Tiểu luận:Phân tích môi trường vi mô của nước Úc potx - Pdf 11


Phân tích môi trường vi
mô của nước Úc
1.Phân tích khách hàng (Úc)
2.Phân tích lợi thế cạnh tranh của đối thủ cạnh tranh dẫn đầu ngành
(Thái Lan)
3.Phân tích lợi thế cạnh tranh của Việt Nam
4.Phân tích nguồn cung ứng cho tôm sú Việt Nam 8/29/2011

PHÂN TÍCH KHÁCH HÀNG (ÚC)
A.Tình hình sản xuất, và nhu cầu về sản phẩm tôm ở Úc

Nhìn vào biểu đồ (a) , khoảng màu cam đậm gần dưới đáy thể hiện cho sản lượng tôm của Úc đang có xu hướng
thu hẹp dần và sản lượng năm 2008-2009 đạt 23.900 tấn , chiếm 10% trong tổng sản lượng thủy hải sản của Úc.
Đơn giá trung bình cho 1kg tôm đã tụt giảm gần 50% từ 08/1999 đến 08/2009 (được biểu diễn bằng đường chỉ
màu cam đậm ở biểu đồ (d)) .Do đơn giá giảm gần 50% , nên tổng giá trị tôm sản xuất cũng giảm khoảng 50%và
đạt giá trị là 289 triệu đô la Úc vào năm 2008-2009 ( đường chỉ cam đậm ở biểu đồ (c))

Bảng sản lượng và giá trị tôm của Úc xuất khẩu ra các nước khác

Bảng sản lượng và giá trị của tôm nhập khẩu vào thị trường Úc
Kết hợp bảng giá trị xuất nhập khẩu của Úc và biểu đồ (a) và (c) ta có được tổng lượng cầu về mặt hàng tôm của
nước Úc năm 2008-2009 vào khoảng 32.000 tấn. Và sản lượng tôm được nhập khẩu vào Úc chiếm khoảng 40%
tổng lượng cầu của nước Úc.
Bên cạnh đó, ta có thể nhận thấy rằng lượng tôm sản xuất của Úc đang có xu hướng ít lại dần qua các năm 1999

tiêu thụ riêng trong tuần lễ giáng sinh đã cao lên gấp 10 lần và lễ phục sinh là 5 lần so với lượng
tiêu thụ vào 1 ngày bình thường.
Bên cạnh đó, vào ngày lễ doanh thu cũng tăng từ 20% - 50% so với doanh thu trung bình
*Danh sách các nhà nhập khẩu tôm chính cho Úc:

Biểu đồ (t) cho ta thấy được xu hướng xuất khẩu thủy sản vào Úc .Những nước xuất khẩu thủy sản chính
cho Úc như: Thái Lan, New Zealand,Việt Natm và Trung Quốc đều có xu hướng gia tăng giá trị.Vì do
lượng sản xuất trong nước không đủ đáp ứng cho nhu cầu của người tiêu dùng nên phải bù lượng thiếu
hụt đó bằng hàng hóa nhập khẩu từ các nước khác.
Như vậy:
 Úc là thị trường tiềm năng về mặt hàng tôm đông lạnh cho các nước xuất khẩu
 Ước tính lượng tôm cần được nhập khẩu vào Úc sẽ chiếm khoảng hơn 40% tổng nhu cầu của nước Úc
 Những tháng cần tập trung xuất hàng qua Úc bắt đầu tháng 7, 8,9,10 để bù vào lượng tôm thiếu hụt trên
thị trường Úc và tăng cường hơn vào 2 tháng cuối năm là 11, và 12 để chuẩn bị cho dịp giáng sinh.Ngoài
ra cần chú ý vào tháng 3 và 4.
B.Những đặc điểm cơ bản của người tiêu dùng Úc
I. Thị hiếu , sở thích chung của người Úc:
 Người Úc thích sản phẩm của chính quốc hơn là sản phẩm nhập khẩu. Vì họ thích tôm tươi chưa qua
đông lạnh hơn những sản phẩm đã được sơ chế và nấu chín hoặc những sản phẩm sơ chế và để lạnh
 Vì văn hóa ẩm thực của Úc nổi trội là những món nướng nên những năm gần đây, lượng tiêu thụ tôm tươi
và tôm đông lạnh chỉ qua sơ chế tăng nhiều hơn là sao với sản phẩm đã được nấu chín.Các sản phẩm nhập
khẩu vào thị trường Úc nên lưu ý đến đặc điểm này để ưu tiên xuất sang Úc những sản phẩm sơ chế đông
lạnh đặc biệt dùng để nướng.
 Tôm loại lớn thường được các nhà hàng ưu chuộng để làm những món đặc biệt cho thượng khách.Chính
vì thế mà yêu cầu về hình thức (nguyên con, đẹp, không gãy, ) và chất lượng (độ tươi, vị ngọt ,thành
phần đạm ,v.v ) cũng cao hơn hẳn.Với những con tôm to ( trên 15g/con) thì được chính phủ Úc cho nhập
nguyên con (không lột vỏ và bỏ đầu), nên trong quá trình vệ sinh, đóng gói và vận chuyển cần nhanh ,cẩn
thận ,khéo léo và đảm bảo để tôm tươi,không bị dập, gãy, đẹp.
 Người Úc có lối sống và suy nghĩ giản dị, và có phần hơi chút “bình dân”, và tiết kiệm,nên với 1 chiến
lược về giá hợp lí thì sẽ thuyết phục được người tiêu dùng nơi đây.

 Những cơ quan có thẩm quyền tại các nước xuất khẩu chứng nhận :
 Sản phẩm không bị ép thu hoạch sớm và được chứng nhận không mang mầm mống bệnh
 Sản phẩm đã qua xử lí, kiểm tra và xếp loại bởi cơ quan có thẩm quyền
 Sản phẩm không có dấu hiệu có bệnh truyền nhiễm và phù hợp cho con người sử dụng
 Thêm vào đó, cơ quan có thẩm quyền tại nước xuất khẩu cũng phải đảm bảo:
 Đối với tôm chưa được nấu chín, nguyên con, không lột vỏ và không bỏ đầu, trên bao bì
phải ghi rõ : “ sản phẩm chỉ dành cho con người sử dụng , không dùng vào việc làm mồi
hoặc cho các động vật dưới nước ăn
 Đối với tôm sống nguyên con, mỗi con nặng trên 15g, thì mỗi gói hàng không được nặng
quá 29 pounds hoặc 66kg, và trên bao bì ghi rõ phân loại kích cỡ
 Giấy chứng nhận phải thể hiện đầy đủ tên của cơ quan có thẩm quyền đã kiểm tra sản phẩm, chữ
kí của người có trách nhiệm tại thẩm định tại cơ quan đó, và trên mỗi tờ giấy chứng nhận có dấu
mộc đảm bảo
3. Yêu cầu vận chuyển:
 Kiểm tra khi hàng đến cửa khẩu:
 Tất cả các lô hàng khi cập bến sẽ được đưa đến nơi kiểm tra để đảm bảo phù hợp cho
người tiêu dùng
 Điều này được đánh giá qua một số chỉ tiêu bao gồm: hình thức,kích thước và nguồn gốc
 Kiểm tra
 Tất cả lô hàng được kiểm tra có đốm trắng, biểu hiện của hội chứng virut (WSSV) bằng
cách lấy mẫu và thử nghiệm.
 Tất cả lô hàng sẽ bị giữ lại trong kho kiểm duyệt đến khi nào có kết quả kiểm tra.Đến lúc
đó lô hàng mới được trả lại, hay tái xuất khẩu, hay bị tiêu hủy hoặc cho bất kì mục đích
nào khác với sự cho phép của AQIs
 Kê khai, lưu trữ hồ sơ
 Nhà nhập khẩu phải kê khai cho tất cả lô hàng sẽ không sử dụng cho mục địch làm mồi
câu hoặc chế biến lại với mục đích thương mại ( trừ 1 số trường hợp cho phép)
 Tất cả hồ sơ đều phải được nhà nhập khẩu lưu trữ trong thời gian cố định
 Những biên bản sẽ được AQIs kiểm toán và theo dõi
 Tái chế biến:

1. Kênh phân phối cho sản phẩm tôm đông lạnh của Úc
Bốn kênh phân phối chính gồm có:
 Bán cho nhà bán buôn, bán lẻ và cơ sở chế biến thủy hải sản
 Đưa vào thị trường thủy sản của Sydney
 Bán tại thị trường tươi sống SFM
 Bán cho chuỗi siêu thị hoặc các nhà bán sỉ thủy hải sản thông qua các đại lí
Ngoài ra, còn có thể bán trực tiếp cho các nhà bán lẻ, các hợp tác xã, các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống
(vd: nhà hàng, khách sạn.v.v ) và bán tại các cơ sở sản xuất. Có thể kết hợp nhiều kênh phân phối chính với
nhau, nhưng hình thức này sẽ mất rất nhiều chi phí và tiền chiết khấu cho mỗi kênh phân phối.
2. Kênh phân phối cho sản phẩm tôm đông lạnh nhập khẩu vào Úc:
Thông thường thì các nhà nhập khẩu sẽ tìm một công công ty tại nước sở tại để làm cầu nối trung gian.Rồi từ
các đại lí trung gian hàng hóa hơn nửa được phân phối lại cho các siêu thị, phần còn lại sẽ phân phối cho các
nhà bán buôn cá, các cửa hàng (outlets) và bán giá rẻ hơn trên số lượng nhiều cho các cơ sở kinh doạnh dịch
vụ ăn uống.
V. Chiêu thức xúc tiến thương mại gần đây được người dân yêu thích:
1. Khách hàng được nếm thử các sản phẩm mới
2. Quảng cáo sản phẩm trên các báo và phương tiện truyền thông- kênh tiếp thị mà dường như đã bị bỏ quên
trong thời gian dài.
3. Những đoạn phim ngắn(trên mạng internet hoặc các phương tiện truyền thông, hoặc tại siêu thị. Điểm bán
sản phẩm) giải thích về kĩ thuật nuôi trồng, đóng gói và vận chuyển đến người tiêu dùng để họ biết chắc
sản phẩm không những đạt chất lượng mà không gây hại đến môi trường
4. Chiến lược giá thấp
5. Bao bì có thẩm mĩ,mới lạ và độc đáo
6. Bao bì có thể nhìn thấy được tôm thành phẩm ở trong
7. Sản phẩm đã thông qua tiêu chuẩn của tổ chức có uy tín, và có logo của tổ chức đó trên nhãn
8. Các gian hàng trong hội chợ triễn lãm.


(198.000 dặm vuông) lớn thứ 50 trên thế giới và dân số khoảng 64 triệu
người đông thứ 21 trên thế giới.
Nằm trong khu vực Đông Nam Á với đới khí hậu nhiệt đới thuận lợi cho tôm phát triển.
Tổng cộng diện tích nuôi tôm là khoảng 500.000 rais.
Thái Lan với 2.600 km bờ biển thuận tiện cho việc phát triển nuôi trồng thuỷ hải sản nước mặn và nước lợ.
Từ những năm 1970 nghề nuôi tôm biển ở Thái Lan mới thực sự phát triển và đến đầu những năm 90 Thái
Lan là nước dẫn đầu thế giới về sản lượng tôm sú.
Tôm Thái chủ yếu được nuôi ở 3 vùng chính là: Chachengsao and Chonburi,Songkla,Phuket and
Pang-nga. Ba vùng này được xem như những vùng đảm bảo về vệ sinh, môi trường nước, rừng ngập mặn,
đảm bảo vi sinh và không gây hại môi trường
2. Tài nguyên và lao động.
Người Nông dân cầu tiến, học hỏi các công nghệ mới và gắn chặt với các hiệp hội nông nghiệp.Từ đó,
các kiến thức mới về nuôi tôm, kỹ thuật canh tác được các kỹ sư chuyển giao đến người nông dân hiệu
quả và giải quyết thỏa đáng nhằm đảm bảo chất lượng tôm tốt nhất.
Thái Lan sở hữu diện tích rừng ngập mặn đáng kể, thuận lợi nuôi trồng các loại thủy hải sản môi trường
nước mặn và lợ.
Song, diện tích này đang càng ngày thu hẹp nhiều vì lý do người dân canh tác không điều độ, đã làm
cho môi trường đất và nước mất đi màu mỡ và độ phì nhiêu, nước bị ô nhiễm nặng cũng là nguyên nhân
gây nhiều dịch bệnh cho tôm.
Ngành công nghiệp tôm liên tục tăng trưởng mạnh và tiềm năng lợi nhuận là rất lớn khiến cho nhiều
người dân bỏ lúa mà chuyển sang nuôi tôm xuất khẩu. Tuy nhiên, do thiếu các kiến thức và kỹ năng
đúng đắn và cần thiết về thực hành nên gây ra nhiều vấn đề bất lợi cho môi trường và canh tác không
hiệu quả.
II. Yếu tố tăng cường.
Hạ tầng , kĩ thuật và giáo dục.
Hệ thống đường xá , giao thông vận tải được đầu tư có kế hoạch từ rất sớm, đây là yếu tố thúc đẩy việc giao
thương, vận chuyển, xuất hàng, nhập hàng ở các cảng Thái.Đồng thời bằng các tuyến giao thông huyết
mạch, kết hợp cùng hệ thống cảng biển, cảng sông tạo điều kiện thông thương giữa các vùng miền và với
các nước trong khu vực.
Từ năm 1990, Chính Phủ Thái Lan đã đầu tư xây dựng các trung tâm nghiêm cứu và phát triển ngành tôm

Sau khi thu hoạch, tôm tươi được chuyển đến ngay nhà máy chế biến tôm hoặc bảo quản ở kho lạnh trung gian.
Như vậy sẽ có sự hợp tác của ngành vận tải và bảo quản trong quá trình vận chuyển cũng như các trang thiết bị
phục vụ bảo quản và vận chuyển. Việc bảo quản phụ thuộc nhiều vào chất lượng kho trữ lạnh, xe chuyên dụng có
buồng lạnh, các loại phụ gia giữ cho tôm tươi lâu hơn và không có mùi.
Khi tôm được đưa đến nhà máy chế biến, có hai hình thức chế biến là chế biến thủ công và cơ khí hóa. Song,
các công việc quan trọng như lột vỏ tôm, lấy đường chỉ và làm sạch thì cần đến nhân công lao động. Do vậy việc
đào tạo nghề cho người lao độngcũng là một vấn đề cần quan tâm.
Sản phẩm tôm sau khi thành phẩm được đóng gói thông qua một quy trình nghiêm ngặt, từ chất liệu bao bì, loại
nhựa dùng bảo quản thức phẩm cũng phải tuân thủ nhiều ràng buộc chặt chẽ. Song song đó là việc đảm bảo vệ
sinh, hút chân không và đảm bảo chất lượng sản phẩm sau đóng gói.
III. Bảo quản, Vận chuyển, và xuất cảng
Các thành phẩm sau khi được chế biến và đóng gói xong sẽ được cất trữ khi chưa đến giai đoạn xuất hàng, như
vậy cũng cần đảm bảo các quy trình cất trữ thành phẩm an toàn và hiệu quả.
Quá trình vận chuyển cũng phải tuân thủ nghiêm ngặt an toàn giao thông, bảo quản lạnh và các thủ tục hải quan
cụ thể.
* Như vậy, từ quá trình chọn con giống đến nuôi tôm, chế biến đến xuất cảng thì không phải chỉ có riêng một
ngành tôm vận động riêng lẻ mà là sự hỗ trợ qua lại giữa các ngành với nhau. Chẳng hạn, để nuôi tôm hiệu quả
cần phải có sự trợ giúp của ngành nông ngư cơ, trang thiết bị, con giống, hóa chất, thức ăn chăn nuôi,dược phẩm
và thú y. Ngoài ra, còn có ngành trữ lạnh, vận tải, đào tạo nhân công lao động,hải quan …
Tuy nhiên, các công tác R&D ở Thái Lan vẫn còn yếu so với các đối thủ cạnh tranh chiến lược như New
Zealand . Ngành Tài chính vẫn chưa hổ trợ nhiều trong hoạt động ngành tôm Thái
D. CHÍNH PHỦ HỖ TRỢ
I. Các Bộ ngành có liên quan:
Bộ Nông Nghiệp Thái Lan.
Bộ Thương Mại Thái.
Bộ Công Nghiệp.
Bộ Tài Chính.
Bộ Bộ Ngoại Giao.
Bộ Y Tế.
Bộ Lao Động.

-Ngồi ra, bằng ký thuật tiên tiến với trình độ kỹ sư cao tìm kiếm nhiều phương thức ni trồng đạt hiệu
quả mà sản lượng tơm Thái có khả năng phát triển trên diện tích khơng mở rộng đáng kể.

Hình: sự thay đổi trong sản lượng, diện tích ni và số trang trại tơm

Tuy nhiên, sau khi EU đưa ra nhiều đạo luật khống chế chất lượng tơm Thái cộng với nhiều bệnh dịch
xảy ra, người nơng dân đã chuyển từ canh tác con tơm sú, vốn là thế mạnh, sang ni tơm thẻ chân trắng
với nhiều đặc tính nổi trội như khả năng chống bệnh tốt và thích ứng cao với nhiều dạng mơi trường ni
0
50
100
150
200
250
300

0
50
100
150
200
250
300
350
400
2001 2002 2003 2004 2005 2006
1.000 tấn
P.monodon
P.vannamei
Thailan
d
27%
New
Zealand
17%
China
14%
Viet
Nam
11%
Malaysi
a
6%
Các
nước
khác

Trong nhóm hàng thủy sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, mặt hàng tôm có mức tăng trưởng cao nhất.
Tính đến hết 7 tháng năm 2011, Việt Nam đã xuất khẩu trên 115 nghìn tấn, tương đương về giá trị trên
1,1 tỷ USD, tăng 15% về khối lượng và 35% về giá trị so với cùng kỳ 7 tháng đầu năm 2010.
IV NHU CẦU TÔM TRÊN THẾ GIỚI
Năm 2010, Bất chấp thị trường tài chính và việc làm toàn cầu hồi phục chậm, xu thế nhập khẩu tôm đã
tích cực trở lại tại Nhật Bản, Mỹ và Liên minh Châu Âu, giá tôm vẫn cao trong cả năm.
Xu thế tại các thị trường chính
Nhật Bản
Cơ cấu tiêu dùng tiếp tục phản ánh xu thế mùa vụ và hoàn toàn bị các nhà bán lẻ chi phối. Chính phủ Nhật Bản
cho biết tiêu dùng hộ gia đình giảm 5,8% (- 85 gam) trong 9 tháng đầu năm 2010. Đồng yên tăng giá mạnh trong
cả năm 2010 giữ giá tôm tại Nhật tương đối thấp hơn mức tăng giá NK.
Nhu cầu của người tiêu dùng trong mùa thu đã được cải thiện khi thời tiết lạnh hơn. Các nhà hàng thu hút
khách hàng với các mặt hàng giá rẻ và cỡ nhỏ hơn tới tận tháng 12. Từ giữa tháng 12, các nhà hàng cao cấp
mới mua tôm sú cỡ lớn và các sản phẩm cấp 1 cho lễ Giáng sinh và Năm mới.
So với năm 2009, nhu cầu bán lẻ tôm sú thấp vào mùa lễ hội cuối năm. Người mua chuyển sang tôm
Achentina tươi và ướp đá. NK tôm Achentina năm 2010 đã cải thiện.
Nhu cầu NK TCT nguyên vỏ đông lạnh tăng mạnh, hầu hết dưới đạng tươi hoặc đông lạnh tại siêu thị.
Tại Thái Lan, nguồn cung sản phẩm nguyên vỏ hạn chế do thiếu nguồn cung cấp và các đơn đặt hàng từ
trước. Giá chào hàng TCT nguyên vỏ bỏ đầu cỡ 31/40 lên tới 9USD/kg. Người mua Nhật Bản cũng bị cạnh
tranh do những đối thủ có thể trả giá cao hơn từ Mỹ, châu Âu và Trung Quốc.
Mỹ
Kinh tế Mỹ hồi phục chậm hơn mong đợi khiến nhu cầu cũng tăng trưởng thấp hơn. Một số chủ nhà hàng
cho rằng sắp tới họ sẽ khó có thể kham nổi mức tăng giá thực phẩm. Thực tế này có thể tác động tới tiêu thụ
tôm. Một số nhà phân phối thủy sản quy mô lớn cho biết doanh số rất thấp trong ngành nhà hàng, dù thậm chí
đã chuyển sang các cỡ nhỏ rẻ hơn. Họ lo ngại tôm sẽ biến mất khỏi thực đơn. Giá tôm leo thang do nguồn
cung thấp chứ không phải do nhu cầu tăng lên.
NK tôm nguyên vỏ bỏ đầu đông lạnh giảm chút ít về lượng (-0,3%), nhưng vẫn là mặt hàng NK chính. NK
tôm đông lạnh bóc vỏ tăng chút ít (0,3%) về lượng, còn tôm bao bột đông lạnh và tôm chế biến khác có
tăng trưởng cao hơn (+11% và 25%).
XK tôm của Mêhicô giảm mạnh (-44,6%) do lệnh cấm tôm do các tàu không sử dụng thiết bị loại trừ rùa biển

ở miền nam châu Âu và mùa đông khắc nghiệt ở phía bắc sẽ có tác động tiêu cực đến thị trường
tôm. Tăng trưởng GDP thấp, tỷ lệ thất nghiệp cao và giá thực phẩm tăng đều làm giảm lòng tin của
người tiêu dùng và cắt giảm nhu cầu đối với các sản phẩm đắt tiền, trong đó có tôm.
Nói chung, nhu cầu tại các thị trường truyền thống là Nhật Bản, Mỹ và EU dự kiến sẽ thấp trong
3 tháng đầu năm 2011, đây là xu thế thường diễn ra trong giai đoạn này. Tuy nhiên, lượng hàng
tồn kho thấp tại các thị trường chính và các nước sản xuất sẽ giữ giá tôm ổn định trong 2-3 tháng tới.
 Nhu cầu tôm thế giới cao với nhiều yếu tố tác động tạo điều kiện để
tôm việt nam có thể cạnh tranh.

B.Các yếu tố thâm dụng
I. Các yếu tố cơ bản
1. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ VÀ KHÍ HẬU CỦA VIỆT NAM
- Các Chỉ số của Vietnam
- Diện tích đất 330.000 km2
- Đường biển 3.444 km
- Vùng đặc quyền kinh tế 1.000.000 km2
- Khí hậu: Miền Bắc: 9-390 C
- Miền Nam: 20-350 C
- Lượng mưa: 2,200 mm/năm
- Ao 160.000 ha
- Hồ và bể chứa 340.000 ha
- Ruộng lúa 580.000 ha
- Vùng ven biển: rừng ngập mặn,
- vịnh, đầm phá, vùng triều 700.000 ha
- Sông ngòi Chiều dài hàng nghìn km
- Các hệ thống sông chính Sông Cửu Long,
Số liệu thống kê của Bộ Thủy sản Việt Nam cho thấy phần lớn diện tích nuôi tôm (ha) và sản lượng tôm
(tấn) xuất phát từ Nam bộ Việt Nam, đặc biệt tập trung tại một số tỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long. Dần
sau này nuôi tôm phát triển rộng ra các tỉnh duyên hải khác của Việt Nam từ Cà Mau đến Vịnh Bắc bộ.
Mặc dù vậy điều này chưa thay đổi về sản lượng theo vùng. Nam bộ vẫn là nơi nuôi tôm nhiều nhất Việt


103,845

162,713

193,973

Các tỉnh có diện tích nuôi tôm nhiều nhất là các tỉnh cực Nam của Việt Nam, gồm Cà Mau, Bạc
Liêu, Kiên Giang, Sóc Trăng, Bến Tre.
Tổng diện tích nuôi của Nam Bộ là 476,528ha (2003), trong đó các tỉnh nhiều nhất là:
Cà Mau: 224.000ha
Bạc Liêu 109.258ha
Sóc Trăng 51.044ha

2.CÁC LOẠI TÔM THƯỜNG ĐƯỢC NUỐI
Các loài tôm và tôm sú (Penaeus monodon)
Việt Nam có nhiều giống tôm tự nhiên như tôm sú, tôm thẻ, tôm chì, tôm sắt, tôm nghệ và một số loài
trong những loài trên đã được nuôi lâu đời, nhưn g hiện nay tôm sú là loài quan trọng nhất được nuôi từ
Bắc đến Nam bộ trong vòng hơn 30 năm qua.

3.LAO ĐỘNG
Số lao động trực tiếp và gián tiếp liên quan đến ngành tôm Việt Nam tới hơn3,5 triệu người
 Tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển ngành nông nghiệp thủy
sản trong đó có ngành tôm rất được chú trọng
II. Các yêu tố tăng cường
1.CÁC HÌNH THỨC, KỸ THUẬT NUÔI TÔM ĐANG ĐƯỢC ỨNG DỤNG
 Nuôi quảng canh
 Quảng canh cải tiến
 Bán thâm canh và thâm canh
 Phương pháp kết hợp rừng-tôm-cua

vùng và ưu thế của mỗi vùng, lợi thế cạnh tranh về nhiều loại và số
lượng sản phẩm.

C.Ngành công nghiệp bổ trợ
Việc phát triển nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản có thể sẽ tác động tiêu cực đến môi trường nếu các
biện pháp phòng ngừa thích hợp không được áp dụng. Mặt khác ngành thuỷ sản lại là ngành chịu tác
động trực tiếp khi các yếu tố ngoài ngành gây ra ví dụ ô nhiễm nước từ chất thải công nghiệp nặng.
Vì vậy các hợp phần của chương trình đều có các biện pháp bảo vệ môi trường . GSOL cũng ra
thông cáo báo chí, đề cập đến những vấn đề nóng bỏng nhất hiện nay của ngành thủy sản thế giới.
Đó là vụ kiện chống bán phá giá của Mỹ; các tiêu chuẩn và chứng nhận hệ thống nuôi; các giải pháp
công nghệ để tăng cường thương mại sản phẩm tôm tươi. Đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của
việc phát triển nghề nuôi tôm bền vững, thân thiện với môi trường, đảm bảo các tiêu chuẩn an
toàn vệ sinh thực phẩm quốc tế, hoàn toàn không sử dụng các loại hoá chất, kháng sinh bị cấm
trong quá trình nuôi > chú trọng các ngành công nghiệp nặng và các chương trình bảo vệ
môi trường nhằm đảm bảo chất lượng tôm xuất khẩu
Dây chuyền sản xuất thức ăn cho tôm cần được thiết kế mới, công nghệ có sự cách tân rất lớn so với
công nghệ làm thức ăn truyền thống, các thông số về vệ sinh thực phẩm và thành phần dinh dưỡng
đạt tiêu chuẩn. dựa vào yêu cầu của mỗi loại công nghệ có thể điều chỉnh nhiệt độ, áp lực, thành
phần nước…phù hợp với nuôi trồng từng loại tôm
Vận chuyển thủy sản cũng là một vấn đề được quan tâm nhằm đảm bảo chất lượng thủy sản trong
quá trình chuyên chở ví dụ VẬN CHUYỂN THỦY SẢN BẰNG HỆ THỐNG ĐÓNG GÓI
PROMENS Đó là kiểu vận chuyển không cần đá. Các xe tải chở thuỷ sản nặng mùi, đi đến đâu nước
chảy đến đó, nay trở nên sạch sẽ thơm tho; các nhà kho lênh láng nước nay khô ráo, thoáng đãng,
các hộp đựng thuỷ sản trước kia phải dành tới phân nửa thể tích để chứa đá, nay được dùng hết công
suất cho mục đích mong muốn của nó.
Ngành công nghiệp chế biến và công nghệ bảo quản cần được phát triển về quy mô để
tăng năng suất chế biến, cải tiến các loại máy móc sản xuất, các mẫu mã bao bì, phát triển đa
dạng về hình thức, chất lượng nhiều chế phẩm, sản phẩm từ tôm
Ngành khoa học công nghệ nghiên cứu tôm giống và ngăn ngừa dịch bệnh là một trong
những vấn để cần được đầu tư hiện nay vì tình trạng dịch bệnh gần đây đã ảnh hưởng không

sản và Thủy sản cần sớm đề xuất biện pháp làm việc với phía Nhật Bản, đề nghị điều chỉnh tiêu chuẩn tồn dư
kháng sinh trong sản phẩm tôm theo các tiêu chuẩn quốc tế.
Theo Bộ, các tiêu chuẩn của Nhật Bản đều quá cao so với các tiêu chuẩn quốc tế, gây khó khăn cho các doanh
nghiệp xuất khẩu của Việt Nam.
Tuy nhiên, đây có thể là giải pháp tình thế để gỡ khó cho các doanh nghiệp xuất khẩu tôm. Bởi trên thực tế, các
doanh nghiệp khi xuất khẩu sang thị trường này cần quan tâm hơn đến tập quán tiêu dùng của người Nhật, vốn rất
tự hào về những sản phẩm nông thủy sản được nuôi trồng tại Nhật với độ an toàn cao.
Về lâu dài, chỉ với cách duy nhất là đẩy mạnh tiến bộ kỹ thuật và đảm bảo vệ sinh nuôi trồng, đánh bắt cũng như
chế biến thủy sản, Việt Nam mới có thể giữ vững và có cơ hội xuất khẩu thủy sản nhiều hơn, đặc biệt là tới các thị
trường khó tính.
Với trường hợp tôm xuất khẩu sang Nhật Bản, các doanh nghiệp cũng cần năng động tìm sự hỗ trợ từ chính phía
các đối tác để có được những thông tin và cách thức xử lý những khó khăn đang gặp phải.
E.CHIẾN LƯỢC CẤU TRÚC CẠNH TRANH.
Một trong những giải pháp nhằm phát triển bền vững ngành hàng tôm xuất khẩu là tập trung rà
soát, điều chỉnh quy hoạch phát triển nuôi trồng thuỷ sản, gắn sản xuất với yêu cầu của thị
trường. Đây là yêu cầu cấp thiết nhằm đảm bảo nguồn nguyên liệu thuỷ sản chế biến và tiêu
dùng đạt mức hợp lí tránh tình trạng cung vượt cầu, khắc phục tình trạng khủng hoảng nguyên
liệu. Người nuôi phải tổ chức lại sản xuất theo hướng quản lý cộng đồng thông qua việc thành
lập các hợp tác xã cùng liên kết với nhau trong việc ứng dụng các qui trình nuôi tiên tiến (GAP,
CoC…) để sản phẩm đảm bảo chất lượng cao và an toàn theo yêu cầu thị trường với giá thành
hợp lý.
Các tỉnh trong khu vực ĐBSCL có thế mạnh thủy sản cần gắn kết xây dựng cơ sở hạ tầng chế
biến xuất khẩu thuỷ sản với tăng cường đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cán bộ
quản lí và đội ngũ kĩ thuật đảm bảo phát triển ngành thuỷ sản theo hướng công nghiệp hoá và
hiện đại hoá, tận dụng các gói kích cầu của Chính phủ để đầu tư các dự án nâng cao năng lực
sản xuất, tăng cường trang thiết bị chế biến thủy sản theo hướng hiện đại để thâm nhập vào các
thị trường khó tính như Mỹ, Hàn Quốc, Nhật Bản. Tại Vĩnh Long, dự kiến năm nay, một số dự
án trọng điểm sẽ hoàn thành đi vào họat động như Nhà máy chế biến thủy sản An Phước công
suất 15.000 tấn thành phẩm/năm, Nhà máy chế biến thủy sản Hiệp Thanh V công suất 10.000
tấn thành phẩm/năm góp phần nâng cao năng lực chế biến thủy sản đông lạnh xuất khẩu.

DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
I. Chuỗi cung ứng và các nhà cung ứng tôm nguyên liệu
Nguồn cung ứng tôm trong nước chủ yếu đến từ các hộ gia đình với quy mô nhỏ, rời rạc
được thu mua trực tiếp hoặc gián tiếp từ các đại lý thu mua. Các vùng nuoi tom tập trung ở
các tỉnh đồng bằng song cửu Long như Sóc trăng, Bạc Liêu, Cà Mau
Hiện nay, người nuôi trồng bán nguyên liệu cho công ty theo 2 phương thức:
- Trực tiếp đem giao cho công ty (30%), chấp nhận thanh toán chậm (sau 5 - 7ngày): người
nuôi phải có khả năng về vốn cũng như về phương tiện vận chuyển để giao hàng trực tiếp
đến nhà máy.
- Bán cho các đại lý, chủ nậu lấy tiền liền (70%): thông thường là những hộ nuôi quy mô nhỏ
và trung bình, không có nhiều vốn, không có quan hệ và chưa đủ năng lực bán thẳng cho
công ty.

Vì tôm là sản phẩm mang tính mùa vụ, không thể giữ quá lâu trong ao (sẽ làm tăng chi phí
thức ăn) và chịu chi phối bởi nhiều yếu tố trên thị trường nên sự thỏa thuận giá cả giữa người
nuôi và người thu mua cũng chỉ mang tính tương đối, người nuôi gần như luôn ở vào thế bị
động. Giá bán tôm thẻ của các hộ nuôi chủ yếu phụ thuộc vào các yếu tố như: giá xuất khẩu
trên thị trường thế giới, mùa vụ và mức độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp chế biến xuất
khẩu. Nếu bán trực tiếp cho công ty chế biến thì hộ nuôi sẽ được hưởng toàn bộ giá trị của lô
tôm thu hoạch, bán qua trung gian thì họ phải chấp nhận mất đi một khoản để chiết khấu cho
các đại lý.

Người nông dân và doanh nghiệp trên thực tế vẫn đang duy trì lối làm ăn riêng lẻ, “mạnh ai
nấy lo”. Trong những thời điểm chính vụ, cung vượt quá cầu thì lợi thế mặc cả nghiêng về
phía doanh nghiệp, người nông dân phải chịu bị ép giá; còn vào lúc trái vụ, mất mùa, các
doanh nghiệp cạn tranh lại phải nâng giá bán cao hơn để mua được nguyên liệu. Nhìn chung,
lợi nhuận của người nuôi không có tính ổn định và an toàn. Họ là những người chịu nhiều rủi
ro nhất trong chuỗi và gần như luôn phải chịu tình cảnh “được mùa rớt giá, được giá mất
mùa”.


mốiquan hệ lâu dài với các đại lý chủ nậu vì việc bán nguyên liệu cho các trung gian
thườngđơn giản và được thanh toán nhanh hơn. Nhiều đại lý, nậu vựa còn là người đứng ra
cungứng vốn, cho các hộ nuôi trồng vay để đầu tư mua trang thiết bị, mua giống và thức ăn
chotôm khi các hộ này gặp khó khăn về tài chính. Ngược lại khi thu hoạch, người nuôi phải
ưu tiên bán tôm lại cho những chủ nậu đã cho vay với giá thấp hơn giá thị trường.Tại công
ty, quá trình thu mua tôm thẻ thường phải thông qua ít nhất 2 đại lý là

đại lý cấp 1 và đại lý cấp 2:
Đại lý cấp 1: đóng vai trò là người đi thu hoạch tôm tại đìa. Đại lý chủ nậu cấp 1 sẽ chịu các
chi phí: thu hoạch, bốc dở, bảo quản, vận chuyển tôm từ đìa đến nhà máycủa công ty. Chi
phí trung bình họ bỏ ra là 2000 đồng/kg, sau khi trừ chi phí và khoảnhoa hồng cho đại lý cấp
2 (trung bình 500 đồng/kg), đại lý cấp 1 lãi trung bình 500 đồng/kg tôm nguyên liệu. Tuy có
lợi nhuận tương đối cao nhưng đại lý cấp 1 cũng phảichịu khá nhiều rủi ro do mỗi lần thu
hoạch, đại lý phải thu mua hết sản lượng của một ao/đìa nuôi. Vì gần như là mua xô nên nếu
nguyên liệu giao tới công ty gặp vấn đề và bịtrả lại thì đại lý cấp 1 là người gánh chịu toàn
bộ thiệt hại.

Đại lý cấp 2: thường có cơ sở tại các thành phố lớn và chỉ có vai trò như là người“cò mồi”,
môi giới giữa công ty với đại lý cấp 1 để đáp ứng nhu cầu nguyên liệu của công ty tại từng
thời điểm, đồng thời đáp ứng việc thanh toán nhanh cho các hộ nuôi, điều màcông ty không
thể làm được. Về lợi nhuận, đại lý cấp 2 trong chuỗi cung ứng của công ty sẽ nhận được từ
500-1000 đồng/kg tôm thẻ nguyên liệu trên giá bán của đại lý cấp 1. Sau khi trừ đi một số
khoản bao gồm: phí lãi vay, phí giao dịch, nhân công, tiền điện thoại,trung bình người đại lý
sẽ có lãi từ 300 -700 đồng/kg tùy theo tình hình thị trường.Nhìn chung, ưu điểm của đại lý là
họ có thể tìm ra các hộ nuôi có khả năng cung cấp một cách nhanh chóng và đúng theo yêu
cầu của công ty về loại tôm, sản lượng,kích cỡ mà giá nguyên liệu không có sự thay đổi khi
công ty thu mua qua trung gian haytrực tiếp từ người nuôi. Tuy nhiên, nhược điểm lớn nhất
của việc thu mua qua trunggian là công ty không thể kiểm soát chất lượng nguồn nguyên liệu
một cách toàn diện sự nảy sinh các hình thức gian lận, ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng
của nguồnnguyên liệu chế biến tại công ty.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status