KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP: “Phân tích tình hình sử dụng lao động của công ty TNHH sản xuất và dịch vụ Mai Lâm” potx - Pdf 11

Khoá luận tốt nghiệp

Sinh viên thực hiện: TRẦN THỊ QUỲNH LÊ KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP:
“Phân tích tình hình sử dụng lao động của
công ty TNHH sản xuất và dịch vụ Mai Lâm”

Khoá luận tốt nghiệp Sinh viên thực hiện: TRẦN THỊ QUỲNH LÊ
2

MỞ ĐẦU
Lao động là một trong các yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất và có ý
nghĩa quyết định trong mọi hoạt động của doanh nghiệp với việc sáng tạo và sử
dụng các yếu tố khác của quá trình sản xuất. Lao động có vai trò quyết định đối
với việc nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh, tăng khả năng cạnh tranh và
thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp. Sử dụng có hiệu quả lực lượng lao
động, khai thác tối đa tiềm năng lao động của mỗi người là một yêu cầu đối với
công tác quản trị lao động. Theo đó, các nhà quản trị lao động có thể khai thác
tối đa tiềm năng lao động của mỗi người để phục vụ lợi ích của bản thân họ cũng
như cho doanh nghiệp và xã hội. Vì vậy, em chọn vấn đề: “ Nâng cao hiệu quả
sử dụng lao động ở công ty TNHH sản xuất và dịch vụ Mai Lâm ” làm đề tài
khoá luận tốt nghiệp của mình.
Khoá luận gồm 3 phần:

ố nh
à

9,
t


66
,

P

ờng Ho
àng Văn Th

,Q
u
ận
Hoàng Mai,Thành phố Hà Nội.

ởng sản xuất

Thôn 2
, X
ã

Đông M

, H
uy

Bảng 1.1: Giới thiệu chung về công ty TNHH sản xuất và dịch vụ Mai Lâm
Công ty TNHH sản xuất và dịch vụ Mai Lâm được thành lập theo luật doanh
nghiệp số 13/1999/QH 10 thông qua ngày 12/6/1999. Điều lệ soạn thảo và thông
qua bởi các thành viên sáng lập ngày 13/3/2006. Số giấy phép kinh doanh
0102025499 do sở kế hoạch đầu tư Hà Nội cấp ngày 17/4/2006. Mã số thuế:
0101918903 do cục thuế thành phố Hà Nội cấp ngày 21/4/2006.
Công ty TNHH sản xuất và dịch vụ Mai Lâm là công ty TNHH hai thành
viên của một gia đình sáng lập. Đó là:
Khoá luận tốt nghiệp Sinh viên thực hiện: TRẦN THỊ QUỲNH LÊ
4
- Ông Nguyễn Ngọc Quy sinh ngày13/2/1959
- Ông Nguyễn Ngọc Quế sinh ngày 17/7/1962
Công ty hoạt động theo luật doanh nghiệp và các quy định hiện hành khác
của nước CHXHCN Việt Nam. Thời hạn hoạt động của công ty là 99 năm. Vốn
điều lệ là 1 tỷ đồng, trong đó:
- Ông Quy : 70% vốn điều lệ.
- Ông Quế : 30% vốn điều lệ.
Lĩnh vực kinh doanh của công ty là:
- Xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông, thuỷ lợi, công
trình điện và trạm điện đến 35 KV.
- Sản xuất, buôn bán máy móc, thiết bị, vật tư, vật liệu ngành xây dựng, đồ
trang trí nội thất, ngoại thất.
- Sản xuất, buôn bán, sửa chữa, bảo hành ắc quy, đồ điện, điện tử, điện lạnh,
phụ tùng, linh kiện xe máy, ô tô.
- Nuôi trồng, chế biến và buôn bán nông, lâm, thuỷ sản, hải sản.
- Vận tải hàng hoá, vận chuyển hành khách, cho thuê xe.
- Lữ hành nội địa, lữ hành quốc tế và các dịch vụ phục vụ khách du lịch.

đầy đủ các kích cỡ như: Gioăng 3, Gioăng4, 5…Gioăng9, với mỗi loại kích cỡ
thì có hai màu là đen và trắng. Tuy vậy, công ty thường nhận nhiều đơn đặt hàng
là các sản phẩm Gioăng vì các loại đệm nắp chai có thời gian thu hồi vốn lâu còn
với sản phẩm Gioăng thì thường là thu được tiền ngay từ phía khách hàng.
Với các sản phẩm tưởng như đơn giản này nhưng lại yêu cầu trình độ kỹ
thuật rất cao. Mỗi sản phẩm gia công qua nhiều công đoạn khác nhau đòi hỏi sự
phối hợp chặt chẽ giữa các bộ phận. Nếu có sai sót nhỏ trong bất cứ một bộ phận
Khoá luận tốt nghiệp Sinh viên thực hiện: TRẦN THỊ QUỲNH LÊ
6
nào đó thì sẽ ảnh hưởng tới chất lượng của sản phẩm và làm cho sản phẩm
không đạt yêu cầu.
Vì sản phẩm chính của công ty là các loại Gioăng nẹp cửa kính, khung
nhôm nên đòi hỏi độ chính xác phải rất cao. Bởi vì sản phẩm của công ty là bộ
phận trung gian để hoàn thành sản phẩm của khách hàng. Một khi sản phẩm của
công ty không đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng thì sản phẩm của khách hàng cũng
sẽ không thể hoàn thành và như vậy sẽ không kịp tiến độ của đơn hàng. Và theo
dây chuyền này thì đến lượt công ty mình cũng sẽ bị khách hàng không hài lòng
và sẽ không có đơn hàng tiếp theo. Vì lý do đó nên công ty rất chú trọng tới khâu
kiểm soát chất lượng sản phẩm và luôn đặt chất lượng lên hàng đầu.
Thị trường kinh doanh tất cả các loại hàng hoá đang bước vào giai đoạn tự
do mở cửa, hàng ngoại lẫn hàng nội đều có thể đáp ứng cùng loại nhu cầu của
khách hàng. Vì vậy, nếu hàng hóa trong nước không đủ sức cạnh tranh thì sự
chiếm lĩnh thị trường của hàng ngoại là không thể tránh khỏi. Ra đời trong giai
đoạn này, công ty TNHH sản xuất và dịch vụ Mai Lâm phải đối mặt với hai loại
thử thách: một với các doanh nghiệp trong ngành và một với hàng ngoại nhập.
Tuy nhiên từ khi thành lập đến nay công ty luôn luôn nhận được rất nhiều đơn
đặt hàng. Đây là bằng chứng chứng tỏ rằng công ty đã vượt qua được các rào cản

Bộ máy quản lý của công ty TNHH sản xuất và dịch vụ Mai Lâm được tổ
chức theo sơ đồ sau: Khoá luận tốt nghiệp Sinh viên thực hiện: TRẦN THỊ QUỲNH LÊ
8Sơ đồ 1.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty TNHH sản xuất
và dịch vụ Mai Lâm.
(Nguồn: phòng giám đốc công ty TNHH sản xuất và dịch vụ Mai Lâm)


Tổ phế Tổ máy

T


đóng

g
ói

sản phẩm
Khoá luận tốt nghiệp Sinh viên thực hiện: TRẦN THỊ QUỲNH LÊ
9
vào quá trình sản xuất, kinh doanh, tham gia vào các công việc thiết kế kỹ thuật,
vào quá trình tìm kiếm khách hàng…
Phó giám đốc kỹ thuật: Là người chịu trách nhiệm về kỹ thuật trong công ty.
Toàn bộ các ý tưởng kỹ thuật và triển khai công việc sản xuất mới trong công ty
đều do phó giám đốc kỹ thuật đảm nhận. Do đặc thù sản xuất của công ty là sản
xuất theo đơn đặt hàng nên công việc chỉ đạo công nhân thay máy móc thích
hợp, mẫu mã, chủng loại, kích cỡ… đều do phó giám đốc kỹ thuật điều hành và
chịu trách nhiệm. Phó giám đốc kỹ thuật còn phối hợp với xưởng trưởng nghiên
cứu, thực hiện các vấn đề khó khăn về kỹ thuật trong sản xuất. Ngoài ra ông ta
còn kết hợp với giám đốc soạn thảo các hợp đồng, công văn, dự toán, các tài liệu
liên quan đến công việc máy móc…
- Phòng tài vụ: Gồm có 2 kế toán: Một kế toán văn phòng và một kế toán kho.
Kế toán văn phòng chịu trách nhiệm về toàn bộ sổ sách, chứng từ, kế toán của
công ty.Kế toán kho chịu trách nhiệm về tất cả các công việc liên quan đến xuất

Người rửa phế có nhiệm vụ mang phế vào máy rửa và mang phế đến máy xay để
thực hiện công đoạn tiếp theo.
Người xay và cân phế: phế liệu đang ở dạng thô không thể đưa vào sản xuất
được vì thế phải xay nhỏ thành bột để làm vật liệu sản xuất. phế đã được làm
sạch từ hai công đoạn trước, giờ sẽ cho vào máy xay nghiền nhỏ thành bột.
Người xay phế cho phế vào máy sau đó phải cân chỗ bột đã được nghiền ra để
sau này so sánh với số lượng sản phẩm hoàn thành.
Tổ máy: gồm có 6 người: người đứng máy trộn, người đứng máy phá cho
ăn bột, người đứng máy lọc( chín nhựa), người đứng máy ra Gioăng, hai người
cắt và cân Gioăng.
Khoá luận tốt nghiệp Sinh viên thực hiện: TRẦN THỊ QUỲNH LÊ
11
Người đứng máy trộn: có nhiệm vụ cho bột nhựa được tạo ra từ nhựa phế đã
được xay và các chất cần thiết khác vào máy trộn cho thật đều. Sản phẩm của
công ty có hai loại màu là đen và trắng nên khâu trộn là khâu quyết định màu
cho sản phẩm. Nếu muốn sản phẩm có màu trắng thì lúc trộn phải cho chất gì,
nếu muốn cho sản phẩm có màu đen thì cho chất gì với các tỉ lệ như thế nào là
do người đứng máy trộn đảm nhận và chịu trách nhiệm.
Người đứng máy phá cho ăn bột: bột sau khi được trộn với các chất cần thiết
khác sẽ được dẫn vào máy này. Tại đây, bột được máy phá các liên kết giữa các
phần tử làm cho tất cả tạo thành một thứ chất đồng nhất. Hỗn hợp bột sau công
đoạn này được đưa sang máy lọc cho chín nhựa.
Người đứng máy lọc cho chín nhựa: Máy này có tác dụng làm cho hỗn hợp
bột thành nhựa chín dưới tác dụng nhiệt. Người đứng máy này cho bột vào máy
và sau đó vận hành máy cho nó nấu chín bột. Và cuối công đoạn này, người đó
phải mang bột nhựa chín sang máy ra Gioăng.
Người đứng máy ra Gioăng: Máy này sẽ biến nhựa chín thành các sợi

lĩnh vực riêng và không đan xen chồng chéo lên nhau. Với cơ cấu này đảm bảo
cho công ty có thể hoạt động có hiệu quả. Công ty sản xuất theo đơn đặt hàng
nên không tránh khỏi tình trạng lúc thì ít, lúc thì nhiều đơn hàng. Nhưng với cơ
cấu được bố trí như vậy công ty có thể dễ dàng trong phân công lao động.
Như vậy, với cơ cấu gọn nhẹ như trên, công ty có thể sử dụng lao động có
hiệu quả, tránh được tình trạng dư thừa lao động. Cơ cấu này rất thuận lợi cho
công ty hoạt động với quy mô nhỏ như hiện nay và cũng rất thuận lợi cho công
ty trong tương lai khi quy mô được mở rộng hơn. Khi đó công ty chỉ cần thêm
vào từng bộ phận một số lượng lao động nhất định mà không làm ảnh hưởng tới
hoạt động của bộ máy hiện tại.
Khoá luận tốt nghiệp Sinh viên thực hiện: TRẦN THỊ QUỲNH LÊ
13
1.2.3. Đặc điểm về máy móc, thiết bị của công ty.
Do công ty sản xuất theo đơn đặt hàng với hai loại sản phẩm sản xuất chính
là Gioăng các loại và đệm nắp chai nước, máy móc của công ty cũng phải đa
năng.Với mỗi loại sản phẩm thì sẽ có một khuôn riêng. Nhưng điều thuận lợi ở
chỗ : các loại sản phẩm tuy có kích cỡ màu sắc và hình dáng khác nhau nhưng có
cùng một loại nguyên liệu và cùng một quy trình công nghệ. Chỉ đến lúc cho ra
sản phẩm thì máy mới được thay đổi đầu ra cho phù hợp với yêu cầu đơn hàng.
Công ty TNHH sản xuất và dịch vụ Mai Lâm có một số máy móc thiết bị theo
bảng sau:
Bảng 1.2: Các loại máy móc, thiết bị của công ty.
TT Tên máy TT Tên máy
1

Máy r
ửa

9

Máy cán

5

Máy l
ọc
(Nguồn: phòng vật tư công ty TNHH sản xuất và dịch vụ Mai Lâm)
Công ty đã đầu tư rất nhiều máy móc có giá trị lớn trong những ngày đầu thành
lập công ty. Nhưng do công ty mua máy móc thiết bị thanh lý của công ty khác
đã sử dụng trong thời gian khá lâu nên máy móc đã cũ kỹ. Điều này ảnh hưởng
đến năng suất của máy và năng suất của người lao động trong công ty. Thậm chí
nhiều khi công ty phải nghỉ chờ sửa máy trong trường hợp máy hỏng. Khi đó sẽ
gây ra lãng phí thời gian, chi phí của công ty. Do đó trong thời gian tới công ty
cần phải đầu tư mua những dây chuyền máy móc, thiết bị hiện đại, tiên tiến hơn.

Khoá luận tốt nghiệp Sinh viên thực hiện: TRẦN THỊ QUỲNH LÊ
14
Bảng 1.3: Máy móc, thiết bị trong năm đầu thành lập công ty.
TT Tên máy Đơn giá (đồng)

Số lượng (chiếc) Thành tiền (đồng)
1

3Máy đi
ện thoại

4Máy Fax

(Nguồn: phòng tài vụ công ty TNHH sản xuất và dịch vụ mai Lâm)
Đối với máy móc thiết bị văn phòng, công ty mua sắm đầy đủ theo yêu cầu công
việc. Do nguồn vốn của công ty còn hạn chế nên với mỗi phòng làm việc công
ty cho trang bị máy tính và máy điện thoại. Riêng phòng kế toán công ty cho
trang bị thêm máy in và máy fax để phục vụ cho quá trình làm việc được thuận
lợi hơn. Vì vậy, trong tương lai công ty phải mua sắm thêm những máy móc,
thiết bị văn phòng để trang bị cho các phòng còn lại. Chỉ khi cung cấp đủ máy
móc thiết bị hỗ trợ cho công việc văn phòng như vậy thì các bộ phận đó mới có
thể hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình.
Khoá luận tốt nghiệp Sinh viên thực hiện: TRẦN THỊ QUỲNH LÊ
15
1.2.4. Đặc điểm về lao động.
Công ty TNHH sản xuất và dịch vụ Mai Lâm có đa số lao động xuất thân từ
nông thôn và mới chỉ học hết phổ thông. Họ có học vấn không cao nhưng là
những người trẻ tuổi, có khả năng tiếp thu kinh nghiệm và học việc rất nhanh
chóng. Tuổi trung bình của công nhân trong công ty rất trẻ khoảng 25 tuổi, người

16
công lao động này rất hợp lý vì sẽ sử dụng hết khả năng và năng lực của người
lao động.
Trên đây, ta thấy lao động của công ty có đặc điểm :họ là những người trẻ tuổi,
họ có khả năng học hỏi kinh nghiệm làm việc… Đây là đặc điểm mang lại lợi thế
cho công ty. Tuy nhiên công ty cũng gặp khó khăn trong việc tìm cách sử dụng
lao động sao cho ngày càng có hiệu quả hơn.
Đặc điểm về lao động sẽ được nghiên cứu kỹ hơn ở phần sau.
1.2.5. Đặc điểm về nguyên vật liệu.
Cũng như các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh khác, để sản xuất sản phẩm với
các chủng loại đa dạng thì tương ứng với nó phải có một số lượng lớn các chi
tiết, bộ phận và nguyên vật liệu đa dạng. Hơn nữa, thị trường nguyên vật liệu lại
thường xuyên thay đổi về giá cả và chủng loại. Vì vậy, trong tổng số danh mục
các loại vật tư, nguyên liệu mà công ty phải thường xuyên cập nhật. Với đặc
điểm sản xuất theo đơn hàng vì thế lượng nguyên liệu cũng có một số thay đổi
theo mặt hàng.
Danh mục nguyên vật liệu chính,phụ của doanh nghiệp:
Bảng 1.6: Danh mục nguyên vật liệu chính của công ty.
TT

Tên nguyên v
ật liệu chính

Đơn giá(đ
ồng/kg)

1

B
ột đá (CaCO

2
Bột đen 17 500 (VAT 5%)
3
Tẩy trắng sứ 145 000 (VAT 10%
4
Siêu dẻo 20 000 (VAT 10%)
5
Axits béo 101 20 000 (VAT 10%)
6
Ổn bột 32 000 (VAT 10%)

(Nguồn: Phòng vật tư công ty TNHH sản xuất và dịch vụ Mai Lâm)
Nguyên vật liệu của công ty có đặc điểm là dễ bảo quản, ít bị hao mòn và bảo
quản được trong thời gian dài, thị trường nguyên vật liệu tương đối dễ tìm. Với
đặc điểm như vậy, nguyên vật liệu đã tạo ra một ưu thế cho công ty và đây là
điều thuận lợi trong việc sản xuất và kinh doanh của công ty.
1.2.6. Đặc điểm về tài chính.
Bảng 1.8: Kết quả kinh doanh của công ty năm 2006 - 2008
Đơn vị: 1000 đồng.
TT Chỉ tiêu Năm 2006 Năm 2007
Năm 2008
(Tạm tính)
1 Doanh thu phát sinh
trong kỳ
1 029 840 1 440 420 2 379 096
2 Chi phí phát sinh
931 620 1 174 224 1 627 344
3 Lợi nhuận trước thuế
98 220 266 196 751 753
4 Thu nhập chịu thuế

Khoá luận tốt nghiệp Sinh viên thực hiện: TRẦN THỊ QUỲNH LÊ
19
PHẦN 2
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH SỬ DỤNG LAO ĐỘNG CỦA CÔNG TY
TNHH SẢN XUẤT VÀ DỊCH VỤ MAI LÂM

Chúng ta đã biết rằng lao động là một trong 3 yếu tố quan trọng của quá trình sản
xuất là : Lao động (con người), tư liệu lao động (máy móc, thiết bị), và đối tượng
lao động (các nguyên vật liệu). Do đó để quá trình sản xuất được diễn ra thuận
lợi thì phải biết kết hợp cả 3 yếu tố này, thiếu một trong 3 yếu tố thì quá trình sản
xuất không thể diễn ra được. Nếu chỉ có máy móc thiết bị và nguyên vật liệu mà
không có con người điều khiển máy móc thì sẽ không tạo ra kết quả. Ngược lại,
có con người nhưng không có nguyên liệu và máy móc thì cũng không thể tạo ra
sản phẩm được. Vì vậy, 3 yếu tố này phải được kết hợp chặt chẽ với nhau, nếu
kết hợp tốt thì sẽ làm tăng của cải vật chất do quá trình sản xuất tạo ra cho xã

sản xuất và dịch vụ Mai Lâm được chỉ ra ở bảng sau:
Bảng 2.1: Tình hình biến động số lượng lao động qua các năm của công ty
TNHH sản xuất và dịch vụ Mai Lâm.
Ch
ỉ ti
êu

Năm 2006

Năm 2007

Năm 2008

T
ổng

s


lao
đ
ộng

1
5

20

3
1


24

(Nguồn: phòng tài vụ công ty TNHH sản xuất và dịch vụ Mai Lâm)
Năm 2006, công ty đi vào hoạt động sản xuất, kinh doanh, công ty đã tuyển tổng
cộng là 15 lao động cả trực tiếp và gián tiếp vào làm việc. Trong 15 lao động thì
có 5 lao động làm ở các phòng ban trong công ty: 1kế toán làm phòng tài vụ, 1
Khoá luận tốt nghiệp Sinh viên thực hiện: TRẦN THỊ QUỲNH LÊ
21
nhân viên phòng vật tư, 1 giám đốc và 1 phó giám đốc kỹ thuật, 1 xưởng trưởng.
10 lao động còn lại làm trong xưởng sản xuất.
Năm 2007, công ty tuyển thêm 1 nhân viên phòng vật tư, và đồng thời tuyển
thêm 5 lao động làm việc ở xưởng sản xuất.
Đầu 2008, do việc sản xuất, kinh doanh ngày càng thuận lợi nên số lượng lao
động trong năm 2007 không đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất hàng ngày. Vì vậy,
tháng 5/2008 công ty đã tuyển thêm 11 lao động trong đó có 1 kế toán kho và 10
công nhân sản xuất làm việc tại xưởng.
Như vậy trong 3 năm số lượng lao động trong công ty đã tăng lên từ 15 người
năm 2006 lên tới 31 người năm 2008. Với số lao động tăng lên theo các năm như
vậy nhưng công ty đã sử dụng họ như thế nào? Sau đây chúng ta sẽ cùng tìm
hiểu cụ thể hơn.
Bảng 2.2: Tình hình sử dụng số lượng lao động của công ty giai đoạn
2006 – 5/2008
Đơn vị: Người.
Năm

T

31

31

0

(Nguồn: phòng tài vụ công ty TNHH sản xuất và dịch vụ Mai Lâm)
Qua bảng số liệu trên ta thấy trong 3 năm qua công ty đã liên tục tăng số lượng
lao động nhưng số lao động này được công ty sử dụng hết, không để dôi dư. Nếu
chỉ nhìn vào tình hình biến động số lượng lao động này thì ta thấy công ty sử
dụng số lượng lao động khá tốt.

Khoá luận tốt nghiệp Sinh viên thực hiện: TRẦN THỊ QUỲNH LÊ
22
Chúng ta có thể biễu diễn bảng trên thành sơ đồ như sau:
Sơ đồ 2.1: Tình hình sử dụng số lượng lao động của công ty TNHH
sản xuất và dịch vụ Mai Lâm giai đoạn 2006- 5/2008. Để tìm hiểu xem thực chất công ty đã sử dụng số lượng lao động của mình hiệu
quả chưa, chúng ta phân tích yếu tố cơ cấu lao động của công ty.
2.1.2. Phân tích cơ cấu lao động của công ty TNHH sản xuất và dịch vụ Mai
Lâm.
Chúng ta tìm hiểu cơ cấu lao động của công ty TNHH sản xuất và dịch vụ Mai
Lâm tháng theo 3 chỉ tiêu là: cơ cấu lao động theo giới tính, cơ cấu lao động theo
độ tuổi và cơ cấu lao động theo tính chất lao động.
Với cơ cấu lao động theo giới tính được thể hiện ở bảng sau:

Phòng vật tư
2 0
2
Phòng tài vụ
0 2
2
Xưởng sản xuất
- Tổ phế.
- Tổ máy.
- Tổ đóng gói sản phẩm.
9
1
6
2
16
2
0
14
25
3
6
16
Tổng số lao động. 13 18 31
Tỉ trọng 41.94% 58.06% 100%
(Nguồn: phòng tài vụ công ty TNHH sản xuất và dịch vụ Mai Lâm)
Qua bảng số liệu của công ty trên, ta thấy rằng tỉ lệ nam - nữ của công ty không
chênh lệch nhau nhiều. Nữ chiếm tỉ lệ lớn hơn nam, điều này không hề gây mất
cân đối trong lao động mà lại rất phù hợp với ngành nghề sản xuất của công ty.
Đối với công ty TNHH sản xuất và dịch vụ Mai Lâm lao động sản xuất mang
tính chất thủ công là chủ yếu, và đặc điểm nổi bật của công ty là rất cần nhiều

18

2
11
3
2
58.06

6.45
35.48
9.68
6.45
31 – 40
Trong đó:
Xưởng trưởng
Công nhân đứng máy
Cán bộ vật tư
Công nhân đóng gói sp
11

1
4
2
4
35.49

3.225
12.91
6.45
12.91

động làm trong lĩnh vực kỹ thuật thì cần có nhiều năm kinh nghiệm hơn lao động
khác. Theo bảng trên, có 11 lao động làm việc thuộc độ tuổi này trong đó có 2
cán bộ vật tư, xưởng trưởng và còn lại là công nhân xưởng sản xuất. Độ tuổi này
cũng chiếm tỉ trọng khá lớn trong tổng số lao động của công ty, chiếm 35.49%.
Những lao động này cũng giữ vị trí quan trọng trong quá trình sản xuất, kinh
doanh của công ty.
Độ tuổi 41 – 50: Ở độ tuổi này chỉ có 2 người : Đó là giám đốc công ty và phó
giám đốc kỹ thuật chiếm tỉ lệ 6.45%.
Trong công ty không có ai thuộc phạm vi độ tuổi quá 50. Người nhiều tuổi nhất
là giám đốc công ty cũng chỉ ở tuổi 49, còn lại công nhân đều rất trẻ người ít tuổi
nhất là 22 và nhiều nhất là 40 tuổi.
Với cơ cấu lao động theo tính chất lao động công ty đã phân ra thành hai loại
là lao động trực tiếp và lao động gián tiếp.
Bảng 2.5: Cơ cấu lao động theo tính chất lao động của công ty.
Chỉ tiêu Số lượng (người) Tỉ trọng (%)
Lao động gián tiếp 7 33.33
Lao động trực tiếp 24 66.67
Tổng 31 100

Ta thấy rằng theo tính chất lao động thì công ty có lao động trực tiếp chiếm tỉ
trọng rất cao 66.67% gần gấp 4 lần lao động gián tiếp (33.33% ). Sự chênh lệch
này cũng là hợp lý vì công ty TNHH sản xuất và dịch vụ Mai Lâm là công ty sản
xuất với hai dây chuyền máy móc hiện đại đòi hỏi đội ngũ lao động trực tiếp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status