MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ HIỆN TRẠNG THẢM THỰC VẬT TẠI XÃ PHÚ ĐÌNH HUYỆN ĐỊNH HOÁ TỈNH THÁI NGUYÊN doc - Pdf 11

Lê Đồng Tấn và cs Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 70(8): 115 - 119
115 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ HIỆN TRẠNG THẢM THỰC VẬT
TẠI XÃ PHÚ ĐÌNH HUYỆN ĐỊNH HOÁ TỈNH THÁI NGUYÊN

Lê Đồng Tấn
1*
, Nguyễn Anh Hùng
2
, Dương Thị Vân Anh
31
Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật,
2
Đại học Khoa học – Đại học Thái Nguyên
3
Học viên trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên

TÓM TẮT
Hệ thực vật xã Phú Đình huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên khá đa dạng và phong phú. Bước đầu
đã ghi nhận được 547 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 121 họ 372 chi 5 ngành. Thảm thực vật
xã Phú Đình có 3 lớp quần hệ: rừng kín, thảm cây bụi và thảm cỏ với 3 kiểu thảm thực vật chính
gồm: Rừng nhiệt đới thường xanh mưa mùa nhiệt đới ở địa hình thấp và núi thấp. Thảm cây bụi
nhiệt đới chủ yếu thường xanh cây lá rộng trên đất địa đới. Thảm cỏ dạng lúa trung bình nhiệt đới
có hay không có cây gỗ. Do tác động của các hoạt động khai thác và đốt nương làm rẫy nên thảm

Tel: 0983 647523, Email: [email protected]
Nhận thức việc mất rừng là tổn thất duy nhất
nghiêm trọng đang đe doạ sức sinh sản lâu dài
của những tài nguyên có khả năng tái tạo.
Trong những năm qua nước ta đã quan tâm
nhiều hơn đến vấn đề trồng rừng và bảo vệ
rừng. Mục tiêu đến năm 2010 nước ta phải
trồng được 5 triệu ha rừng mới (2 triệu ha
rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và 3 triệu ha
rừng sản xuất) nhằm đưa độ che phủ rừng lên
43% (tương đương năm 1943) góp phần bảo
đảm an ninh môi trường, giảm nhẹ thiên tai,
tăng khả năng sinh thuỷ, bảo tồn nguồn gen
và tính đa dạng sinh học.
Phú Đình là một xã nằm ở phía Nam huyện
Định Hoá có tổng diện tích tự nhiên 990ha.
Trong đó đất lâm nghiệp là 1755,8ha (Rừng
sản xuất 205,8ha đặc dụng 1550ha). Dân số là
5900 người, chiếm 6,42% dân số của huyện,
bao gồm 5 dân tộc anh em sinh sống là Kinh,
Tày, Dao, Nùng và Sán Chỉ. Nếu như huyện
Định Hoá là một phần căn cứ địa cách mạng
trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân
Pháp, thì xã Phú Đình đã vinh dự được Bác
Hồ chọn làm nơi ở và làm việc cùng các đồng
chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước tại Khuôn Tát
và Tỉn Keo.

trong phạm vi 2m, cây thân thảo và thảm
tươi trong phạm vi 1m ở hai bên tuyến.
Những cây chưa biết tên thu tiêu bản để
giám định tên loài.
Ô tiêu chuẩn có diện tích 2500m
2
(50x50m)
được bố trí dọc theo tuyến điều tra. Trong ô
tiêu chuẩn bố trí hệ thống ô dạng bản có kích
thước 25m
2
(5x5m) trên hai đường chéo và
trung tâm ô tiêu chuẩn để thu thập số liệu.
Các chỉ tiêu đo đếm trong ô tiêu chuẩn gồm:
tên loài cây, chiều cao, đường kính thân cây,
đường kính tán lá, độ tàn che của thảm thực
vật… các yếu tố lập địa (độ cao, độ dốc,
hướng phơi…).
Sử dụng khung phân loại của UNESCO [5]
để phân loại thảm thực vật. Kết hợp sử
dụng các chỉ tiêu về hệ số tổ thành loài để
phân biệt các quần xã (ưu hợp) thực vật
(Thái Văn Trừng) [4].
Tên loài cây được xác định theo Phạm
Hoàng Hộ [3] và được chỉnh lý theo cuốn
Tên cây rừng Việt Nam [1] và Danh lục thực
vật Việt Nam [2] .
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Hệ thực vật
Bước đầu đã ghi nhận 547 loài thực vật bậc

(Myrtaceae), họ Trôm (Sterculiaceae) và họ
Gai (Urticaceae) có 10 loài.
Họ có chi nhiều gồm họ Cỏ (Poaceae) 28 chi,
Họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) 22 chi, họ Cúc
(Asteraceae) 13 chi, Họ Na (Annonaceae) 12
chi, Họ Đậu (Fabaceae) 11 chi, họ Cà phê
(Rubiaceae) 10 chi, họ Cam (Rutaceae) 9 chi,
họ Ráy (Araceae) và họ Gai (Urticaceae) có 8
chi, họ Bông (Malvaceae) 7 chi, Họ Vang
(Caesalpiniaceae) 7 chi, Họ Re (Lauraceae) 6
chi, họ Cau dừa (Arecaceae) họ Sim
(Myrtaceae) và họ Trôm (Sterculiaceae) cùng
có 5 chi.
Chi có nhiều loài gồm chi Ficus (họ
Moraceae) có nhiều loài nhất 9 loài, sau đó là
chi Elaeocarpus (họ Elaeocarpaceae) có 7
loài; các chi Phyllanthus (họ Euphorbiaceae),
Ormosia (họ Fabaceae), Lithocarpus (họ
Fagaceae), Litsea (họ Lauraceae), Rubus (họ
Rosaceae) và Smilax (họ Smilacaceae) cùng
có 5 loài; các chi Bauhinia (họ
Caesalpiniaceae), Syzygium (Myrtaceae),
Lê Đồng Tấn và cs Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 70(8): 115 - 119
117 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Sterculia (Sterculiaceae) và Bambusa (họ
Poaceae) có 4 loài.

monopetala), Dổi (Manglietia fordiana),
Ràng ràng (Ormosia balansea), Dẻ cau
(Lithocarpus kemmeratensis), Chẹo tía
(Engelhardtia roburghiana), Trám
(Canarium album)… Tầng dưới tán cao 7-
10m gồm các loài Trâm (Syzygium sp.), Ràng
ràng (Ormosia balanse), Sảng (Sterculia sp.),
các loài thuộc chi Litsea, Machilus, Phoebe
họ Re (Lauraceae) Tầng cây bụi thưa, gồm
các loài thuộc họ Cà phê (Rubiaceae), họ Đơn
nem (Myrsinaceae), họ Mua
(Melastomataceae). Tầng cỏ quyết là các loài
cây thuộc Cỏ (Poaceae), Cói (Cyperaceae),
Ráy (Araceae, Riềng (Gingiberaceae), và các
loài khuyết thực vật thuộc ngành Dương xỉ.
Ngoài ra trong rừng còn có hệ dây leo (chủ
yếu thuộc họ Đậu - Fabaceae) khá phát triển.
I.A.1b. Rừng tre nứa nhiệt đới địa hình thấp
và núi thấp. Kết quả điều tra cho thấy, rừng
tre nứa đều có nguồn gốc phát sinh hình thành
từ rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới ở
địa thấp và núi thấp do khai thác quá mức và
chặt đốt rừng làm nương rẫy. Trong loại hình
rừng tre nứa, tùy theo mức độ tham gia của
cây gỗ lá rộng mà hình thành nên rừng thuần
loại hay rừng hỗn giao.
I.A.1b (1). Rừng thuần loại. Được đặc trưng
bởi loại hình rừng Vàu (Indosasa angustata)
hình thành sau khai thác kiệt hoặc do hậu quả
của đốt nương làm rẫy. Kiểu này có diện khá

I.A.1b (2). Rừng hỗn giao với cây lá rộng.
Đây là rừng phục hồi sau khai thác kiệt và
phân bố trên các sườn đồi ở độ cao dưới
600m. Khác với rừng thuần loại, trong loại
hình này, ngoài tầng chính của rừng được ưu
thế bởi Vàu đắng cao 7-8m, rừng có 1 tầng
cây gỗ lá rộng cao 15-20m với độ tàn che 0,2-
0,3. Chúng tôi đã thống kê được trên 30 loài
cây gỗ trong loại hình này, tuy nhiên chỉ một
số loài chiếm ưu thế, trong đó đáng chú ý là
Kháo (Machilus bonii), Kháo nhớt (Phoebe
tavoyana), Côm (Elaeocarpus angustifolius),
Muồng tía (Zenia insignis), Bời lời lá tròn
(Litsea monopetala), Dổi (Manglietia
Lê Đồng Tấn và cs Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 70(8): 115 - 119
118 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

fordiana), Ràng ràng (Ormosia balansea), Dẻ
cau (Lithocarpus kemmeratensis), Chẹo tía
(Engelhardtia roburghiana)… Tầng cây bụi
và thảm tươi có thành phần giống như ở rừng
tre nứa thuần loại như đã nêu trên. Điều khác
biệt ở đây là các loài chịu bóng có mật độ cá
thể nhiều và độ dày rậm thảm tươi cao hơn.
III.A.1a. Thảm cây bụi nhiệt đới chủ yếu
thường xanh cây lá rộng trên đất địa đới.
III. A.1a (1). Có cây gỗ hai lá mầm mọc rải

không nhiều, thường phân bố trên những khu
vực là đất nương rẫy do canh tác càn đi quét
lại nhiều lần và đất đai đã bị thoái hóa.
IV.A.1 Thảm cỏ dạng lúa cao nhiệt đới có hay
không có cây gỗ.
IV.A.1a. Chịu hạn. Đại diện là ưu hợp Lau
(Saccharum spontaneum) + Chít
(Thysanolaena maxima) phân bố trên các
sườn núi. Hiện tại thảm thực vật này đang
diễn thế đi lên do sự phát triển của các loài
cây tái sinh. Trong thảm cỏ này, thành phần
cây bụi chủ yếu là: Ba chạc (Euodia lepta),
Mắt trâu (Micromelum hirsutum), Muồng
truổng (Zanthoxylum avicenniae), Lấu đỏ
(Psychotria rubra), Bướm bạc (Mussaenda
dehiscens), Trung quân (Ancistrocladus
sacndens), Nóng (Saurauia napaulensis), Ớt
sừng (Tabernaemontana bovina), Thàu táu
(Aporosa dioica), Phèn đen (Phyllanthus
reticulatus), Trọng đũa (Ardisia neriifolia),
Găng (Randia spinosa), các loài cây gỗ gồm
Hu đay (Trema orientalis), Thôi ba
(Alangium kurzii), Lim xẹt (Peltophorum
pterocarpum), Ràng ràng (Ormosia
balansea)…
IV.A.1 Thảm cỏ không dạng lúa cao nhiệt đới
có hay không có cây gỗ. Đại diện là ưu hợp
Chuối rừng (Musa sp.). Ưu hợp chuối rừng có
diện tích không nhiều, thường là những
khoảnh nhỏ phân bố rải rác trên các vùng đất

119 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, (2000), Tên cây rừng Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.
[2]. Đại học Quốc gia Hà Nội (2003), Danh lục các loài thực vật Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.
[3]. Phạm Hoàng Hộ (1991-1993), Cây cỏ Việt Nam, tập I, II, III.
[4]. Thái Văn Trừng (2000), Những hệ sinh thái rừng nhiệt đới ở Việt Nam, Nxb KH&KT, Hà Nội
[5]. Unesco, 1973. International classification and mopping of vegetation. Unessco Paris: 14-37.
SUMMARY
RESEARCH ON THE STATUS OF PLANTS IN PHU DINH COMMUNE
– DINH HOA DISTRICT – THAI NGUYEN PROVINCE Le Dong Tan
1
, Nguyen Anh Hung
2
, Duong Thi Van Anh
31
Institute of ecology and Biological Resources,
2
College of sciences – Thai Nguyen University,
3
Thai Nguyen University of Education


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status