Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay, đứng trước sự bùng nổ
về kinh tế, sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp và nhu cầu của xã hội
ngày càng đa dạng đòi hỏi các doanh nghiệp phải củng cố và hoàn thiện hơn
nữa nếu muốn tồn tại và phát triển bền vững.
Trong các hoạt động của doanh nghiệp, tiền lương là một yếu tố quan
trọng trong chi phí sản xuất, nó có quan hệ và ảnh hưởng trực tiếp tới lợi
nhuận của doanh nghiệp. Đối với người lao động, tiền lương là một phần chủ
yếu trong thu nhập của họ, là động lực giúp họ thực hiện tốt công việc, nâng
cao năng suất lao động. Năng suất lao động tăng cùng với các yếu tố khác sẽ
làm lợi nhuận của doanh tăng, từ đó lợi ích mà người lao động cũng tăng lên.
Hiện nay, tiền lương không chỉ là một phần quan trọng trong chính
sách kinh tế xã hội, là động lực tăng trưởng kinh tế và giải quyết công bằng
tiến bộ xã hội, nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý Nhà nước mà tiền lương
còn là nhân tố gắn liền với sự phát triển kinh tế xã hội. Nếu trả lương công
bằng cho người lao động chính là tạo điều kiện cho sự phát triển, góp phần
quan trọng trong việc nâng cao tinh thần lao động và hiệu suất công tác. Để
có thể trả lương đúng và đủ cho người lao động thì công tác xây dựng các
hình thức trả lương và sử dụng quỹ tiền lương mang ý nghĩa hết sức to lớn.
Nó không chỉ là nhân tố kích thích người lao động làm việc đạt hiệu quả hơn
mà nó còn là một trong những chỉ tiêu đánh giá cả quá trình hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp.
Mỗi doanh nghiệp có thể lựa chọn một hoặc nhiều hình thức trả lương
khác nhau và các hình thức trả lương đó sẽ quyết định sự thành công trong
công tác trả lương của doanh nghiệp đó. Chính vì vai trò quan trọng này, nên
Nguyễn Thị Hồng Hạnh Quản trị nhân lực 46B
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
việc xây dựng và hoàn thiện các hình thức trả lương là nhiệm vụ cấp thiết tại
3. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thống kê số liệu: Tổng hợp số liệu của công ty liên quan
đến tiền lương và các hình thức trả lương tại phòng tổ chức lao động.
Phương pháp phân tích: được sử dụng để phân tích các báo cáo liên
quann đến tình hình hoạt động của công ty. Phân tích tình hình sử dụng quỹ
lương, các hình thức trả lương cũng như việc áp dụng nó trên thực tế.
Phương pháp so sánh: sử dụng trong việc so sánh đối chiếu giữa các kỳ
và các năm hoạt động của công ty.
Và Các phương pháp khác: Duy vật biện chứng, diễn dịch, quy nạp.
4. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu về các hình thức trả lương đang được áp
dụng. Các số liệu được thu thập trong phạm vi từ khi công ty thành lập đến
năm 2007. Nơi thu thập tài liệu là phòng tổ chức lao động, phòng tài chính kế
toán và phòng kinh tế thị trường của công ty.
5. Kết cấu chuyên đề
Nội dung chính của chuyên đề được chia thành ba phần chính như sau:
Chương I: Lý luận chung về tiền lương
Chương II: Phân tích thực trạng các hình thức trả lương tại công ty cổ
phần đầu tư và xây dựng số 4.
Chương III: Một số giải pháp hoàn thiện các hình thức trả lương của
công ty cổ phần đầu ta và xây dựng số 4.
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình và hướng dẫn cụ thể của
Thầy Võ Nhất Trí để em có thể hoàn thành tốt chuyên đề. Đồng thời cũng xin
Nguyễn Thị Hồng Hạnh Quản trị nhân lực 46B
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
cảm ơn các cán bộ phòng tổ chức lao động thuộc công ty cổ phần đầu tư và
xây dựng số 4 đã tạo điều kiện để em có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ thực tập.
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ TIỀN LƯƠNG
động cũng là hàng hoá. Tuy là người chủ sở hữu tập thể, nhưng sức lao động
cũng được tính giá trị và do đó có giá cả, người lao động cũng được trả công và
hình thức tiền lương xem như giá cả của sức lao động. Nhà nước có nhiệm vụ
tạo ra những điều kiện và môi trường thuận lợi bảo đảm lợi ích cho người mua
(là doanh nghiệp nhà nước hay tư nhân) và người bán sức lao động.
Tiền lương
Trong một
thị trường cạnh
tranh, mức lương
được quyết định
bởi quan hệ cung
cầu về lao động (xem đồ thị). Đường cong D (nhu cầu lao động) dốc xuống
phản ánh giảm khả năng sản xuất cận biên của lao động khi có nhiều người
cùng lao động. Đường cong S (cung lao động) dốc lên chứng tỏ mức lương
càng cao thì số cung lao động càng lớn; vị trí và độ dốc của S tuỳ thuộc vào
trình độ chuyên môn của công nhân và khả năng di động sức lao động về địa lí
và nghề nghiệp. Mức lương cân bằng L
m
là nơi hai đường cong cung và cầu cắt
nhau (E). Tác động của tiền lương vào cung cầu thị trường lao động còn chịu
Nguyễn Thị Hồng Hạnh Quản trị nhân lực 46B
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
ảnh hưởng các chính sách của các nghiệp đoàn và của giới chủ. Chính phủ có
thể tác động vào thị trường lao động bằng quy định mức lương tối thiểu và thời
gian ngày làm việc tối đa, hoặc chính sách giá và thu nhập.
Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO), tiền lương là sự trả công hoặc thu
nhập, bất luận tên gọi hay cách tính thế nào, mà có thể được biều hiện bằng tiền
và được ấn định bằng thoả thuận giữa người lao động và người sự dụng lao
động, hoặc bằng pháp luật, pháp quy quốc giá, do người sử dụng lao động phải
Công bằng ở đây được hiểu bao gồm cả công bằng bên trong và công
bằng bên ngoài.
Công bằng bên trong được thể hiện thông qua việc các công việc khác
nhau trong tổ chức phải được chi trả mức tiền lương khác nhau, các công việc
giống nhau về mức độ phức tạp, yêu cầu về trình độ lành nghề thì phải nhận
được mức thù lao như nhau.
Công bằng bên ngoài: nghĩa là mức lương cho các hoạt động lao động
tương tự hoặc bằng nhau trong tương quan khi so sánh với tiền lương của
cung công việc trong tổ chức mình với các tổ chức khác trên cùng địa bàn.
Hệ tiền lương phải đảm bảo
Hệ tiền lương phải cho người lao động cảm thấy thu nhập hàng tháng
của họ được đảm bảo và có thể đoán trước được thu nhập của họ.
Hệ thống tiền lương phải hiệu quả và hiệu suất
Điều này đòi hỏi tổ chức phải có những cách thức quản lý có hiệu quả
hệ thống trả lương trong lao động, phải có nguồn tài chính hỗ trợ cho hệ
thống đó được thực hiện liên tục trong một thời gian dài.
1.1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc trả lương
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới việc trả lương nó có thể là những yếu tố
trực tiếp, gián tiếp hay bên ngoài và bên trong, mỗi yếu tỗ có những ảnh
hưởng khác nhau tới việc chi trả lương tại các doanh nghiệp. Về cơ bản có
Nguyễn Thị Hồng Hạnh Quản trị nhân lực 46B
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
thể chia ra 4 nhóm yếu tố chủ yếu sau: Yếu tố thuộc môi trường bên ngoài,
yếu tố thuộc về công việc, yếu tố thuộc về công việc và yếu tố xuất phát từ
phía nhân viên. Sau đây chúng ta sẽ đi phân tích cụ thể sự ảnh hưởng của từng
nhóm yếu tố.
1.1.2.1. Yếu tố thuộc môi trường bên ngoài
Thị trường lao động
Tình hình cung và cầu lao động, thất nghiệp trên thị trường lao động là
pháp đã quy định trong Bộ Luật Lao động.
Tình trạng của nền kinh tế
Tình trạng phát triển của nền kinh tế ảnh hưởng rất lớn đến mức lương
mà người sử dụng lao động chi trả cho người lao động. Trong điều kiện nền
kinh tế đang suy thoái hay có biểu hiện của khủng hoảng doanh nghiệp
thường có xu hướng thu hẹp sản xuất, hạ thấp mức lương chi trả. Ngược lại,
khi nền kinh tế đang khởi sắc và phát triển doanh nghiệp lại có xu hướng tăng
lương cho người lao động nhằm kích thích sự mở rộng sản xuất.
1.1.2.2. Yếu tố thuộc vể tổ chức
Chính sách của công ty
Chính sách của công ty được hiểu ở đây là cách thức mà doanh nghiệp
chi trả lương, mức lương hay những hình thức trả lương mà doanh nghiệp áp
dụng như thế nào. Từ đó cũng ảnh hưởng tới mức tiền lương mà người lao
động nhận được. Chính sách của công ty là chú trọng tới tiền lương, coi tiền
lương là một yếu tố quan trọng tạo ra động lực thì khi đó mức tiền lương
được chi trả là có sự khuyến khích.
Bầu không khí văn hóa trong doanh nghiệp
Yếu tố này có thể được hiểu như quan điểm, triết lý trong trả lương của
doanh nghiệp. Tổ chức, doanh nghiệp có thể ấn định mức lương cao hay thấp
hơn hay theo mức lương chung trên thị trường. Với các doanh nghiệp muốn
Nguyễn Thị Hồng Hạnh Quản trị nhân lực 46B
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
đứng đầu trong công tác trả lương cao so với các công ty khác. Những doanh
nghiệp này họ muốn thu hút thêm người tài và họ cho rằng tiền lương sẽ là
một trong những yếu tố quan trọng nhất quyết định điều đó.
Cơ cấu, quy mô tổ chức
Sự ảnh hưởng của cơ cấu tổ chức được thể hiện thông qua tỷ trọng lao
động gián tiếp với lao động trực tiếp trong doanh nghiệp. Với cơ cấu lao động
khác nhau doanh nghiệp sẽ lựa chọn các hình thức trả lương khác nhau và
- Tài sản, tiền bạc, sự trung thành đối với doanh nghiệp…
- Ra quyết định trong hoạt động hàng ngày
- Giám sát việc thực hiện công việc của người khác
- Kết quả tài chính và hoạt động sản xuất kinh doanh
- Quan hệ với cấp trên, đồng nghiệp và cấp dưới cũng như với các
đối tượng khác bên ngoài doanh nghiệp.
- Vật tư trang thiết bị, nguyên vật liệu
Sự cố gắng
- Yêu cầu về thể lực và trí lực
- Sự căng thẳng của công việc
- Những mối quan tâm khác trong doanh nghiệp
Điều kiện làm việc
Điều kiện làm việc ảnh hưởng trực tiếp đến người lao động như môi
trường làm việc có độc, ánh sáng, tiếng ồn có đảm bảo đúng quy định hay
không. Ngoài ra còn có các yếu tố như dộ ẩm, độ rung, nồng độ bụi….
1.1.2.4. Các yếu tố thuộc về cá nhân người lao động
Các yếu tố thuộc về bản thân người lao động như sự hoàn thành công
việc, thâm niên công tác, kinh nghiệm, thành viên trung thành hay thành viên
tiềm năng cũng ảnh hưởng trực tiếp tới mức tiền lương mà họ được nhận.
Sự hoàn thành công việc
Nguyễn Thị Hồng Hạnh Quản trị nhân lực 46B
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Mức độ hoàn thành công việc khác nhau sẽ dân đến mức tiền lương
khác nhau. Tiền lương được chi trả càng cao cho thấy hiệu quả làm việc của
người lao động càng cao.
Thâm niên, kinh nghiệm
Người lao động có thâm niên và kinh nghiệm cao là những người đã và
đang làm việc trong tổ chức một thời gian dài có trình độ và năng lực trong
lĩnh vực đang hoạt động. Người lao động có thâm niên cao cũng là người có
lý được nâng cao mà còn do các nguyên nhân khách quan khác như việc đổi
mới trang thiết bị kĩ thuật, đổi mới công nghệ sản xuất sản phẩm, sử dụng
hiệu quả nguồn tài nguyên…Như vậy có thể thấy năng suất lao động có khả
năng khách quan tăng nhanh hơn tiền lương bình quân.
Tăng năng suất lao động làm tăng tích luỹ còn tăng tiền lương làm tăng
tiêu dùng nếu tích lũy mà ít hơn tiêu dùng thì một doanh nghiệp cũng như một
xã hội không thể nào phát triển được. Nói cách khác, một doanh nghiệp chỉ
thực sự hoạt động kinh doanh hiệu quả khi chi phí nói chung cũng như chi phí
cho một đơn vị sản phẩm giảm đi, tức là mức giảm chi phí do tăng năng suất
lao động phải lớn hơn mức tăng chi phí do tăng tiền lương bình quân.
Nguyên tắc 3: Đảm bảo quan hệ hợp lý về tiền lương giữa người lao
động làm các nghành nghề khác nhau trong nền kinh tế quốc dân. Nguyên tắc
này được xây dựng trên cơ sở các yếu tố sau:
Trình độ lành nghề bình quân của người lao động ở mỗi ngành
Những ngành nghề khác nhau có mức độ và tính chất phức tạp và đòi
hỏi trình độ khác nhau khi thực hiện nên trình độ lành nghề của người lao
động cũng khác nhau giữa các ngành nghề.
Điều kiện lao động
Nguyễn Thị Hồng Hạnh Quản trị nhân lực 46B
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Những người lao động làm việc với những điều kiện lao động khác
nhau cũng sẽ làm cho sự hao phí sức lao động cho công việc là khác nhau và
phải được trả lương khác nhau.
Ý nghĩa kinh tế của mỗi ngành trong nền kinh tế quốc dân
Mỗi ngành kinh tế có vài trò và vị thế khác nhau trong nền kinh tế quốc
dân. Những ngành trọng điểm trong nền kinh tế quốc dân như hiện nay là
nghành khai thác, dầu khí, công nghiệp nặng phải được ưu tiên phát triển.
Tiền lương là một trong những công cụ để khuyến khích người lao động trong
các ngành này lao động có hiệu quả.
để tạo ra động lực lao động, nâng cao hiệu quả hoạt động của từng cá nhân từ
đó nâng cao năng suất lao động trong toàn doanh nghiệp. Khi năng suất lao
động được nâng cao sẽ góp phần làm giảm chi phí sản xuất và hạ giá thành
sản phẩm. Hiệu quả hoạt động được nâng cao cũng là cơ sở để doanh nghiệp
có thể mở rộng sản xuất hơn và có điều kiện chăm lo đến đời sống của người
lao động tốt hơn.
Tiền lương là một trong nhưng yếu tố khá nhạy cảm trong doanh
nghiệp. Hiện nay đa số các vụ đình công, bãi công là do sự thiếu công bằng
trong việc chi trả lương cho người lao động. Chính vì vậy, tiền lương được
chi trả và phân phối một cách công bằng với sự đóng góp của người lao động
cũng là một trong những yếu tố quan trọng để doanh nghiệp có thể giữ được
những người lao động giỏi gắn bó với mình.
Như vậy, tiền lương đóng một vai trò hết sức quan trọng trong hoạt
động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Có thể nói tiền lương là một
nhân tố tác động không nhỏ trong việc tạo ra vị thế và sức cạnh tranh của mỗi
doanh nghiệp trên thị trường.
1.2.2.2. Vai trò của tiền lương đối với người lao động
Nguyễn Thị Hồng Hạnh Quản trị nhân lực 46B
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Tiền lương là phần thu nhập cơ bản nhất của người lao động chính vì
vậy nó tác động lớn đến đời sống vật chất cũng như tinh thần của họ.
Tiền lương mà người lao động nhân được sẽ giúp họ và gia đình trang
trải các chi tiêu cho cuộc sống, sinh hoạt và các dịch vụ cần thiết cho đời sống
hàng ngày. Mức sống của mỗi gia đình và mỗi cá nhân ảnh hưởng rất nhiều
bởi yếu tố tiền lương. Tiền lương nhất là tiền lương thực tế mà người lao
động nhận được có ý nghĩa rất lơn trong việc tái sản xuất sức lao động và đảm
bảo thể chất cũng như sức làm việc của người lao động. Khi đời sống của
người lao động được đảm bảo bởi tiền lương ổn định và mức tiền lương đó
ngày càng được tăng cao thì người lao động sẽ yên tâm làm việc và thậm chí
động với người lao động và làm tăng tổng cầu trong xã hội tuy nhiên nó lại
kéo giá cả tăng lên. Mặt khác tiền lương tăng cũng có thể kéo theo nó là chi
phí sản xuất sản phẩm của các doanh nghiệp tăng lên làm cho giá thành tăng
và dẫn đến lạm phát. Tiền lương thực tế của người lao động từ đó lại giảm
xuống. Tuy nhiên, tiền lương lại đóng góp một phần đáng kể vào thu nhập
quốc dân thông qua con đường thuế thu nhập của nhà nước. Đây là một nhân
tố quan trọng góp phần tăng nguồn thu của chính phủ, tăng ngân sách nhà
nước và góp phần giúp chính phủ điều tiết được thu nhập giữa các tầng lớp,
các nhóm dân cư trong xã hội. Nói cách khác tiền lương có vai trò quan trọng
trong việc tạo ra sự ổn định và phát triển của xã hội.
Như vậy, tiền lương có những tác động khác nhau, trên nhiều phương
diện tới hoạt động sản xuất, đời sống người lao động cũng như sự phát triển
chung của xã hôi. Chính vì thế chúng ta cần phải có những nghiên cứu và tìm
hiều một cách chi tiết hơn nữa các vấn đề liên quan đến tiền lương hiện nay.
1.3. CÁC HÌNH THỨC TRẢ LƯƠNG CHỦ YẾU
Nguyễn Thị Hồng Hạnh Quản trị nhân lực 46B
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Tuỳ vào cơ sở để tính toán lượng tiền lương trả cho người lao động,
tiền lương được trả dưới hai hình thức: Tiền lương trả theo thời gian và tiền
lương trả theo sản phẩm.
1.3.1. Hình thức trả lương theo thời gian
Trong hình thức trả lương theo thời gian, lượng tiền lương mà người
lao động nhận được tính toán trên cơ sở mức tiền lương cấp bậc công việc và
thời gian thực tế mà người lao động làm việc. Với điều kiện họ phải đáp ứng
được các tiêu chuẩn thực hiện công việc tối thiểu đã được xây dựng.
Đối tượng áp dụng
Tiền lương trả theo thời gian chủ yếu được áp dụng đối với các công
việc sản xuất khó định mức được cụ thể, hoặc công việc đòi hỏi chất lượng
cao, các công việc mà năng suất, chất lượng phụ thuộc chủ yếu vào máy móc,
: Tiền lương cấp bậc giờ tính theo thời gian
T: Thời gian thực tế đã làm việc của người lao động
Có 3 loại lương theo thời gian đơn giản:
Lương giờ: Tính theo mức lương cấp bậc giờ và số giờ làm việc.
Lương ngày: Tính theo mức lương cấp bậc ngày và số ngày làm viẹc
thức tế trong tháng.
Lương tháng: Tính theo mức lương cấp bậc tháng.
Nhược điểm của hình thức này là mang tính chất bình quân, không
khuyến khích sử dụng hợp lý thời gian làm việc, tiết kiệm nguyên vật liêu, tập
trung công suất của máy móc thiêt bị để tăng năng suất lao động.
1.3.1.2. Chế độ trả lương theo thời gian có thưởng
Chế độ trả lương này là sự kết hợp giữa chế độ trả lương theo thời gian
đơn giản với tiền thưởng, khi đạt được những chỉ tiêu về số lượng hoặc chất
lượng đã quy định.
Chế độ trả lương này chủ yếu áp dụng với côg nhân phụ làm công việc
phục vụ như công nhân sửa chữa, công nhân điều chỉnh thiết bị…Ngoài ra
còn áp dụng đối với những công nhân chính làm những khâu sản xuất có trình
độ cơ khí hoá cao, tự động hoá hoặc những công việc tuyệt đối phải đảm bảo
chất lượng.
Công thức: L
tt
= L
cb
x T + Th
Trong đó: L
tt
: Tiền lương thực tế người lao động nhận được
L
cn
: Tiền lương cấp bậc giờ tính theo thời gian
sức học tập nâng cao trình độ lành nghề, tích luỹ kinh nghiệm, rèn luyện kỹ
năng và phát huy tính sáng tạo để nâng cao khả năng làm việc và năng suất
lao động.
Nguyễn Thị Hồng Hạnh Quản trị nhân lực 46B
20
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Trả lương theo sản phẩm góp phần vào việc đẩy mạnh việc cải tiến, tổ
chức quá trình sản xuất, thúc đẩy việc thực hiện tốt các chế độ hạch toán kinh
tế. Áp dụng chế độ tiền lương tính theo sản phẩm đòi hỏi phải có sự chuẩn bị
sản xuất nhất định. Phải củng cố kiện toàn tổ chức sản xuất, kỹ thuật sản xuất,
tổ chức lao động phải đảm bảo cho quá trình sản xuất được cân đối và hợp lý.
Bên cạnh những mặt tích cực hình thức trả lương theo sản phẩm cũng
có nhiều tồn tại cần quan tâm:
Tiền lương mà người lao động nhận được phụ thuộc vào số lượng sản
phẩm thực tế mà họ sản xuất ra nên dễ xảy ra tình trạng họ không quan tâm
tới một số vấn đề sau:
- Chất lượng sản phẩm, xảy ra tình trạng làm ẩu, làm nhanh số lượng sản
phẩm nhiều nhưng chất lượng không được đảm bảo.
- Tiết kiệm nguyên vật liệu
- Sử dụng hiệu quả trang thiết bị kỹ thuật
Ngoài ra để có thể trả lương được theo hình thức này, công ty cần xây
dựng được một mức lao động hợp lý với từng người lao đông, đảm bảo cung
ứng máy móc thiết bị một cách đầy đủ và kịp thời.
Có thể xảy ra tình trạng ngừng sản xuất do các yếu tố ngoài ý muốn
như mất điện, cung ứng vật liệu kỹ thuật chậm hay máy móc hỏng. Khi đo kết
quả sản xuất của người lao động bị giảm sút so với năng lực làm việc thực tế
của họ. Trong những trường hợp đó trả lương theo sản phẩm không phải là
hình thức tối ưu.
Hình thức trả lương theo sản phẩm gồm các hình thức trả lương:
1.3.2.1. Hình thức trả lương theo sản phẩm trực tiếp cá nhân
cũng đơn giản do đó công nhân có thể tính toán được dễ dàng số tiền lương
mà họ nhận được khi hoàn thành công việc được giao.
Nhưng chế độ trả lương này có nhược điểm là làm cho công nhân ít
quan tâm đến việc sử dụng tốt máy móc thiết bị và nguyên vật liệu, ít chăm lo
tới công việc chung của tập thể…
1.3.2.2. Hình thức trả lương theo sản phẩm tập thể
Nguyễn Thị Hồng Hạnh Quản trị nhân lực 46B
22
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Hình thức trả lương này thương được áp dụng với những công việc cần
một nhóm công nhân, đòi hỏi sự phối hợp giữa các công nhân và năng suất
lao động phụ thuộc vào sự đóng góp của tất cả các thành viên trong nhóm. Đó
là các công việc như: lắp ráp các thiết bị, sản xuất ở các bộ phận làm việc theo
dây truyền, trong nom máy liên hơp…
Công thức tính đơn giá:
ĐG =
∑
=
n
i 1
L
i
Q
Hoặc ĐG =
∑
=
n
i 1
L
Phương pháp dùng hệ số điều chỉnh
Quá trình tính toán như sau:
Nguyễn Thị Hồng Hạnh Quản trị nhân lực 46B
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Bước 1: Tính tiền lương theo cấp bậc và thời gian làm việc của mỗi
công nhân.
Bước 2: Xác định hệ số điều chỉnh của tổ bằng cách lấy tổng số tiền
thực lĩnh chia cho số tiền lương vừa tính bên trên.
Bước 3: Tính tiền lương cho từng công nhân.
TL
i
= TL
cbi
x H
dc
Trong đó: TL
i
: Lương thực tế công nhân i nhận được
TL
cbi
: Tiền lương cấp bậc của công nhân i
H
dc
: Hệ số điều chỉnh
Phương pháp dùng giờ - hệ số
Quá trình tính toán như sau:
Bước 1: Tính đổi số giờ làm việc thực tế của từng công nhân với cấp
bậc khác nhau thành số giờ làm việc thực tế ở bậc 1 để so sánh.
T
chính hưởng tiền công theo sản phẩm. Những công nhân này làm các công
việc phụ như: Công nhân sửa chữa, phục vụ, công nhân điều chỉnh thiết bị…
Đơn giá tính theo công thức sau:
ĐG
=
L
M x Q
Trong đó: ĐG: Đơn giá tính theo sản phẩm gián tiếp
L : Mức lương cấp bậc của công nhân phụ
Q : Mức sản lượng của công nhân chính
M : Số máy phục vụ cùng loại
Tiền lương thức tế của công nhân phụ được tính theo công thức:
TL = ĐG x Q
Trong đó:
TL : Tiền lương thực tế của công nhân phụ
Q : Mức sản lượng của công nhân chính
Hình thức trả lương này có ưu điểm là khuyến khích công nhân phụ
phục vụ tốt hơn cho công nhân chính, tạo điều kiện để nâng cao năng suất lao
động cho công nhân chính.
Tuy nhiên hình thức trả lương này có nhược điểm là tiền lương mà
công nhân phụ nhận được phụ thuộc vào công nhân chính. Tiền lương của
công nhân chính nhận được lại do nhiều yếu tố tác động nên có thể làm hạn
chế sự cố gắng của công nhân phụ.
1.3.2.4. Hình thức trả lương theo sản phẩm có thưởng
Nguyễn Thị Hồng Hạnh Quản trị nhân lực 46B
25