kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Số 5/2008
30
XáC ĐịNH Sự XÂM NHIễM CủA NấM
Corticium Salmonicolor
TRÊN 4 DòNG CAO SU BằNG PHƯƠNG PHáP lây nhi
ễm
IN VITRO
In vitro
assessment of the penetration of
Corticium salmonicolor
into wood and bark slivers of four
Hevea
clones
Nguyễn Thái Hoan
1*
, Lê Đình Đôn
2
và Phan Thành Dũng
1Abstract
The penetration of Corticium salmonicolor into slivers of Hevea wood and
bark was assessed in vitro on three types of materials consisting of wood, bark
attached to wood and bark at three levels of maturity including very young,
premature and mature on four Hevea clones RRIM 600, PB 235, RRIV 4 and
đóng vai trò quan trọng quyết định đến
sự thành công hay thất bại của thí
nghiệm. Chính vì lý do đó, nghiên cứu
này được thực hiện nhằm phần nào
giải quyết được những tồn tại nêu trên.
II. VậT LIệU
Và PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CứU
Chuẩn bị vật liệu: Dùng gỗ và vỏ
cây cao su còn tươi một năm tuổi của
4 dòng vô tính ở 3 mức độ thành thục:
1
Viện Nghiên Cứu Cao Su Việt
Nam
kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Số 5/2008
31
non, bánh tẻ và già (Hình 1 - A). Cắt
thành những mảnh nhỏ có diện tích 2
cm
2
(2 cm x 1 cm), sau đó khử trùng
các mảnh gỗ và vỏ bằng HgCl
2
0,1%
và nước cất.
Phương pháp lây nhiễm: Đặt các
mảnh gỗ đã được khử trùng lên bề mặt
môi trường MEA trong đĩa petri có
cấy sẵn nấm C. salmonicolor với số
agar bằng nước cất. Tiếp theo, khử
trùng bằng HgCl
2
0,1% từ 15 - 30 giây,
rửa lại bằng nước cất và đặt vào đĩa
petri có chứa môi trường MEA với 5
mảnh/ đĩa cho mỗi thành phần mẫu lây
nhiễm. Sau 7 - 10 ngày, ghi nhận sự
mọc lại của nấm từ các mảnh gỗ, vỏ, gỗ
và vỏ.
Xử lý số liệu
: Phân tích bảng
ANOVA bằng phần mềm PC - SAS
(personal computer - statistical
analysis system) Version 6.04 for
DOS. Hình 1: Phương pháp lây nhiễm bệnh in
vitro. A: Các mức độ thành thục của gỗ
và vỏ trên cây cao su.
B: Phương pháp lây nhiễm in vitro.
III. KếT QUả Và THảO LUậN
Trong thí nghiệm này, việc đánh giá
tỷ lệ diện tích các mảnh gỗ và vỏ cây
cao su bị nấm bao phủ được tiến hành
trên 3 yếu tố là các dòng vô tính, các
mức độ thành thục của vỏ và gỗ và các
thành phần mẫu lây nhiễm. Nhìn
chung, ở Bảng 1, phần trăm diện tích
lây
Tu
ần sau chủng nấm
01
02
03
04
05
RRIM
600
Non
G
ỗ
77,5
63,8
68,5
74,5
89,3
Bánh t
ẻ
G
ỗ
71,5
80,5
81,0
84,3
93,0G
ỗ v
à v
ỏ
77,3
87,5
96,3
96,3
100,0G
ỗ v
à v
ỏ
57,5
65,5
73,0
82,3
98,3V
ỏ
89,5
90,5G
ỗ v
à v
ỏ
67,0
69,5
79,8
80,5
88,5V
ỏ
38,5
57,0
82,8
62,5
6
5,5
75,5V
ỏ
30,3
44,3
72,3
81,3
88,8
Già
G
ỗ
36,5
45,0
67,8
80,0
92,3
RRIV 4 Non
G
ỗ
38,3
43,5
62,8
70,8
79,5
Bánh t
ẻ
G
ỗ
45,5
82,5
91,5
95,0
97,5G
ỗ v
à v
ỏ
19,8
50,5
68,0
76,5
83,8G
ỗ v
à v
ỏ
10,3
38,8
56,0
63,0
66,8V
ỏ
14,3
54,5
74,8
89,8
63,3
67,8
72,5V
ỏ
17,3
41,5
51,0
58,3
67,8
Bánh t
ẻ
G
ỗ
67,8
72,8
V
ỏ
8,5
22,5
37,0
49,8
61,5
Già
G
ỗ
6,8
19,5
27,3
37,3
48,3
Qua kết quả được trình bày ở Bảng 2
cho thấy, tỷ lệ diện tích nấm bao phủ
luôn đạt ở mức cao nhất trên dòng vô
tính RRIM 600 và khác biệt rất có ý
nghĩa về mặt thống kê so với các dòng
vô tính khác (64,2 - 93,7%). Trong khi
đó, trên dòng vô tính VM 515 tỷ lệ diện
tích nấm bao phủ luôn đạt ở mức thấp
nhất (25,5 - 65,4%). Trên hai dòng vô
tính PB 235 và RRIV 4, nấm chỉ xâm
nhiễm ở mức trung bình và tỷ lệ diện
tích nấm bao phủ giữa hai dòng vô tính
này chỉ khác biệt có ý nghĩa ở giai đoạn
một tuần sau lây nhiễm (42,5% và
26,3%).
Theo các kết quả điều tra trên đồng
ruộng, các dòng vô tính
RRIM 600,
PB 235 và VM 515 cho đến nay vẫn
được xác định là những dòng vô tính
rất mẫn cảm đối với bệnh nấm
hồng
(P.T. Dũng, 2000; N.T. Hoan và ctv,
2001). Đối với dòng vô tính VM 515,
mặc dù trong thí nghiệm này bị nấm
xâm nhiễm ở tỷ lệ thấp nhất nhưng
thực tế ngoài sản xuất mức độ nhiễm
bệnh nấm hồng thường tương đương
hoặc thậm chí cao hơn so với hai dòng
vô tính RRIM 600 và PB 235. Sự khác
a
78,6
a
86,5
b
RRIV 4
26,3
c
52,7
b
69,6
a
78,2
a
85,6
b
VM 515
25,5
c
40,8
c
49,9
b
57,0
b
65,4
c
Trong cùng một cột số liệu, các
trung bình có cùng kí tự không khác
a
71,6
a
78,2
a
86,3
a
Bánh tẻ
43,9
a
60,8
a
70,6
a
76,3
a
84,5
a
Già
27,9
b
44,4
b
59,7
b
67,8
b
77,7
b
trên
phương diện thống kê, có sự khác biệt có
ý nghĩa giữa các thành phần mẫu lây
nhiễm ở giai đoạn từ 1 - 4 tuần sau khi
lây nhiễm nấm nhưng không có sự khác
biệt ở tuần thứ 5.
Sau khi kết thúc thí nghiệm, các
mảnh gỗ được khử trùng bằng HgCl
2
0,1% và đặt lại trên môi trường MEA
nhằm kiểm tra xem nấm có thực sự
xâm nhiễm vào bên trong hay chỉ bao
phủ bên ngoài các mảnh gỗ. Kết quả
sau khi đặt gỗ 10 ngày cho thấy, nấm
mọc ra và phát triển rất mạnh từ các
mảnh gỗ, gỗ và vỏ, vỏ (Hình 2). Như
vậy, nấm đã thực sự xâm nhiễm sâu
vào bên trong các mảnh gỗ và vỏ.
kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Số 5/2008
35
Bảng 4. Phần trăm diện tích nấm bao phủ
trên thành phần vật liệu lây nhiễm
Thành
phần
mẫu lây
nhiễm
Tuần (sau lây nhiễm)
01 02 03 04 05
70,3
b
82,1
a
Trong cùng một cột số liệu, các
trung bình có cùng kí tự không khác
biệt có ý nghĩa thống kê theo trắc
nghiệm đa đoạn Duncan (n = 360;
= 0,01).
A B C
Hình 2. Sự phát triển lại của nấm C. salmonicolor từ các mảnh gỗ và vỏ cây cao
su bị bệnh trong thí nghiệm. Mẫu đã được xử lý HgCl
2
0,1% và đặt trên môi
trường MEA,
ở nhiệt độ 25
o
C. Thời gian theo dõi sau khi đặt gỗ 10 ngày.
A: Gỗ có nấm lây nhiễm, B: Gỗ và vỏ có lây nhiễm, C: Vỏ có lây nhiễm.
IV. KếT LUậN
Trong điều kiện in vitro, nấm
Corticium salmonicolor xâm nhiễm và
phát triển mạnh trên gỗ cây cao su,
4. IRRDB (International Rubber
Research and Development Board)
(1994). “Pink disease”, Diseases of
Hevea, 2 pages.
5. Mordue J.E.M. and Gibson I.A.S.
(1976). Corticium salmonicolor. CMI
Descriptions of Pathogenic Fungi and
Bacteria No. 511. Commonwealth
Mycological Institute, Ferry Lane,
Kew, Surrey, United Kingdom, 2
pages.
6. Sharples A. (1936). Diseases and
pests of the rubber tree. Macmillan
and Co., Limited, ST. Martin’s street,
London, pp. 271 - 277.