ĐẶC ĐIỂM MÔ BỆNH HỌC Ở CÁ ĐIÊU
HỒNG (Oreochromis sp.) NHIỄM VI
KHUẨN Streptococcus agalactiae TRONG
ĐIỀU KIỆN THỰC NGHIỆM
Kỷ yếu Hội nghị khoa học thủy sản lần 4: 289-301 Trường Đại học Cần Thơ
289
ĐẶC ĐIỂM MÔ BỆNH HỌC Ở CÁ ĐIÊU HỒNG
(Oreochromis sp.) NHIỄM VI KHUẨN Streptococcus
agalactiae TRONG ĐIỀU KIỆN THỰC NGHIỆM
Đặng Thụy Mai Thy
1
và Đặng Thị Hoàng Oanh
1
4
- 4,23x10
6
CFU/ml bị thay đổi vào
ngày thứ 3, biến đổi nặng hơn vào ngày thứ 5 và bị phá hủy ở ngày thứ 10. Mô
gan biến đổi chậm, bắt đầu bị biến đổi vào ngày thứ 5 ở mật độ 4,23x10
5
-
4,23x10
6
CFU/ml. Cấu trúc mang ít biến đổi, cũng bắt đầu bị biến đổi vào
ngày thứ 5 ở cá tiêm vi khuẩn mật độ 4,23x10
5
-4,23x10
6
CFU/ml.
Từ khóa: Cá điêu hồng, Streptococcus agalactiae, mô bệnh học.
1
Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ
Kỷ yếu Hội nghị khoa học thủy sản lần 4: 289-301 Trường Đại học Cần Thơ
290
1 GIỚI THIỆU
Với hệ thống sông ngòi chằng chịt, Đồng bằng sông Cửu Long là vùng nuôi
thủy sản lớn nhất của cả nước. Trong đó, cá điêu hồng (Oreochromis sp.) là
một trong những đối tượng được nuôi phổ biến không chỉ bởi đặc điểm dễ
nuôi, có chất lượng thịt ngon mà còn có giá trị dinh dưỡng cao phù hợp với thị
hiếu người tiêu dùng và là đối tượng có tiềm năng xuất khẩu trong thời gian
tới.
lần trong nước muối sinh lí. Mật độ vi khuẩn được xác định bằng máy so màu
Kỷ yếu Hội nghị khoa học thủy sản lần 4: 289-301 Trường Đại học Cần Thơ
291
quang phổ ở bước sóng 540 nm. Với OD = 1,2 ± 0,01 tương đương với mật độ
vi khuẩn là 2x10
8
CFU/ml.
2.2 Bố trí thí nghiệm
Bể nhựa 60 L dùng để bố trí thí nghiệm với nguồn nước máy có sục khí 1-2
ngày trước khi thí nghiệm. Thí nghiệm được bố trí ngẫu nhiên với 3 lần lặp lại
bằng phương pháp tiêm 7 mật độ vi khuẩn 101–106 CFU/ml, nghiệm thức tiêm
nước muối sinh lý và đối chứng không tiêm. Mật độ bố trí thí nghiệm 10
con/bể, cá được tiêm 0,1 ml/cá ở gốc vi ngực. Thí nghiệm được theo dõi trong
vòng 14 ngày, trong quá trình bố trí thí nghiệm cho cá ăn bằng thức ăn công
nghiệp theo nhu cầu.
2.3 Phương pháp mô học
Mẫu được thu vào ngày thứ 1, 3, 5, 10, 14 sau gây cảm nhiễm gồm mẫu mô da-
cơ, mang, gan, thận, tỳ tạng của cá bệnh (các nghiệm thức gây cảm nhiễm) và
cá khoẻ (nghiệm thức đối chứng), mẫu được thu và cố định trong dung dịch
formol trung tính 10%. Mẫu được xử lý qua các giai đoạn: loại nước, làm trong
mẫu và tẩm paraffin. Sau đó mẫu được đúc khối, cắt với độ dày từ 4-6 μm và
nhuộm Haematoxylin & Eosin. Tiêu bản được quan sát dưới kính hiển vi lần
lượt ở độ phóng đại 10x, 40x và 100x và chụp hình tiêu bản đặc trưng. Mẫu
phết kính tiêu bản tươi mô gan, thận và tỳ tạng được nhuộm Giemsa.
3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Biến đổi cấu trúc mô quan sát bằng phết kính tiêu bản tươi
Quan sát các tiêu bản tươi mô gan, thận, tỳ tạ
ng các mẫu cá bệnh ở nghiệm
thức tiêm mật độ vi khuẩn 4,23x10
chứng thấy cấu trúc mô ít biến đổi so với mô cá khỏe (Hình 2). Sau 14 ngày
theo dõi, ở nghiệm thức có mật độ vi khuẩn 4,23x10
6
CFU/ml cá chết với tỷ lệ
100%, đồng thời khi phân lập vi khuẩn từ gan, thận và tỳ tạng thấy xuất hiện
những khuẩn lạc ròng. Như vậy cá chết do bị nhiễm vi khuẩn nhưng kết quả
quan sát mô da-cơ cá của nghiệm thức này qua các ngày thu mẫu không phát
hiện có sự biến đổi nhiều so với cá khỏe. Điều này có thể là do cấu trúc cơ
quan này khá rắn chắc, không giữ vai trò quan trọng trong quá trình tạo máu
nên ít bị ảnh hưởng bởi vi khuẩn được gây cảm nhiễm (Hybiya, 1982).
Hình 2: Cấu trúc da-cơ cá (H&E, 100X).
A. Da cá khỏe, a. Lớp biểu bì; b. Lớp bì; c. Lớp hạ bì. B. Da cơ cá bệnh, a. Lớp biểu
bì; b. Lớp bì; c. Lớp hạ bì; d. cơ vân.
Kỷ yếu Hội nghị khoa học thủy sản lần 4: 289-301 Trường Đại học Cần Thơ
293
3.2.2 Mang
Khảo sát mô mang cá bệnh tiêm vi khuẩn ở mật độ 4,23x10
1
-4,23x10
6
CFU/ml
vào các thời điểm thu mẫu thấy mô mang có những biến đổi như: sợi mang sơ
cấp và thứ cấp phình to, dính lại và mất hẳn. Kết quả phân tích mô mang cá
bệnh được trình bày qua Bảng 1.
Bảng 1: Kết quả phân tích mô mang cá bệnh
Ngày
Thu mẫu
Nghiệm thức tiêm vi khuẩn (CFU/ml)
Sợi mang sơ
cấp gãy và mất
hẳn
Sợi mang thứ cấp
dính lại
Ghi chú: (ĐC): đối chứng, (bt): bình thường
Kết quả ở Bảng 1 và Hình 4 cho thấy cấu trúc mang bị biến đổi có các hiện
tượng phình to sợi mang thứ cấp và sơ cấp, các sợi mang thứ cấp dính lại. Tuy
nhiên hiện tượng phình to các sợi mang sơ cấp và thứ cấp chỉ bắt đầu được ghi
nhận từ ngày thu mẫu thứ 5 đối với nghiệm thức có mật độ vi khuẩn 4,23x10
5
-
4,23x10
6
CFU/ml. Đến ngày thứ 10 mô mang ở các nghiệm thức này tiếp tục bị
biến đổi và ở nghiệm thức 4,23x10
4
CFU/ml cấu trúc mang cũng bắt đầu bị
biến đổi. Đến ngày thu mẫu cuối cùng cá bị nhiễm bệnh nặng với tỷ lệ cao, mô
mang bị mất cấu trúc hoàn toàn và không có khả năng hồi phục. Các nghiệm
thức còn lại và nghiệm thức đối chứng với tỷ lệ chết khi qua 14 ngày thu mẫu
tương đối thấp (>20%) nên khi quan sát mô mang hầu như không nhận thấy
những biến đổi so với mang cá khỏ
e (Hình 3A). Nhìn chung mức độ biến đổi ở
mang không nghiêm trọng. Sự biến đổi xuất hiện ở lượng mẫu không lớn chủ
yếu ở nghiệm thức tiêm vi khuẩn với mật độ 10
4
-10
6
CFU/ml và biến đổi chậm
Ngày
Thu mẫu
Nghiệm thức tiêm vi khuẩn (CFU/ml)
ĐC 10
1
10
2
10
3
10
4
10
5
10
6
thứ 1 bt
thứ 3 bt bt bt bt bt Dãy tế bào gan
mất liên kết
Sung huyết tĩnh
mạch
thứ 5 bt bt bt bt Dãy tế bào
gan mất liên
kết, sung
huyết
Hoại tử
hạt,sung huyết
Hoại tử hạt
nhiều vùng gan
mất cấu trúc
10. Gan hoại tử gần như hóa lỏng, đảo tụy xuất huyết, vùng hoại tử tạo thành
nhiều khoảng không bào. Đến ngày thứ 14 những vùng sung huyết tế bào máu
phân hủy tạo thành dịch viêm, tế bào hồng cầu hủy hoại, nhân tan, tế bào chất
trở nên đồng nhất bắt màu Eosin.
So với các nghiệm thức có mật độ vi khuẩn 10
4
-10
6
thì các nghiệm thức có mật
độ vi khuẩn từ 10
1
-10
3
và nghiệm thức đối chứng gan hầu như không có biến
đổi, hoặc chỉ biến đổi ở mức độ nhẹ không đáng kể. Điều này có thể do mật độ
vi khuẩn thấp không đủ khả năng gây bệnh cho cá nên không làm tổn thương
gan. Trong khi đó ở nghiệm thức có mật độ vi khuẩn 4,23x10
6
CFU/ml làm tổn
thương gan sớm, nhiều vùng hoại tử ở mức độ nghiêm trọng hơn so với nghiệm
thức có mật độ vi khuẩn 4,23x10
4
CFU/ml; 4,23x10
5
CFU/ml.
Khi cá mới bắt đầu nhiễm bệnh quan sát mô gan thấy có hiện tượng mất liên
kết giữa các tế bào. Biểu hiện này là do sự xung huyết trong hệ thống mao
mạch nằm giữa các tế bào gan, quá trình này kéo dài dẫn đến vỡ mạch máu và
giải thoát nhiều enzym tiêu hóa (tiêu hóa protein, lipid…) từ các tế bào bạch
Kỷ yếu Hội nghị khoa học thủy sản lần 4: 289-301 Trường Đại học Cần Thơ
2
10
3
10
4
10
5
10
6
thứ 1 bt
thứ 3 bt bt bt Bt Sung huyết Sung huyết Sung huyết
thứ 5 bt bt bt Bt Sung huyết,
xuất huyết
Hoại tử hạt,
sung huyết
Hoại tử hạt nhiều
vùng
thứ 10 bt bt bt sung
huyết
Hoại tử Hoại tử Hoại tử gần hóa
lỏng nhiều vùng,
thứ 14 bt bt bt Bt Sung huyết,
có dịch viêm
Sung huyết, có
dịch viêm
Sung huyết, có
dịch viêm
Ghi chú: (ĐC): đối chứng, (bt): bình thường
Qua Bảng 3, Hình 7 và 8 cho thấy bắt đầu ngày thu mẫu thứ 3 có 3 nghiệm
cuối cùng mô thận chỉ có hiện tượng bị sung huyết và dịch viêm, có thể ở giai
đoạn này cá đang phục hồi cấu trúc, lượng máu lớn tập trung ở thận để thực
Kỷ yếu Hội nghị khoa học thủy sản lần 4: 289-301 Trường Đại học Cần Thơ
298
hiện trao đổi oxy cung cấp cho việc tái tạo cấu trúc cũng như đào thải chất độc
và tác nhân gây bệnh (các tế bào bạch cầu và tế bào limpho).
Kết quả khảo sát mô thận ở Bảng 3 cũng cho thấy ở nghiệm thức đối chứng và
các nghiệm thức tiêm mật độ vi khuẩn từ 4,23x10
1
-4,23x10
3
CFU/ml qua các
ngày thu mẫu thì mô thận hầu như không bị biến đổi. Những nghiệm thức tiêm
mật độ vi khuẩn từ 4,23x10
4
-4,23x10
6
CFU/ml thì vi khuẩn làm cho mô thận bị
ảnh hưởng nghiêm trọng. Nghiệm thức có mật độ vi khuẩn 4,23x10
6
CFU/ml
qua các ngày thu mẫu hoại tử dạng hạt đến gần như hóa lỏng. Thận bị hoại tử
làm mất đi những chức năng quan trọng của thận như điều hòa áp suất thẩm
thấu, bài tiết, sản xuất hồng cầu cũng như tiết hormone điều hòa các quá trình
sinh lý của cơ thể. Hình 7: Thận cá biến đổi cấu trúc ở ngày thu mẫu thứ 10 (H&E, 100X).
A. Thận hoại tử, a: quản cầu thận phình to, b: quản cầu thận hoại tử. B. Thận bị hoại
10
6
thứ 1 bt
thứ 3 bt bt bt bt Sung huyết Sung huyết Sung huyết, xuất
huyết
thứ 5 bt bt bt bt Sung huyết,
xuất huyết
Hoại tử hạt,
sung huyết
Hoại tử hạt nhiều
vùng
thứ 10 bt bt bt bt Hoại tử Hoại tử gần như
hóa lỏng
Hoại tử gần hóa
lỏng nhiều vùng,
thứ 14 bt bt bt bt Sung huyết,
có dịch viêm
Sung huyết, có
dịch viêm
Sung huyết, có
dịch viêm
Tỳ tạng bắt đầu có hiện tượng sung huyết ở ngày thu mẫu thứ 3, đến ngày thứ 5
mô tỳ tạng xuất huyết, hoại tử hạt, lúc này trung tâm đại thực bào sắc tố giảm
chuyển từ màu vàng nâu sang màu nâu tối và gần như hoại tử hóa lỏng ở ngày
thu mẫu thứ 10 (Hình 9 và 10). Ở ngày thu mẫu cuối cùng nhận thấy tỳ tạng bị
hoại tử nghiêm trọng, sung huyêt có dịch viêm. Sự biến đổi cấu trúc tỳ tạng
qua các ngày thu mẫu chỉ xảy ra ở các nghiệm thức tiêm từ 4,23x10
4
Nhìn chung khi khảo sát ở 5 cơ quan cá thì 3 cơ quan bị biến đổi qua từng ngày
thu mẫu ở các nghiệm thức tiêm mật độ vi khuẩn cao là gan, thận, tỳ tạng.
Trong đó mô thận, tỳ tạng bị biến đổi sớm nhất ở mật độ vi khuẩn 4,23x10
6
CFU/ml khi thu mẫu ở ngày thứ 3. Điều này cho thấy thận và tỳ tạng là cơ
quan bị vi khuẩn tấn công đầu tiên. Tuy nhiên đến này thu mẫu thứ 5 ở các
nghiệm thức tiêm vi khuẩn 4,23x10
4
, 4,23x10
5
và 4,23x10
6
CFU/ml mô cá biến
đổi ở cả 3 cơ quan gan, thận, tỳ tạng với các hiện tượng sung huyết, xuất huyết,
hoại tử hạt. Có thể nói rằng ở thời điểm này độc lực vi khuẩn đủ mạnh gây chết
cá số lượng nhiều và làm cho các cơ quan này bị hoại tử. Tỷ lệ cá chết cao
được ghi nhận ở ngày thu mẫu thứ 10 trên các nghiệm thức có mật độ vi khuẩn
4,23x10
6
, 4,23x10
5
và 4,23x10
4
CFU/ml với tỷ lệ chết lần lượt là 82%, 38%,
42%. Khi quan sát mô ta thấy cấu trúc gan, thận, tỳ tạng sung huyết nặng, hoại
tử hóa lỏng gần như hoàn toàn. Khi gan, thận, tỳ tạng hoại tử gần như hoàn
toàn làm cho cá không còn thực hiện được quá trình trao đổi chất của cơ thể
Kỷ yếu Hội nghị khoa học thủy sản lần 4: 289-301 Trường Đại học Cần Thơ
Philippines Diliman, 81pp.
Hybiya, T. 1982. An atlas of histology (Normal and Pathological features).
College of Agriculture and Veterinary Medicine, Nihon Univ. Tokyo, Japan.
146p.
Inglis, V., R.J. Roberts, N.R. Bromage, 1993. Bacterial disease of fish. 196-210.
Robert, R.J. 1978. Fish pathology. Institute of Aquacuture, University of Stirling.
Bailliere Tindall, London. 318 pp.
Robinson, J.A. and F.P. Meyer, 1966. Streptococcal fish pathogen. Journal of
Bacterriology, 92-512.