệm quản trị và điều hành tiên tiến, sản phẩm, dịch vụ phong phú, công nghệ hiện
đại. Theo kết quả khảo sát do Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) phối hợp
cùng Bộ kế hoạch và đầu tư thực hiện thì có 42% doanh nghiệp và 50% người dân được
hỏi đều trả lời rằng: Khi mở cửa thị trường tài chính, họ sẽ lựa chọn vay tiền từ các ngân
hàng nước ngoài chứ không phải là ngân hàng trong nước; và có 50% doanh nghiệp và
62% người dân cho rằng sẽ lựa chọn ngân hàng nước ngoài để gửi tiền vào. Đây là một
con số đáng lo ngại và đòi hỏi các ngân hàng trong nước cần nỗ lực rất nhiều mới có thể
cạnh tranh được với các ngân hàng nước ngoài với bề dày kinh nghiệm nhiều năm trên
thị trường thế giới.
Ngoài ra còn có sự cạnh tranh gay gắt từ các ngân hàng quốc doanh trong nước
đang từng bước cổ phần hoá, nâng cao hiệu quả hoạt động, chất lượng cung ứng các sản
phẩm và dịch vụ. Đặc biệt là các công ty bảo hiểm đang từng bước tham gia kinh doanh
trong lĩnh vực ngân hàng.
- Hàng loạt những vấn đề khác cũng đang đặt ra cho Maritime Bank như vấn đề an
toàn, bảo mật thông tin, vấn đề bảo đảm hoạt động liên tục, thông suốt của hệ thống, tối
ưu hóa hệ thống mạng..., đặc biệt là vấn đề đào tạo nguồn nhân lực và tái cấu trúc hệ
thống khi ứng dụng CNTT.
- Ngoài ra, Maritime Bank còn gặp phải một số khó khăn về pháp lý, hệ thống
pháp luật trong nước, thể chế thị trường còn chưa đầy đủ, chưa đồng bộ và nhất quán,
còn nhiều bất cập so với yêu cầu hội nhập quốc tế về ngân hàng. Vì vậy có hạn chế nhất
định đối với sự cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng và phát triển thị trường tiền tệ. Luật
hoạt động của các tổ chức tín dụng hiện hành còn có một số điểm chưa phù hợp với nội
dung của hiệp định GATS và hiệp định Thương mại Việt - Mỹ.
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN
THƯƠNG HIỆU MARITIME BANK GIAI ĐOẠN 2006 – 2010
Chuyên Đề Tốt Nghiệp
25