Lời mở đầu
Đối với mỗi sinh viên năm thứ 4 nói chung và với mỗi sinh viên khoa
Marketing nói riêng việc đi thực tập là một việc làm hết sức cần thiết bởi vì sau
gần 4 năm học lý thuyết thì mỗi sinh viên cũng cần phải có những kiến thức
thực tiễn nhất định về nhành nghề của mình để sau này khi ra trờng đỡ bỡ ngỡ
hơn.Việc thực tập đối với mỗi sinh viên bắt đầu bằng việc tìm hiểu về công ty
mà mỗi sinh viên thực tập ,tìm hiểu về đặc điểm sản xuất kinh doanh của công
ty đó ... từ đó để có một cách nìn tổng quát về công ty (một đơn vị hoạt động
kinh tế) từ đấy để có một cách nhìn tổng quát hơn cụ thể hơn về một đơn vị
hoạt động kinh tế,nó giống nh là một cái gốc kiến thức thực tiễn để mỗi sinh
viên sẽ liên hệ ra cụ thể ngành nghề của họ tại công ty thực tập .
Còn đối với em ,sau 4 tuần thực tổng hợp tại công ty xi măng Sài Sơn đã
cho em rất nhiều kiến thức thực tiễn rất bổ ích ,nó cho em hiểu thực tế một đơn
vị kinh tế tổ chức kinh doanh nh thế nào..đặc biệt còn cho em hiểu các công
việc cụ thể mà một ngời làm Marketing...
1
Phần I
Giới thiệu về công ty xi măng sài sơn
Công ty xi măng sài sơn tiền thân là xí nghiệp xi măng Sài Sơn đợc thành
lập ngày 28/11/1958 tại xã Sài Sơn ,huyên Quốc oai ,Tỉnh Hà Tây.Ban đầu công
ty chỉ là một phân xởng nhỏ trực thuộc bộ quốc phòng cùng với quá trình phát
triển của đất nớc công ty xi măng Sài Sơn đợc tách ra và trực thuộc sở xây dựng
Hà Tây nh ngày nay.
Tháng 12/1996 xí nghiệp xi măng Sài Sơn chính thức đợc đổi tên thành
công ty xi măng Sài Sơn .Khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trờng (không
còn bao cấp nữa)công ty cũng đã gặp rất nhiều khó khăn tuy nhiên nhờ có sự
phấn đấu cố gắng hết mình không mệt mỏi của toàn bộ công nhân viên toàn
công ty đặc biệt là của ban lãnh đạo công ty ,ngày nay công ty xi măng Sài Sơn
đã trở nên lớn mạnh .Hoạt động kinh doanh của công ty dã đật đợc tốc độ phát
25Km.
Trong tỉnh và khu vực lân cận có nhiều nhà máy xi măng lò đứng đang hoạt
động vói tổng công suất gần 300000 tấn .Thị trờng tiêu thụ của công ty chủ yếu
là ở trong tỉnh và ở các tỉnh lân cận nh Hà Nội ,Bác Thái ,vĩnh Phú ...
Trong điều kiện trên cơ chế thị trờng cạnh tranh quyết liệt công ty rất chú ý
tới viẹc quản lý chất lợng và áp dụng mọi biện pháp hạ giá thành sản phẩm.
Công ty có một đội ngũ kỹ thuật và kiểm tra chất lợng sản phẩm đủ mạnh để
quản lý và kiểm tra thờng xuyên ở tất cả các công đoạn sản xuất theo chế độ
24/24giờ ,có phòng thí nghiệm cơ lý ,hoá với đủ những trang thiết bị cần thiết
phục vụ cho việc theo dõi ,kiểm tra và xử lý nhanh ,chính xác về mặt công
nghệ.
100% CBCNV của công ty dều đợc đào tạo cơ bản về kỹ thuật sản xuất xi măng
,về nghiệp vụ quản lý ,một số đợc gửi đi đào tạo tại viện vật liệu xây dựng ,tr-
ờng ĐHBK .Riêng công nhân và cán bộ quản lý khu lò nung đợc cử đi Trung
Quốc học tập.
Do đặc thù gần khu dân c và khu danh lam thắng cảnh chùa Thầy nên công ty
luôn quan tâm đến các biện pháp giữ gìn và cải thiên môi sinh,các diểm phát
sinh bụi đều có máy hút bụi :khu sấy có máy lọc bụi tĩnh điện ,đặc biệt khu lò
nung clinhker đợc lắp đặt một hệ thống lọc lắng bụi hỗn hợp,hiệu quả cao
(>95%) mà cha có xi măng lò đứng nào có .Xung quanh khu vực sản xuất đợc
trông nhiều cây xanh ,biên chế đầy đủ lực lợng làm nhiện vụ vệ sinh công
nghiệp sạch ssẽ ở tất cả các khâu trong dây chuyền sản xuất .Quy chế kiểm
tra ,thởng phạt vệ sinh và an toàn lao đọng đợc duy trì thờng xuyên đem lại kết
quả rất tốt .Nhiêu đơn vị bạn của công ty đã đến thăm quan học hỏi về phơng án
khử bụi ,các biện pháp giữ gìn cải thiện môi sinh.
3
Sản phẩm của công ty luôn đảm bảo chất lợng và ngày càng có tín nhiệm trên
thị trờng ,sản phẩm đa ra cha lần nào phải quay lại vì lý do chất lợng.
Sơ đồ tổ chức của công ty
QMR:Đại diện lãnh dạo về chất lợng ,báo cáo GĐ công ty và chịu trách
nhiêm về mặt chất lợng.
Trởng phòng tổ chức hành chính: lập kế hoạch phát triển nguồn nhân
lực,thực hiện nhiệm vụ đào tạo của công ty.
T.phòng quản lý sản xuất : biên soạn tài liệu giáo án ,bồi dỡng nghiệp vụ kỹ
thuật cho các ngành nghề ,các tìa liệu hớng dẫn thiết bị ,công nghệ mới.
T.phòng kế hoạch thị trờng : lập kế hoạch sản xuất và tiêu thụ tháng/năm
trình GĐ/PGĐ duyệt,nghiên cứu việc duy trì và mở rộng thị trờng tiêu thụ .
Kế toán trởng: có nhiệm vụ phân tích các thông số về tài chính ,doanh thu
bán hàng, công nợ,trả nợ dự trữ vật t nguồn tiền tệ... để từ đó thông tin kịp các
chỉ tiêu về tài chính của sản xuất cũng nh các loại nguyên nhiên liệu ,vật t phục
vụ sản xuất.
*Tình hình tổ chức công tác kế toán và phân tích hoạt động kinh tế.
Hiện tại công ty xi măng Sài Sơn đã áp dụng máy vi tính vào công tác hạch
toán kế toán chính vì vậy bộ phận kế toán của công ty rát gọn nhẹ (gòm 5 ng-
ời)góp phần làm giảm chi phí sản xuất trong quá trình sản xuất của công ty .Tuy
nhiên việc phân công công việc ,trách nhiệm cho từng kế toán viên vẫn là một
tất yếu khách quan.
Việc sử dụng máy vi tính vào công tác hạch toán nó làm giảm bớt cá
thao tác thủ công mà trớc đây các kế toán viên phải làm ,thay vào đó ngời kế
toán chỉ việc nhập các chứng từ,số liệu vào máy và máy sẽ cho ngời kế toán các
kết quả mà họ mong muốn trong giây lát. Hình thức sổ kế toán mà công ty áp
dụng là hình thức nhật ký chung.
Trong công ty xi măng Sài Sơn việc phân tích các hoạt động kinh tế đợc
diễn ra thờng xuyên tong mỗi kỳ hoạt động bởi vì nó có liên quan tới kết quả
hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty .Công ty phải phân tích thị trờng
khách hàng ,đối thủ cạnh tranh ,... để từ đó có kế hoạch sản xuất sao cho có
hiệu quả nhất.
Nh trên đã nói ,công ty xi măng Sài Sơn đã có đợc những kết quả rất khả
quan những thành tích đáng khâm phục,có đợc điều đó là do bộ máy quản lý và
Nhìn vào bảng ta thấy nhìn chung nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp
năm 2001 tăng so với năm 2000 ,trong đó các quĩ của công ty năm 2001 so với
năm 2000 là tăng vọt từ chỗ chỉ có 304(triệu đồng ) lên tới 1436,5(triệu đồng)
mà ta biết các quĩ này lại đợc trích lập từ chính lọi nhuận của công ty điều này
cho ta biết rằng lợi nhuận công ty phải lớn nh thế nào thì mới có thể trích quĩ
lớn nh vậy.
-Bất kỳ một doanh nghiệp nào trong nền kinh tế thị trờng, trong mọi thời điểm
đều có huy động và sử dụng nguồn vốn đi vay có thể là vay ngắn hạn hoặc dài
hạn. Với công ty xi măng Sài Sơn cũng vậy. Trong năm 2001,công ty đã giảm
số tiền vay ngắn hạn giữa số đầu năm và số cuối năm (Số đầu năm :
9.933.009.741 đ, Số cuối năm: 7.665.526.534 đ)tuy nhiên nguồn vốn vay dài
hạn lại tăng lên, cụ thể:
Số đầu năm: 0
Số cuối năm: 1.881.562.145 đ
Mặt khác, công ty xi măng Sài Sơn cũng đã huy động đợc nguồn vốn trong
thanh toán rất tốt, cụ thể là:
7