Ưng dụng yếu tố giới tính vào quảng cáo
Nhóm VÔ ĐỐI
phương hướng hạn chế sẽ có thể để lại những thất bại và thiệt hại rất nghiêm trọng. Với tính chất
rủi ro như vậy, việc nghiên cứu quản trị rủi ro trong việc ứng dụng yếu tố giới tính vào quảng cáo là
điều cần thiết và không thể thiếu đối với các nhà quảng cáo, marketing nói riêng và các doanh
nghiệp nói chung.
Mục đích nghiên cứu đề tài
Đề tài được lựa chọn đi sâu vào nghiên cứu với mục đích là tìm hiểu cặn kẽ những rủi ro
trong việc ứng dụng yếu tố giới tính vào quảng cáo trên cơ sở đó đánh giá và tìm ra những phương
pháp quản trị những rủi ro này một cách nhanh chóng và hạn chế tối đa những thiệt hại mà nó mang
lại một cách hợp lý, hiệu quả nhất.
Đối tượng và phạm vi
Giới tính là một vấn đề khá nhạy cảm, đặc biệt là với nền văn hóa Á Đông, một nền văn hóa
có truyề thống lâu đời và những chuẩn mực đạo đức khắt khe. Việt Nam là một trong những nước
có nền văn hóa Á Đông cho nên việc ứng dụng yếu tố giới tính vào quảng cáo tại Việt Nam chắc
chắn sẽ gặp không ít rủi ro. Trên cơ sở đó, đề tài đi sâu vào nghiên cứu tại Việt Nam để tìm ra
những rủi ro đó và đưa ra phương pháp quản trị rủi ro một cách hiệu quả nhất. Đây cũng sẽ là bài
học kinh nghiệm trong tương lai để áp dụng yếu tố này vào trong công việc marketing của từng
thành viên trong nhóm ngay tại môi trường này.
Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu bằng phương pháp phân tích lý thuyết và thực tiễn thông qua những
trường hợp cụ thể mà các doanh nghiệp Việt Nam đã từng gặp và đối phó trong thực tế, từ đó đưa
ra những bình luận đánh giá và đề ra phương pháp quản trị rủi ro phù hợp và hiệu quả nhất.
Bố cục
Bài nghiên cứu gồm bốn phần chính, phần 1: Những vấn đề cơ bản trong việc ứng dụng
yếu tố giới tính vào quảng cáo, phần 2 : Nghiên cứu thực tế qua các case study tại Việt Nam, phần
Mục lục
Lời mở đầu _______________________________________________________________________ 1
Ý nghĩa đề tài ___________________________________________________________________________ 1
Mục đích nghiên cứu đề tài _______________________________________________________________ 1
Đối tượng và phạm vi ____________________________________________________________________ 1
Phương pháp nghiên cứu _________________________________________________________________ 1
Bố cục _________________________________________________________________________________ 2
Tóm tắt đề tài nghiên cứu ________________________________________________________________ 2
Mục lục __________________________________________________________________________ 3
Chương 1: Những vấn đề cơ bản trong việc ứng dụng yếu tố giới tính vào quảng cáo ________ 4
Các khái niệm ___________________________________________________________________________ 5
Giới tính là gì? _________________________________________________________________________________ 5
Giới tính trong quảng cáo là gì? __________________________________________________________________ 5
Phân loại _______________________________________________________________________________ 5
Phân loại theo các hình thức giới tính trong quảng cáo _______________________________________________ 5
Phân loại theo tuổi tác. _________________________________________________________________________ 7
Vai trò của yếu tố giới tính trong quảng cáo _________________________________________________ 9
Quy trình thực hiện quảng cáo và những rủi ro trong quá trình ứng dụng yếu tố giới tính trong quảng
cáo tại Việt Nam _______________________________________________________________________ 10
Quy trình làm quảng cáo chung: _________________________________________________________________ 10
TVC: ________________________________________________________________________________________ 13
Print art: ____________________________________________________________________________________ 16
Bill board: ___________________________________________________________________________________ 18
Chương 2: Nghiên cứu thực tế việc ứng dụng yếu tố giới tính vào quảng cáo tại Việt Nam ___ 20
TVC Nivea extra Whitening Deodorant _____________________________________________________ 21
Hình thức giới tính sử dụng trong quảng cáo: ______________________________________________________ 21
Rủi ro gặp phải sau khi trình chiếu trên phương tiện đại chúng: _______________________________________ 21
Chương 1: Những vấn đề cơ bản trong việc
ứng dụng yếu tố giới tính vào quảng cáo
Những vấn đề chính trong chương :
Các khái niệm
Phân loại
Vai trò của yếu tố giới tính trong quảng cáo
Quy trình thực hiện quảng cáo và những rủi ro trong quá trình ứng dụng yếu tố giới tính
trong quảng cáo tại Việt Nam
Các khái niệm
Giới tính là gì?
Giới tính là điểm khác biệt giữa phái nam và phái nữ dựa trên những kết quả về vật lý, sinh
học và di truyền học (Theo The One World Action Glossary). Vai trò của giới tính được thiết lập
bởi các yếu tố văn hóa, phong tục, tập quán lẫn các yếu tố về kinh tế, xã hội và chính trị. Sự ảnh
hưởng của giới tính cũng khác nhau đối với người nam và người nữ trong việc xây dựng xã hội,
những mối quan hệ, tính cách cá nhân, hành vi và thái độ của con người.
Giới tính được xây dựng trên sự học tập, sự thay đổi theo thời gian, sự thay đổi bên trong và
giữa các nền văn hóa với nhau. Giới tính được sử dụng để mô tả những đặc điểm của phụ nữ và
nam giới. Một người khi sinh ra là một bé gái hay một bé trai nhưng qua thời gian học hỏi, biến đổi
thì bé gái hay bé trai này sẽ phát triển thành người phụ nữ hay người đàn ông trưởng thành. Hành vi
mẫu hoàn toàn khỏa thân không mặc quần áo và phơi bày các bộ phận của cơ thể mà thay vào đó là
sử dụng hình ảnh người mẫu khỏa thân được chụp từ phía sau hoặc chụp từ phía trước với cơ thể
được che lại ở một số bộ phận nhạy cảm một cách đầy ẩn ý nhằm nhấn mạnh những đường cong
của cơ thể.
Mặc dù sử dụng ảnh khỏa thân có thể thu hút, kích thích sự hấp dẫn về giới tính, đồng thời
tạo được sự chú ý của người xem nhưng đôi khi một mẫu quảng cáo với nội dung bình thường lại
được chú ý nhiều hơn sơ với mẫu quảng cáo có ảnh của người mẫu khỏa thân. Điều này phụ thuộc
vào những nét biểu cảm, tư thế… của người mẫu có đủ độ tinh tế hay không. Ngoài ra còn có các
yếu tố quan trọng hơn, quyết định sự hấp dẫn về giới tính là hành vi, sự tương tác thể chất và bối
cảnh tình dục.
Một số ví dụ điển hình cho trường hợp này là Print ad Extra Deep Heat, Dove Athena Full
Body, Aquafina cho tài năng tỏa sáng…
Các hành vi về giới tính (Sexual Behaviors)
Mặc dù quảng cáo thường không thể hiện trực tiếp đến những hình ảnh quan hệ tình dục
nhưng những hành vi về giới tính vẫn được sử dụng. Thuật ngữ thường đề cập đến những hành vi
tình dục của một cá nhân hay sự tương tác giữa các cá nhân với nhau.
Trường hợp quảng cáo chỉ gồm một người mẫu thì hành vi giới tính được người mẫu thể
hiện thông qua việc giao tiếp bằng một ánh mắt, phong cách, cử động, giao tiếp ngôn ngữ và phi
ngôn ngữ…
Dạng thứ hai của hành vi giới tính trong quảng cáo là sự giao tiếp giữa ít nhất hai cá nhân
với nhau, thông thường là một cặp nam nữ, đó có thể là những hình ảnh hai người đang ôm, hôn,
tiếp xúc cơ thể… Tới thời đại công nghệ truyền thông tiếp thị ngày càng phát triển, các hành vi về
giới tính được thể hiện một cách rõ ràng không chỉ bằng hình ảnh ánh mắt, cơ thể hấp dẫn, mà còn
thông qua sự chuyển động, âm thanh cuốn hút và gợi cảm.
Một vài ví dụ điển hình như: quảng cáo Romano, Redbull, Print Ads của Sony Vaio 2+3
Sự hấp dẫn về thể chất (Physical Attractiveness)
Sự hấp dẫn về thể chất được hiểu như là các đánh giá chủ quan của một cá nhân về những
yếu tố mang tính thẩm mỹ thuộc ngoại hình của một cá nhân khác, đó là vẻ đẹp của làn da, khuôn
mặt, hình dáng cân đối của cơ thể… theo nhà tâm lý học David Buss, các đặc điểm của ngoại hình
có sự liên kết với sự ham muốn về tình dục. Và đây là lí do vì sao sự hấp dẫn về thể chất trong
Về sinh lý, nữ giới khác nam giới ở chỗ nữ giới bắt đầu có kinh nguyệt, sự rụng trứng,
mang thai, sinh con và nuôi con bằn sữa, Con gái 14 tuổi thì bắt đầu có kình nghiệt, trước và sau
khi kinh nguyệt, nữ giới thường cảm thấy vú nở ra, tay chân mỏi, ăn uống không ngon, dễ bị kích
động, đây là hình tượng sinh lý bình thường. Đặc điểm sinh lý của nữ giới giai đoạn này rất phức
tạp, hiểu biết những đặc điểm nay để giữ vệ sinh, bảo đảm sức khỏe là điều cần thiết và bổ ích.
Đối với nam giới, giai đoạn này cũng có sự biến đổi phức tạp về sinh lý, cơ thể bắt đầu phát
triển nhanh và có nhiều thay đổi như chiều cao tăng lên đáng kể, cơ bắp nhiều hơn. Trong giai đoạn
này cơ quan sinh dục thay đổi nhiều nhất, dương vật lớn lên cả bề ngang lẫn chiều dài. Hóc môn
của bạn nam tăng cường hoạt động kéo theo sự thay đổi của tuyến giáp, giọng của các bạn nam có
nhiều biến chuyển, thay đổi, giọng trầm xuống. Thêm vào đó, râu cũng bắt đầu xuất hiện trên mặt,
bên cạnh sự xuất hiện của lông tay, chân và ở vùng quanh cơ quan sinh dục. Cơ thể cũng bắt đầu
sản sinh tinh trùng và có khả năng thụ tinh và sinh con.
Nói chung đây là giai đoạn lứa tuổi bắt đầu đạt đến sự trưởng thành về mặt cơ thể, lứa tuổi
quyết định của sự hình thành thế giới quan. Sự hình thành thế giới quan là nét chủ yếu trong sự phát
triển tâm lý ở thanh niên. Ở tuổi này những điều kiện về mặt trí tuệ, nhân cách và xã hội để xây
dựng một hệ thống quan điểm riêng đã được hình thành và chín muồi.
Trên cơ sở phát triển sinh lý, mức độ chín muồi của quá trình phát triển các đặc điểm sinh lý
giới, sự cảm nhận về tính chất người lớn của bản thân mình ở thanh niên không phải là một cảm
nhận chung chung mà liên quan chặt chẽ với việc gắn kết mình vào một giới nhất định. Từ nhận
thức đó, thanh niên dần dần hình thành những nhu cầu, động cơ, định hướng giá trị, các quan hệ và
các kiểu loại hành vi đặc trưng cho mỗi gia đình. Đa số nam thanh niên ý thức được tương đối rõ
ràng cụ thể đối tượng nhu cầu tình dục của mình. Đối với nữ thì có nhiều khác biệt cá nhân, một số
cũng cảm thấy những cảm giác và nhu cầu tình dục mạnh mẽ như nam, nhưng phần lớn lại có nhu
cầu tình cảm, gắn bó, yêu thương, được tôn trọng, khích lệ, quan tâm, săn sóc, chứ không có nhu
Để gây chú ý đối với một quảng cáo, người làm quảng cáo thường sử dụng các yếu tố trẻ
em, sự hài hước và đặc biệt là các yếu tố giới tính. Nhiều chuyên gia vẫn còn hoài nghi về tác dụng
của yếu tố giới tính đối với quảng cáo nhưng mặt khác cũng có nhiều người tin rằng yếu tố này là
một công cụ hữu hiệu để thu hút bán hàng.
Theo một nghiên cứu của Lang và đồng nghiệp thì những thông điệp có nội dung gây kích
động sẽ khiến người nghe nhớ lâu và dễ gợi lại hơn là những thông điệp bình thường, kể cả khi hai
thông điệp này có mức độ mã hóa hoàn toàn giống nhau. Mặc khác, sự khêu gợi cũng sẽ gợi lên các
phản ứng về mặt cảm xúc, có thể là những tác động tích cực và gây kích động. Các phản ứng cảm
xúc kích động tích cực này sẽ làm tăng khả năng mã hóa và duy trì đối với nội dung của thông điệp.
Chính vì lý do đó, các quảng cáo khêu gợi có thể được nhận ra và gợi nhớ tốt hơn so với những
quảng cáo khác.
Theo như Tom Reichert nói “Chừng nào con người còn khao khát trở nên thu hút, và chừng
nào con người còn khao khát sự lãng mạn, thân mật, tình yêu cùng tất cả những cảm xúc tuyệt vời
họ có, thì những người làm quảng cáo vẫn còn có thể cho người ta thấy bằng cách nào sản phẩm
của họ đáp ứng được những nhu cầu và mong muốn trên”. Như vậy có thể thấy rằng yếu tố giới
tính trong quảng cáo đã làm rất tốt nhiệm vụ của mình trong việc thu hút sự chú ý lẫn tạo nên
những giá trị thương hiệu liên quan đến giới tính.
tưởng
xuất
sắc
Kiểm
tra ý
tưởng
bằng
focus
group
Trình
bày ý
tưởng
với
khách
hàng
Hoàn
thiện
mẫu
quảng
cảo
Kiểm
duyệt
Đưa
vào
công
chúng
Phản
ứng
với
các Hiểu lầm ý khách hàng
• Có sử dụng yếu tố giới tính hay không?
• Mức độ sử dụng như thế nào?
Kiểm tra ý tưởng lỏng lẻo
• Mẫu quảng cáo lạm dụng yếu tố sex quá nhiều , vô tình lấn át luôn cả sản phẩm
• Focus group nhỏ .ít tiêu biểu nên làm nhà quảng cáo không lường trước được
phản ứng của công chúng
Không truyền tải hết nội dung trong lúc thuyết trình với khách
hàng
• Trình bày ý tưởng bị thiếu sót hoặc sai lệch với người sáng tạo nên khách hàng
không hiểu rõ được và bỏ qua những chi tiết đắt giá
Rủi ro trong khâu hoàn thiện mẫu quảng cảo
• Rủi ro về diễn viên, người mẫu (không chịu đóng 1 số cảnh quay, hoặc đã có
scandal về sex ngay trước khi tung mẫu quảng cáo,v.v )
• Rủi ro về nhà sản xuất, đơn vị thi công (không có hoặc có ít kinh nghiệm về
thực hiện quảng cáo sử dụng yếu tố sex
• Rủi ro trong việc thực hiện mẫu quảng cáo
Không qua được khâu kiểm duyệt
• Vi phạm văn hóa, thuần phong mĩ tục của người Việt Nam
• Vi phạm các điều khoản trong quy định của cơ quan chức năng
• Người kiểm duyệt hơi nhạy cảm với vấn đề sex
• Thời gian kiểm duyệt thường lâu hơn khi có yếu tố sex
Chiến lược quảng cáo không phù hợp
• Lựa chọn chiến lược quảng cáo không phù hợp
• thời điểm tung quảng cáo hơi nhạy cảm
• kênh truyền thông
f)
Sáng
tạo ra
các
ideas
Lựa
chọn 1
ý
tưởng
xuất
sắc
Kiểm
tra ý
tưởng
bằng
focus
group
Trình
bày ý
tưởng
với
khách
hàng
Hoàn
thiện
mẫu
quảng
cảo
Kiểm
duyệt
Ngoài những rủi ro chung, khi làm TVC còn phát sinh ra những rủi ro khác như:
Rủi ro trong quá trình chuẩn bị ra 1 tvc
Censorship
Người bên đài truyền hình không thích ý tưởng quảng cáo có sử dụng yếu tố giới tính hơi táo
bạo của nhà quảng cáo , sau 1 số cuộc thảo luận thì gây ra chút hiểu lầm giữa 2 bên
Người bên đài chỉ chấp nhận ý tưởng một khi cắt 1 số cảnh tế nhị làm mất ý nghĩa và ý tưởng
ban đầu bỗng trở nên tầm thường
Lựa chọn đơn vị sản xuất
Nhà sản xuất chưa có kinh nghiệm trong việc quay các cảnh có chút yếu tố sexy nên làm các
cảnh quay thô, không thể hiện cái hồn trong ý tưởng ban đầu
Nhà sản xuất hiểu lầm ý của bên nhà quảng cáo ( làm tăng nhiều yếu tố nhạy cảm, hoặc giảm
thiểu yếu tố sáng tạo)
Chuẩn bị sản xuất
Tuyển diễn viên:
Các diễn viên chuyên nghiệp không đồng ý thức hiện các cảnh quay tế nhị, còn các diễn viên
chấp nhận thì lại diễn không đạt yêu cầu
Diễn viên chính cho quảng cáo mới vừa dính là scadal về sex
Địa điểm :
Không có được giấy phép quay tại nơi đó vì nội dung quay quá nhạy cảm hoặc người cấp giấy
phép không “thoáng” trong vấn đề giới tính
Đạo cụ, hóa trang, phục trang:
Hóa trang không phù hợp
Phục trang quá hở hang, không phù hợp , và không đúng ý đồ của người ra ý tưởng
Quay phim
Xảy ra bất đồng giữa diễn viên, đạo diễn và nhà biên kịch mà nguyên nhân chính là về sex
Phía bên đại diện của khách hàng không hiểu hết quy trình làm TVC nên phản đối cản trở 1 số
đoạn cảnh quay
Kiểm tra mẫu phim
Print art: Lưu ý:
Mỗi print-ad chỉ thể hiện 1 thông điệp duy nhất, thông điệp đó phải đáp ứng mục tiêu quảng cáo
trong 1 giai đoạn cụ thể.
Bên cạnh sự sáng tạo thì 1 print-ad hiệu quả phải truyền tải được thông điệp của vấn đề đúng,
chính xác nhất tới người tiếp nhận và thông điệp đó phải hiểu được.
Quy luật bất biến: đảm bảo một print-ad phải đảm bảo 3 yếu tố: Insight, Relevant, Simple.
Mức độ truyền tải thông điệp còn phụ thuộc và việc nhấn mạnh các yếu tố Headline nhoặc Art.
Tuy nhiên điều này chỉ hiệu quả khi mà ta biết nhấn mạnh vào yếu tố nào: Headline hay Art,
chỉ 1 yếu tố mà thôi, nếu không thông điệp sẽ bị giảm truyền tải. Yêu
cầu
khách
hàng
(creati
vebrie
f)
Sáng
tạo ra
các
ideas
Lựa
chọn 1
ý
tưởng
Designer sẽ là người hoàn thiện tác phẩm,
ghép tất cả các phần lại với nhau và xử lý
bằng đồ họa nhằm thể hiện idea một cách rõ
ràng nhất
Ngoài những rủi ro chung, khi làm Print Ad còn phát sinh ra những rủi ro khác như:
Rủi ro trong khi thực hiện Print-ad.
Các yêu cầu về sản phẩm ( print-ad) của khách hàng không được chuyền tải đủ và đúng sẽ dẩn
đến việc xây dựng Creative Brief không hiệu quả và kéo theo các khâu tiếp theo bị xa rời cốt lõi
của thông điệp mà khách hàng yêu cầu. Từ đó tốn nhiều thời gian và công sức để sửa chữa hoặc
làm lại.
Rủi ro trong khâu kiểm tra lỏng lẻo hoặc không kiểm tra các option của Creative Director.
Rủi ro trong khâu in ấn làm cho màu sắc sau khi in không phù hợp với idea ban đầu.
Rủi ro sau khi thực hiện print-ad.
Có quá nhiều thứ lộn xộn trên print-ad. Điều này có thể do sự tham lam của client hoặc agency
khi để quá nhiều thông tin,hình ảnh số liệu… sắp xếp không hợp lý vào một print-ad dẩn dến
rối mắt và gây phản cảm.
Print-ad khó hiểu do 2 nguyên nhân: 1. Quá nhiều thôgn điệp cho 1 print-ad, 2. Thông điệp mờ
mịt không rõ ràng khiến người tiêu dùng khó cảm nhận.
Rủi ro trong đánh giá hiệu quả: bởi vì kjprint-ad chủ yếu trên báo giấy nên khó kiểm soát lượng
rate và view.
Print-ad khó chấp nhận vì mang nhiều yếu tố xung đột văn hóa, xã hội, pháp luật như hình ảnh
quá phản cảm, bạo lực hay đồi trụy.
Rủi ro xuất hiện lỗi trong print-ad lý do có vấn đề trong khâu kiểm tra của Creative Director và
Client.
khách
hàng
(creativ
ebrief)
Sáng
tạo ra
các
ideas
Lựa
chọn 1
ý tưởng
xuất sắc
Kiểm
tra ý
tưởng
bằng
focus
group
Trình
bày ý
tưởng
với
khách
hàng
Hoàn thiện mẫu
quảng cảo
Phản
ứng với
các
phản
Ngoài những rủi ro chung, trong quá trình làm Bill board còn phát sinh ra những loại
rủi ro khác:
Rủi ro trong quá trình thực hiện Billboard
Rủi ro trong việc chọn sai mục tiêu quảng cáo, hoặc đúng mục tiêu nhưng chọn sai thông điệp
cần nói, chọn sai hình cảnh cần để thể hiện thông điệp.
Rủi ro do khảo sát sai vị trí đặt Bill Board: dựng Bill Board lên nhưng không lường trước các
công trình khác có nguy cơ là vật cản che khuất tầm nhìn sau này
Rủi ro trong việc chọn kích cỡ Bill Board, gây khó đọc, khó tiếp cận người tiêu dung
Rủi ro do agency không hiểu roc ý muốn của client, gây kéo dài thời gian cho việc sáng tạo và
thống nhất ý tưởng
Rủi ro trong sang tạo. sản phẩm sang tạo gây khó hiểu, đánh đố người xem,quá phức tạp hay
quá rườm rà không kịp để người tiêu dung có thể hiểu nhanh được ý vì thời gian để xem 1 Bill
Board thường rất ngắn
Rủi ro do sai lệch các thông số kỹ thuật cần thiết, phải tính toán lại gây mất thời gian…
Rủi ro trong việc xin giấy phép quảng cáo, giấy phép xây dựng…. gây chậm tiến độ hoặc Bill
Board có thể sẽ không thực hiện được
Rủi ro trong quá trình thi công, tính nguy hiểm, các tai nạn có thể xảy ra, thiết kế và sản phẩm
thực tế không khớp, các sai xót do đo lường, tính toán….
Rủi ro sau khi Bill Board đã đưa vào sử dụng
Rủi ro do các loại giấy phép và giấy tờ phát sinh
Rủi ro do tác động của ngoại cảnh, mưa gió bão, gây hư hỏng công trình, hư nền móng, lật đổ
Bill Board
Rủi ro do thiết kế không như mong đợi, trên mô hình thì đẹp nhưng hiệu quả bên ngoài không
đẹp, màu sắc, loại chữ, cỡ chữ… không phù hợp gây khó đọc
trong vấn đề xin giấy phép và thực hiện. Chương 2: Nghiên cứu thực tế việc ứng
dụng yếu tố giới tính vào quảng cáo tại
Việt Nam
Những vấn đề chính trong chương :
Case study: TVC Nivea extra Whitening Deodorant
Case study: Print Ad Nệm Liên Á
Case study: Chiến dịch Omachi vị Spagetty của Masan
Case study: sản phẩm Miss Saigon
TVC Nivea extra Whitening Deodorant
Hình thức giới tính sử dụng trong quảng cáo:Sự hấp dẫn về thể chất (Physical
Attractiveness)
rũ”.
Thông điệp quảng cáo đưa ra: “Vì đẹp là tự tin”, nhưng xuyên suốt video người ta chỉ thấy cô
gái “tự tin” khoe nách “trắng mịn” mọi nơi mọi lúc, kể cả ở nơi công cộng và bữa tiệc đông
người.
Người Việt Nam khá tế nhị khi đề cập đến những vấn đề nhạy cảm riêng tư, đặc biệt là các sản
phẩm tế nhị, script khá “thô” nên đoạn quảng cáo này có thể làm cho khách hàng tẩy chay hoặc
quay lưng với Nivea, chuyển sang sử dụng sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh.
Nên sử dụng:
Sử dụng hình ảnh những người mẫu xinh đẹp quyến rũ để quảng cáo các sản phẩm nước hoa,
dầu gội dễ được chấp nhận hơn so với quảng cáo các loại máy móc thiết bị hay nguyên vật liệu
cho sản xuất công nghiệp.
Khai thác những nét đẹp truyền thống của những người phụ nữ Á Đông.
Đưa vào trong quảng cáo những giá trị người phụ nữ trong xã hội cũng như vai trò của người
đàn ông trong gia đình.
Sử dụng âm nhạc, mỹ thuật… để truyền tải những thông điệp trong quảng cáo cho các sản
phẩm “tế nhị”
Quảng cáo giới tính nên đi kèm sự sáng tạo về nghệ thuật để tạo sự thu hút.
Nên tránh:
Sự cố ý phô bày thân xác, tạo cảm giác các giá trị khác bị hạ thấp hoặc cố ý xem thường.
Sử dụng các hình ảnh, đối thoại gây phản cảm, liên tưởng đến những hình ảnh thô tục hoặc bạo
lực.
Lạm dụng sex và làm người phụ nữ có cảm giác bị hạ thấp.
Những hình ảnh kích thích tình dục trẻ em.
Quá tập trung vẽ lên các viễn cảnh giàu sang tạo lối sống hưởng thụ bất chấp các giá trị sống
khác.
Vấn đề đồng tính, chính trị, tôn giáo… Print Ad Nệm Liên Á
Giới thiệu
Đối tượng mục tiêu của Omachi trong chiến dịch này được mô tả như sau “Target
consumer: man (18-28), ABC Class, urban.” Với concept của chiến dịch lần này là “Sexy”, tuy chi
rất nhiều tiền nhằm đưa TVC quảng cáo sản phẩm lên sóng vào giờ cao điểm, Masan tập trung
nhiều vào mảng Marketing online hơn với các hình thức như Rich media trên các trang báo điện tử
nổi tiếng như 24h, Vnexpress, Banner quảng cáo trên mục sign in của Yahoo, Viral marketing trên
các diễn đàn như Voz, lamchame…
Ứng dụng hình thức sex:
Sexual Behaviors (các hành vi giới tính) và Physical Atractiveness (sự hấp dẫn thể chất), đại
diện cho chiến dịch Omachi Spagetty lần này là những người mẫu xinh đẹp, sexy với các hành
động quyến rũ, gợi tình thi ăn mì (Banner trên các web), làm PG cho trò chơi “quay mì” trên
microsite http://www.omachi.com.vn/#/contest với phần thưởng là “10 gói mì Omachi Spagetty”,
một “vũ điệu mê hoặc” và môt “nụ hôn ngọt ngào”.
Các rủi ro mà chiến dịch có thể gặp phải:
Trước khi ra mắt:
Không được sự chấp nhận từ các trang báo, forums do mang yếu tố sex
Các rủi ro về luật pháp khi ứng dụng chủ đề sexy trên các phương tiên như TVC, Poster,
Billboard….
Trong quá trình chạy chiến dịch
Đối tượng mục tiêu không có phản ứng rõ rệt
Gây phản cảm dẫn đến bị tẩy chay
Bị lợi dụng hình ảnh trên mạng
Có những phản hồi không tốt từ khách hàng như bị nói xấu trên các diễn đàn thông tin, các
blog…