Đề 12 Mã số: LS.DS/TN-12/240
*
Theo lời trình bày của chị Nguyễn Thị Tuyết ngày 2/6/X: Chị xây dựng gia đình với
anh Bình năm 1985 có tìm hiểu có đăng ký kết hôn ngày 07/01/1985 tại UBND xã H, huyện
B, tỉnh Hải Dương. Sau khi cưới, vợ chồng sống bình thường, đến năm 2001 thì phát sinh
mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do kinh tế khó khăn, anh Bình không có công ăn việc
làm nên hay la cà quán xá, rượu say về đánh đập chị Tuyết và đuổi chị Tuyết ra khỏi nhà. Từ
năm 2003 đến nay, chị phải đi thuê nhà tại thị trấn M, huyện T, Hải Dương để ở và mở cửa
hàng gội đầu để kiếm tiền nuôi con. Vợ chồng chị sống ly thân đã 5 năm. Nay chị Tuyết xác
định tình cảm vợ chồng không còn nên xin được ly hôn.
Về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Nguyễn Quốc Thái sinh ngày
15/2/1986 và cháu Nguyễn Kiều Ngân sinh ngày 08/04/1990. Khi ly hôn các cháu ở với ai chị
Tuyết cũng đồng ý, nếu ở với chị thì chị không yêu cầu anh Bình cấp dưỡng nuôi con, nếu các
cháu ở với anh Bình thì chị cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 200.000 đồng.
Về tài sản chung: Vợ chồng có 01 ti vi sony, 1tủ, 1 đầu video. Sau khi kết hôn, vợ
chồng chị được cấp đất dãn dân với diện tích là 220m
2
đất tại xã H, huyện B, tỉnh Hải Dương.
Anh Bình, chị Tuyết đóng gạch xây một nhà cấp 4, bếp, công trình phụ. Diện tích đất này đã
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên anh Bình. Năm 1998 vợ chồng anh chị
đã bán cho vợ chồng anh Tính 55m
2
đất được 37.000.000đ, cả hai vợ chồng ký giấy bán, hợp
đồng chuyển nhượng không qua công chứng chứng thực, khi ly hôn chị không tranh chấp gì
với hợp đồng này. Vợ chồng không nợ nần gì ai và cũng không cho ai nợ nần gì. Ngoài ra vợ
chồng và cháu Thái, cháu Minh còn được cấp 2100m
2
đất cấy lúa tại xã H, huyện B, Hải
Dương. Nhà nước đã lấy hơn 300m
2
đất cấy lúa vào các dự án. Tiền đền bù anh Bình cầm hết,
sào theo tiêu chuẩn, còn lại Tòa giao cho tôi để tôi có điều kiện sinh sống.
Câu hỏi 3: (1,5 điểm)
Anh (chị) hãy xác định những vấn đề cần chứng minh trong vụ án này.
Tình tiết bổ sung
Theo lời trình bày của bà Mão (là mẹ đẻ anh Bình): “Anh Bình lấy chị Tuyết năm
1985, tôi xây nhà cấp 4 năm 1986, trên mảnh đất anh Bình được cấp tháng 12 năm 1985, sau
đó cho 2 vợ chồng ra đó ở riêng. Quá trình ở anh chị không có công sức gì ngoài làm giếng
khoan nhưng đã hỏng. Nếu anh chị ly hôn phải trả lại giá trị nhà cho tôi”.
Anh Tính, chị Nguyệt cũng có văn bản trình bày gửi Tòa: Năm 1997 vợ chồng tôi mua
của vợ chồng chị Tuyết, anh Bình 55m
2
đất với giá 45.000.000đ. Chúng tôi đã xây nhà ăn ở
ổn định. Nay vợ chồng chị Tuyết ly hôn đề nghị Toà bảo vệ quyền lợi cho vợ chồng tôi.
Chúng tôi xin được vắng mặt tại Toà.
Câu hỏi 4: (1,5 điểm)
Anh (chị) hãy xác định tư cách đương sự trong vụ án.
Tình tiết bổ sung
Qua xác minh tại chính quyền địa phương thì cuối năm 1985 xã có chủ trương cấp đất
dãn dân cho các hộ gia đình. Thời điểm này anh Bình mới xây dựng gia đình với chị Tuyết,
do anh Bình là thương binh nên được ưu tiên được gắp thăm nhận đất trước. Khi làm ăn thua
lỗ cả hai vợ chồng cùng thỏa thuận chuyển nhượng đất cho vợ chồng anh Tính 55m
2
. Đất cấy
lúa gia đình anh Bình có 4 nhân khẩu gồm anh Bình, chị Tuyết, cháu Thái, cháu Ngân được
cấp 2.100m
2
. Sau đó Nhà nước lấy đất làm các công trình phúc lợi, gia đình anh Bình cũng bị
thu hồi 281m
2
đất và được đền bù, tiền do anh Bình đại diện hộ gia đình nhận. Riêng 170m
ly thân 05 năm, nay C.Tuyết xin ly hôn.
Về con chung: Cháu Nguyễn Quốc Thái – SN: 15/02/1986
Cháu Nguyễn Kiều Ngân – SN: 08/04/1990
C.Tuyết không tranh chấp về vấn đề nuôi con và cấp dưỡng, nếu các con ở với anh Bình thì
C.Tuyết đồng ý cấp dưỡng 200 ngàn/tháng/người.
Về Tài sản chung:
2
- Vật dụng: 01 Tivi Sony; 01 Tủ Lạnh; 01 đầu video (Phần này C.Tuyết để anh Bình sử
dụng).
- Một mảnh đất 220 m2 tại xã H, huyện B, Tỉnh Hải Dương (đất được cấp dãn dân sau
khi kết hôn) trên đất có một căn nhà cấp 4, bếp và công trình phụ do chị tuyết đóng
gạch xây dựng. Miếng đất trên được cắt 55m2 bán cho người khác được sự đồng ý của
2 vợ chồng, dù hợp đồng mua bán không có công chứng nhưng C.Tuyết không tranh
chấp gì hợp đồng này. C.Tuyết đề nghị tòa chia phần đất này để chị làm nhà ở.
- 2100 m2 đất cấy lúa tại xã H, huyện B, Tỉnh Hải Dương (nhà nước cấp cho 2 vợ
chồng và 02 con để gieo gặt), sau đó nhà nước thu hồi 300 m2 và đã đền bù cho Gia
đình C.Tuyết (số tiến này do anh Bình giữ), nay còn khoảng hơn 1000 m2 C.Tuyết đề
nghị tòa chia phần đất này để chị và các con canh tác.
Hai vợ chồng không nợ nần gì ai.
Câu 1: Xác định tòa có thẩm quyền thụ lý, giải quyết yêu cầu của C.Tuyết ?
Căn cứ điểm a khoản 1Đ 33 và khoản 1 điều 35 BLTTDS thì tòa án có thẩm quyền thụ lý, giải
quyết yêu cầu của C.Tuyết là Tòa án Nhân dân Huyện B, Tỉnh Hải Dương.
Câu 2: Hãy giúp C.Tuyết soạn đơn ly hôn và chuẩn bị hồ sơ khởi kiện cho C.Tuyết ?
Đơn xin ly hôn:
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA ViỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
……., ngày…tháng…năm…
ĐƠN XIN LY HÔN
Kính gửi: Toà án nhân dân Huyện B, Tỉnh Hải Dương
Nguyên đơn:
3) Về tài sản chung: Một mảnh đất 220 m2 tại xã H, huyện B, Tỉnh Hải Dương (đất được
cấp dãn dân sau khi kết hôn) trên đất có một căn nhà cấp 4, bếp và công trình phụ do
tôi đóng gạch xây dựng. Miếng đất trên được cắt 55m2 bán cho người khác được sự
đồng ý của 2 vợ chồng, dù hợp đồng mua bán không có công chứng nhưng tôi không
tranh chấp gì hợp đồng này. tôi đề nghị tòa chia phần đất này để tôi làm nhà ở;2100
m2 đất cấy lúa tại xã H, huyện B, Tỉnh Hải Dương (nhà nước cấp cho 2 vợ chồng tôi
và 02 con để gieo gặt), sau đó nhà nước thu hồi 300 m2 và đã đền bù cho Gia đình tôi
(số tiến này do anh Bình giữ), nay còn khoảng hơn 1000 m2 tôi đề nghị tòa chia phần
đất này để chị và các con canh tác.
Kính đơn.
Nguyễn Thị Tuyết
Các tài liệu đính kèm:
- Giấy CMND của C.Tuyết, anh Bình;
- Giấy khai sinh của cháu Thái, cháu Ngân;
- Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn
- Giấy CNQSDĐ ở và đất cấy lúa và các giấy tờ có liên quan khác
Chuẩn bị hồ sơ khởi kiện bao gồm:
- Đơn xin ly hôn;
- Giấy CMND của C.Tuyết, anh Bình;
- Giấy khai sinh của cháu Thái, cháu Ngân;
- Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn
- Giấy CNQSDĐ ở và đất cấy lúa và các giấy tờ có liên quan khác.
Tình tiết bổ sung:
Sau khi nhận được thông báo của tòa, anh Bình có ý kiến phản hồi rằng đồng ý ly hôn vì cũng
không còn tình cảm với C.Tuyết (vì C.Tuyết nhiều lần xúc phạm anh Bình và ý bỏ nhà đi).
Anh Bình xin được nuôi 02 con và không bắt buộc C.Tuyết phải cấp dưỡng.
Mảnh đất 220 m2 là của nhà nước cấp cho thương binh năm 1985 nên là của riêng anh Bình,
vì vậy phần còn lại sau khi đã bán 55m2 là của anh Bình, còn căn nhà là của mẹ anh Bình
xây.
Phần đất ruộng sau khi nhà nước thu hồi thì anh Bình đề nghị tòa án chia cho hai con mỗi đứa
diện hộ gia đình nhận), và trong đó còn có 170 m2 đất cũng nằm trong diện giải tỏa đã có
phương án đền bù nhưng chưa nhận tiền, còn lại là 1725 m2 cho 04 nhân khẩu.
Anh Bình khẳng định đất ở cấp cho riêng anh, nhà do mẹ anh xây dựng, C.Tuyết có công
đóng gạch và cùng anh xây dựng các công trình phụ.
Câu 5: Xác định tài sản chung của vợ chồng C.Tuyết ?
Căn cứ khoản 1, khoản 3 điều 27 Luật HNGĐ thì tài sản chung của Vc C.Tuyết bao gồm:
- Phần đất ở được nhà nước cấp đất dãn dân 1985 còn lại 165 m (sau khi đã bán 55 m2).
- Phần đất ruộng nhà nước cấp cho 04 nhân khẩu trong gia đình để canh tác.
- Một phần căn nhà cấp 4 (phần hai Vc bỏ tiền ra xây dựng).
Câu 6: Xác định những vấn đề cơ bản cần tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm?
Chủ yếu xoay quanh vấn đề xác định tài sản chung hay tài sản riêng của Vc, cụ thể như sau:
- Phần đất dãn dân được cấp như thế nào, đối tượng được cấp, tiêu chuẩn…để xác định
xem nhà nước cấp cho hộ gia đình (cả hai vợ chồng) hay chỉ cấp riêng cho A.Bình ?
- Phần đất ruộng thì đã rõ là cấp cho 04 nhân khẩu của hộ, nhưng xác định xem số tiền
được nhà nước đền bù A.Bình đã sử dụng vào việc gì ?
- Phần công lao mà C.Tuyết đóng góp để xây dựng, cải tạo, sữa chữa căn nhà cấp 4,
bằng chứng chứng minh bà Mão đã xây dựng 01 gian nhà này.
Tình tiết bổ sung:
Tại phiên tòa, các bên vẫn giữ nguyên quan điểm của mình. Kết quả thẩm vấn tại phiên tòa
thể hiện đất tranh chấp thuộc loại đất dãn dân, cấp cho hộ gia đình anh Bình, C.Tuyết.
Bà Mão khẳng định đất chỉ cấp riêng cho anh Bình, chứng cứ là GCNQSDĐ chỉ đứng tên anh
Bình, về nhà thì do bà Mão xây dựng 01 gian cho vợ chồng chị Tuyết, sau nay anh Bình được
cấp tiền chính sách nên vợ chồng chị Tuyết có xây dựng thêm 01 gian nữa. Vì vậy đề nghị
chia giá trị căn nhà làm 04 phần, trong đó bà Mão 02 phần, anh Bình 01 phần và C.Tuyết 01
phần.
Câu 7. Trên cơ sở tất cả các tình tiết của vụ án, hãy viết bản luận cứ bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của C.Tuyết tại phiên tòa sơ thẩm.
5
Bài luận cứ:
Kính thưa: Hội đồng xét xử
hoàn trả cho C.Tuyết một khoản tiền xác định theo công sức đóng góp của chị…
Xin cảm ơn Hội đồng xét xử, Đại diện Viện Kiểm sát và những người tham dự phiên toàn đã
lưu tâm đến phần trình bày của tôi.
6
Đề 13: Mã số: LS.DS/TN-13/240
*
Theo lời trình bày của bà Nguyễn Thị Xuân: Bà là chủ sở hữu ngôi nhà hai tầng trên
diện tích đất 90m
2
tại thửa số 95 tờ bản đồ số 32 (bản đồ năm 1994) ở khu T, xã X, huyện Đ,
Hà Nội. Nhà và đất này hiện do vợ chồng con trai bà là anh Đoàn và chị Huyền quản lý sử
dụng. Nguồn gốc đất do bố mẹ bà để lại, còn nhà do bà bỏ tiền ra xây dựng. Diện tích đất này,
năm 1987 bà Xuân đã được đứng tên trong sổ địa chính xã. Bà Xuân xuất trình trích lục bản
đồ thửa đất năm 1987 đứng tên chủ sử dụng đất bà Nguyễn Thị Xuân, diện tích đất 273m
2
loại
đất thổ cư. Sau đó bà Xuân đã bán đi 183 m
2
đất, nay còn 90m
2
. Năm 2004 bà Xuân đã làm
đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được UBND huyện Đ, Hà nội cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích đất là 90m
2
đất tại khu T, xã X, huyện Đ, Hà nội.
Tháng 12/2004 con gái của bà là chị Ngọc sinh con ở Hải Dương, bà xuống thành phố
Hải Dương ở với vợ chồng con gái để tiện chăm sóc cháu ngoại. Vì vậy, bà đã viết giấy giao
cho vợ chồng con trai bà là anh Đoàn và chị Huyền ở trên mảnh đất này để trông nom nhà cửa
khi bà đi vắng. Tháng 3/X bà về quê, thấy nhà bà đã bị vợ chồng anh Đoàn tự ý sửa chữa kết
cấu nhà, xây tường bao quanh nhà mà không hề hỏi ý kiến bà và bà không biết gì. Vợ chồng
xây dựng và cải tạo lại nhà, bà Xuân thỉnh thoảng vẫn về quê, bà biết mà không có ý kiến gì.
Vợ chồng anh chị cũng đã làm thủ tục gửi UBND xã X, huyện Đ, Hà nội xin chuyển quyền sử
dụng đất nhưng chưa hoàn tất. Anh Đoàn, chị Huyền đề nghị Toà án xử bác yêu cầu của
nguyên đơn.
Câu hỏi 5: (1 điểm)
Yêu cầu của anh Đoàn, chị Huyền có phải là yêu cầu phản tố không?
Tình tiết bổ sung
Chứng cứ do bị đơn xuất trình gồm có:
- Bản “Di chúc thư” ngày 05/05/2001 của bà Xuân;
7
- Biên bản họp gia đình ngày 05/05/2001 và “Giấy giao quyền sử dụng đất, sở hữu nhà
ở” cùng lập ngày 05/05/2001 với nội dung “bà Xuân giao quyền sử dụng đất, sở hữu nhà và
đất ở cho vợ chồng con trai cả là anh Đoàn”.
Tất cả các chứng cứ này đều được viết bằng tay, có chữ ký của bà Xuân, anh Đoàn và
chị Ngọc. Di chúc thư và giấy giao quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở đều không qua Cơ quan
nhà nước có thẩm quyền công chứng hoặc chứng thực. Nội dung giấy thể hiện bà Xuân giao
cho con trai quyền sử dụng đất và nhà ở tại khu T, xã X, huyện Đ, Hà Nội.
Các giấy tờ trên do anh Đoàn xuất trình, bà Xuân đều thừa nhận chữ ký của mình,
nhưng do bà ký trong lúc bị ốm, tinh thần không minh mẫn không nhận thức được, toàn bộ
nội dung viết như thế nào là do anh Đoàn viết bà cũng không nghe đọc lại. Bà đề nghị Tòa án
hủy Bản “Di chúc” ngày 5/5/2001 của bà và đề nghị Tòa án tuyên bố “Giấy giao quyền sử
dụng đất, sở hữu nhà ở” được lập cùng ngày 05/05/2001 là vô hiệu.
Có ý kiến cho rằng, Tòa án sẽ ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án này (căn cứ theo
quy định tại khoản 2 Điều 192 BLTTDS) vì yêu cầu Tòa án tuyên bố “Giấy giao quyền sử
dụng đất, sở hữu nhà ở” đã hết thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu,
căn cứ theo quy định tại Điều 143 và khoản 1 Điều 145 BLDS 1995.
Câu hỏi 6: (1 điểm)
Ý kiến của anh (chị) về vấn đề này như thế nào?
Câu hỏi 7: (1,5 điểm)
Xác định trọng tâm vấn đề cần chứng minh trong vụ án
lại nội dung vụ việc.
- Hỏi bà Xuân về những tài liệu, giấy tờ chứng minh làm cơ sở cho những lời trình bày
của bà.
8
- Xác định lại yêu cầu cụ thể của bà Xuân khi khởi kiện (có thể kết hợp với tư vấn nếu
cần thiết).
- Tìm hiểu mong đợi, yêu cầu của bà Xuân đối với chúng ta, đồng thời xác nhận phạm
vi dịch vụ mà chúng ta cung cấp, cũng như thỏa thuận với bà Xuân về cách làm việc
sắp tới cũng như dự đoán các khả năng có thể xảy ra.
Câu 2: Giúp bà Xuân lựa chọn Quan hệ pháp luật để khởi kiện ra tòa có thẩm quyền?
Căn cứ vào nội dung vụ việc thì đây là Quan hệ pháp luật về tranh chấp quyền sử dụng đất và
tài sản gắn liền với đất.
Tình tiết bổ sung:
Bà Xuân đề nghị Luật sư khởi kiện với các yêu cầu cụ thể sau:
- Yêu cầu tòa xác định nhà, đất nói trên thuộc quyền sở hữu của bà.
- Buộc Vc anh Đoàn trả lại phần nhà, đất nói trên và bà Xuân sẽ trả lại chi phí và công
sức cải tạo nhà của Vc anh Đoàn và tự nguyện tạo điều kiện về chỗ ở cho Vc anh
Đoàn là 80 triệu đồng.
Câu 3: Hãy giúp bà Xuân soạn thảo đơn khởi kiện?
Đơn khởi kiện:
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA ViỆT NAM
__Độc lập – Tự do – Hạnh phúc__
Tp.Hà Nội, ngày 02 tháng 04 năm 2007
ĐƠN KHỞI KIỆN
(V/v tranh chấp quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà)
Kính gửi: Toà án nhân dân Đ, Tp.Hà Nội
Nguyên đơn:
- Họ và tên: ….Xuân, Ngày sinh…, CMND…;
Địa chỉ….
Bị đơn:
khi về Hải Dương nuôi con gái.
Tình tiết bổ sung:
Sau khi thụ lý, tòa gửi thông báo cho đương sự. Ngày 20/06/2007 Vc anh Đoàn có văn bản
gửi tòa với nội dung không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn. Vc anh Đoàn đồng ý về
nguồn gốc nhà đất, nhưng Vc anh Đoàn xuất trình cho tòa biên bản họp gia đình năm 2001 và
giấy giao quyền sử dụng, sở hữu đất ở năm 2004 cho Vc anh Đoàn có nội dung: bà Xuân cho
Vc anh Đoàn phần nhà, đất nói trên. Trong thời gian ở trên mảnh đất này Vc anh Đoàn đã xây
dựng cải tạo, việc này bà Xuân biết nhưng không có ý kiến gì vì bà thỉnh thoảng có về thăm
nhà. Hiện Vc anh Đoàn cũng đang làm thủ tục xin chuyển quyền sử dụng đất nhưng chưa
hoàn tất. Vc anh Đoàn đề nghị tòa bác yêu cầu của nguyên đơn.
Câu 5: Yêu cầu của Vc anh Đoàn có phải là yêu cầu phản tố không ?
Yêu cầu của Vc anh Đoàn không phải là yêu cầu phản tố, mà đây chỉ là văn bản thể ý kiến
phản hồi của anh Đoàn đối với vụ án và nó cũng không đảm bảo theo quy định của pháp luật
về nội dung cũng như thủ tục tại các điều 176 và 178 BLTTDS.
Tình tiết bổ sung:
Các chứng cứ do bi đơn cung cấp gồm:
- Bản “di chúc thư của bà Xuân” ngày 05/05/2001
- Biên bản họp gia đình ngày 05/05/2001 và giấy giao quyền sử dụng, sở hữu đất cho
Vc anh Đoàn ngày 05/05/2001
Tất cả các giấy tờ này đều được viết tay và có chữ ký của của bà Xuân, chị Ngọc, anh Đoàn,
nhưng không có công chứng, chứng thực. Nội dung các giấy tờ này thể hiện bà Xuân cho anh
Đoàn quyền sử dụng đất và nhà tại khu T xã X, huyện Đ, Hà Nội.
Các chứng cứ này đều do anh đoàn cung cấp, bà xuân thừa nhận chữ ký của mình trên các
giấy tờ trên nhưng bà cho rằng các giấy này do anh Đoàn viết sẵn, bà không biết nội dung và
bà ký trong lúc bị ốm, tinh thần không minh mẫn. Bà đề nghị tòa hủy bản Bản “di chúc thư
của bà” ngày 05/05/2001 và tuyên giấy giao quyền sử dụng, sở hữu đất cho Vc anh Đoàn
ngày 05/05/2001 vô hiệu.
Có ý kiến cho rằng tòa sẽ tuyên bố đình chỉ vụ án này vì cho rằng “yêu cầu tòa án tuyên giấy
giao quyền sử dụng, sở hữu đất ở” đã hết thời hiệu yêu cầu tòa tuyên bố giao dịch dân sự vô
hiệu căn cứ theo đ143, k1đ145 BLDS 1995.
Tòa án nhân dân huyện M đã xét xử sơ thẩm vụ án xin ly hôn giữa chị Nga với anh
Hạnh. Các đương sự không đồng ý với kết quả của bản án sơ thẩm và kháng cáo lên cấp phúc
thẩm. Tại bản án số 115/HNGĐ- PT ngày 27 tháng 10 năm 2005 của Toà án nhân dân tỉnh V
đã quyết định :
1/ Xử cho chị Nguyễn Thu Nga được ly hôn anh Chu Văn Hạnh.
2/ Về con: Giao chị Nga trực tiếp nuôi dưỡng con là Chu Xuân Quý. Anh Hạnh trực
tiếp nuôi dưỡng con là Chu Thuý Hằng. Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con cho bên
nào.
3/ Về phần tài sản chung: Các bên đương sự không có yêu cầu giải quyết nên không
xem xét.
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, chị Nga và anh Hạnh thỏa thuận phân chia tài
sản chung nhưng không thành. Vì vậy, ngày 8/5/X chị Nga muốn làm đơn khởi kiện ra Tòa đề
nghị xác định toàn bộ nhà đất hiện anh Hạnh đang quản lý gồm 01 nhà cấp 4 trên diện tích đất
201m
2
tọa lạc tại thị trấn T, huyện M, tỉnh V là tài sản chung của vợ chồng anh chị và chia
theo quy định của pháp luật.
Có ý kiến cho rằng chị Nga không được quyền khởi kiện nữa vì quan hệ hôn nhân của
chị và anh Hạnh đã chấm dứt. Yêu cầu của chị Nga đã được giải quyết bằng một bản án có
hiệu lực pháp luật.
Câu hỏi 1: (1 điểm)
Anh (chị) có đồng ý với ý kiến này không?
Tình tiết bổ sung
Theo lời trình bày của chị Nga: Năm 1988 khi anh chị chuẩn bị kết hôn, anh chị đã xin
nhà máy X (nơi anh chị cùng công tác) cấp đất. Sau đó nhà máy X đã cấp cho anh chị diện
tích đất 201m
2
tại số 2, Tổ 10, thị trấn T, huyện M, tỉnh V. Sau khi kết hôn anh chị đã xây
dựng nhà cấp 4 và ở trên đất này. Năm 2001 anh Hạnh đã bán cho anh Cương diện tích 71m
2
Câu hỏi 4: (1,5 điểm)
Anh (chị) hãy giúp chị Nga soạn thảo đơn khởi kiện và chuẩn bị hồ sơ khởi kiện cho
nguyên đơn.
Câu hỏi 5 (1 điểm)
Anh (chị) hãy xác định tư cách đương sự trong vụ án?
Tình tiết bổ sung
Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, theo lời trình bày của anh Hạnh, anh không đồng ý chia
nhà, đất theo yêu cầu của chị Nga vì anh cho rằng đây là khối tài sản riêng của anh. Diện tích
đất 201m
2
này Nhà nước cấp cho riêng anh, anh không đồng ý chia. Anh Hạnh khẳng định
đây là tài sản riêng của anh nên anh có quyền bán cho anh Cương mà không cần sự tham gia
của chị Nga. Vì vậy anh đề nghị vẫn giữ nguyên giao dịch với anh Cương.
Theo lời trình bày của anh Cương, tháng 5/2001 anh có mua của anh Hạnh diện tích
đất 71m
2
tại tổ 10, thị trấn T, huyện M, tỉnh V. Việc mua bán không qua cơ quan có thẩm
quyền công chứng, chứng thực. Khi lập giao dịch chuyển nhượng với anh Hạnh, chị Nga có
biết nhưng vì mâu thuẫn vợ chồng nên chị Nga đã không ký vào giấy tờ mua bán, mặc dù khi
trả tiền có cả chị Nga nhận cùng anh Hạnh. Tổng số tiền theo thỏa thuận anh đã trả đầy đủ cho
anh Hạnh là: 238.057.000 đồng. Nay, anh Cương đề nghị Tòa giữ nguyên hợp đồng chuyển
nhượng giữa anh với anh Hạnh vì theo anh, tài sản anh Hạnh chuyển nhượng cho anh là tài
sản riêng của anh Hạnh chứ không phải là tài sản chung của anh Hạnh, chị Nga. Sau khi mua
nhà đất của anh Hạnh, anh đã cải tạo sửa chữa thêm cụ thể: Lát nền, làm trần, sân nhưng anh
không yêu cầu xem xét phần sửa chữa cải tạo thêm này.
Có ý kiến cho rằng Tòa án cần tách yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất giữa anh Hạnh và anh Cương giải quyết trong một vụ án khác.
Câu hỏi 6: (1 điểm)
Anh (chị) có đồng ý với ý kiến này không?
Câu hỏi 7: (1,5 điểm)
sống hai người có 02 con là cháu Quý (1990) và cháu Hằng (sinh năm 1997). Do có mâu
thuẫn nên bất đồng quan điểm, đời sống ngày càng gay gắt. Tháng 04/2005 C.Nga làm dơn
khởi kiện ra tòa án nhân dân Huyện M, tỉnh V (nơi gia đình anh chị cư trú) yêu cầu xin ly
hôn.
Tòa án M xét xử vụ án ly hôn giữa C.Nga và A.Hạnh. Các đương sự không đồng ý với bản án
sơ thẩm nên kháng cáo lên phúc thẩm. Tại bản án 115/HNGĐ-PT ngày 27/10/2005 của tòa án
tỉnh V quyết định:
1/ Xử cho C.Nga được ly hôn với A.Hạnh
2/ Giao C.Nga trực tiếp nuôi dưỡng cháu Quý và anh Hạnh trực tiếp nôi dưỡng cháu Hằng.
Không bên nào phải cấp dưỡng cho bên nào.
3/ Tài sản chung: các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, C.Nga & A.Hạnh thỏa thuận phân chia tài sản chung
nhưng không thành, vì vậy ngày 08/5/2007 C.Nga muốn làm đơn khởi kiện ra tòa án đề nghị
xác định toàn bộ nhà đất hiện A.Hạnh đang quản lý gồm: một nhà cấp 4 trên diện tích 201 m2
tọa lạc tại Thị trấn T Huyện M, tỉnh V là tài sản chung của Vc anh chị và chia theo pháp luật.
Có ý kiến cho rằng C.Nga không được khởi kiện nữa vì quan hệ hôn nhân đã chấm dứt. Yêu
cầu của C.Nga đã được giải quyết bằng một bản án có hiệu lực pháp luật.
Câu 1: Các bạn có đồng ý với ý kiến này hay không?
Tôi không đồng ý với ý kiến này, bởi vì mặc dù quan hệ hôn nhân của C.Nga và anh Hạnh đã
chấm dứt nhưng quan hệ sở hữu tài sản chung vẫn còn. Hơn nữa trong vụ án ly hôn thì C.Nga
và anh Hạnh không yêu cầu xem xét về phân chia tài sản nên tòa án không xem xét vì vậy
không thể nói yêu cầu của này đã được giải quyết bằng một bản án có hiệu lực pháp luật vì
vậy C.Nga hoàn toàn có thể khởi kiện yêu cầu tòa án xem xét giải quyết (đây là một vụ án
khác).
Tình tiết bổ sung:
C.Nga trình bày, năm 1988 khi anh chị kết hôn, anh chị đã xin nhà máy X (nơi anh chị cùng
công tác) cấp đất. Sau đó nhà máy X đã cấp 201 m2 đất tại số 2, tổ 10, thị trấn T Huyện M,
tỉnh V. Sau khi kết hôn anh chị đã xây căn nhà cấp 4 và ở trên mảnh đất này. Năm 2001 anh
Hạnh tự ý bán cho anh Cương mảnh 71 m2 (C.Nga không biết và không tham gia).
Sau khi ly hôn chị và cháu quý về sống với ông bà ngoại ở Phố Liễu Giai, Ba Đình, Hà Nội.
kiện cho nguyên đơn.
Đơn khởi kiện:
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA ViỆT NAM
__Độc lập – Tự do – Hạnh phúc__
Tp.Hà Nội, ngày tháng năm …
ĐƠN KHỞI KIỆN
(V/v tranh chấp quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà)
Kính gửi: Toà án nhân dân Đ, Tp.Hà Nội
Nguyên đơn:
- Họ và tên: Nguyễn Thu Nga, Ngày sinh…, CMND…;
Địa chỉ….
Bị đơn:
- Họ và tên: Chu Văn Hạnh
- Địa chỉ……… ;
Nội dung vụ việc như sau:
Tôi và A.Hạnh kết hôn kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn, trong thời gian sống chung
chúng tôi có nhiều mâu thuẫn vì vậy chúng tôi đã xin ly hôn và được tòa án giải quyết cho ly
hôn bằng bản án 115/HNGĐ-PT ngày 27/10/2005 của tòa án tỉnh V (trong quá trìn giải quyết
việc ly hôn chúng tôi không yêu cầu tòa án xem xét việc phân chia tài sản). Năm 1988 khi
chúng tôi kết hôn, chúng tôi đã xin nhà máy X (nơi chúng tôi cùng công tác) cấp đất. Sau đó
nhà máy X đã cấp 201 m2 đất tại số 2, tổ 10, thị trấn T Huyện M, tỉnh V. Sau khi kết hôn
chúng tôi đã xây căn nhà cấp 4 và ở trên mảnh đất này. Năm 2001 anh Hạnh tự ý bán cho anh
Cương mảnh 71 m2 (C.Ntoi hoàn toàn không biết và không tham gia).
Sau khi ly hôn tôi và cháu quý về sống với ông bà ngoại ở Phố Liễu Giai, Ba Đình, Hà Nội.
Mảnh đất thuộc tài sản chung của vợ chồng tôi, anh Hạnh vẫn đang ở.
14
Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, tôi kính đề nghị Toà án nhân dân
Xem xét giải quyết tranh chấp trên theo những yêu cầu cụ thể sau:
1) Yều cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh Hạnh với anh
Cường
Vì vậy anh vẫn đề nghị giữ nguyên giao dịch với anh Cương.
Theo lời trình bày của anh Cương, tháng 5/2001 anh có mua anh Hạnh diện tích đất 71 m2 tại
tổ 10, thị trấn T, huyện M, tỉnh V. Việc mua bán không qua cơ quan thẩm quyền công chứng,
chứng thực. Khi lập giao dịch chuyển nhượng với anh Hạnh, chị Nga có biết nhưng vì mâu
thuẫn vợ chồng nên chị Nga đã không ký vào tờ giấy mua bán, mặc dù khi trả tiền có chị Nga
nhận cùng anh Hạnh. Tổng số tiền trả đầy đủ cho anh Hạnh là: 238.057.000 đồng. Nay, anh
Cương đề nghị tòa giữ nguyên hợp đồng chuyển nhượng giữa anh và anh Hạnh vì theo anh,
tài sản anh Hạnh chuyển nhượng cho anh là tài sản riêng của anh Hạnh chứ không phải là tài
sản chung anh Hạnh, chị Nga. Sau khi mua nhà đất của anh Hạnh, anh đã cải tạo sữa chữa
thêm, cụ thể: lát nền, làm trần, sân nhưng anh không xem xét phần sửa chữa cải tạo thêm này.
Có ý kiến cho rằng Tòa án tách yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa
anh Hạnh và anh Cương giải quyết trong một vụ án khác.
Câu hỏi 6: Anh (chị) có đồng ý với ý kiến này không?
Tôi không đồng ý với ý kiến này, bởi vì việc nhập hoặc tách vụ án nhằm mục đích để việc
giải quyết được nhanh chóng, chình xác, dễ dàng hơn.tuy nhiên trong trường hợp này nếu
15
không xác định được giao dịch giữa A. Hạnh và A.Cương có hiệu lực hay không thì không
thể không xác định được giá trị khối tài sản và cũng không thể chia tài sản chung cho Vc
C.Nga…vì vậy việc giải quyết 02 yêu cầu này trong cùng một vụ án là liên hệ mật thiết với
nhau và hỗ trợ cho nhau.
Câu hỏi 7: Xác định vấn đề trọng tâm cần chứng minh trong vụ án này ?
- Nguồn gốc nhà đất nói trên ?
- Nhà đất nói trên là tài sản chung hay tài sản riêng ?
- Việc mua bán giữa A.Hạnh và A.Cương C.Nga có biết và phản ứng thái độ ?
Tình tiết bổ sung
Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử, tại phiên tòa các bên vẫn giữ nguyên yêu cầu và quan
điểm của mình. Anh Hạnh không xác định được chứng cứ chứng minh đất cấp cho cá nhân
anh. Tuy nhiên, anh Hạnh vẫn cho rằng nhà máy X không phải là cơ quan có thẩm quyền giao
đất cho cá nhân, tổ chức sử dụng vì vậy đất này không phải là tài sản chung hai vợ chồng.
Chị Nga xuất trình chứng cứ là văn bản xác nhận địa chính tỉnh T, xác nhận nguồn gốc đất là