đề thi luật dân sự Đề 12 Mã số: LS.DS/TN-12/240 - Pdf 11

Đề 12 Mã số: LS.DS/TN-12/240
*
Theo lời trình bày của chị Nguyễn Thị Tuyết ngày 2/6/X: Chị xây dựng gia đình với anh Bình năm 1985 có
tìm hiểu có đăng ký kết hôn ngày 07/01/1985 tại UBND xã H, huyện B, tỉnh Hải Dương. Sau khi cưới, vợ chồng sống
bình thường, đến năm 2001 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do kinh tế khó khăn, anh Bình không có
công ăn việc làm nên hay la cà quán xá, rượu say về đánh đập chị Tuyết và đuổi chị Tuyết ra khỏi nhà. Từ năm 2003
đến nay, chị phải đi thuê nhà tại thị trấn M, huyện T, Hải Dương để ở và mở cửa hàng gội đầu để kiếm tiền nuôi con.
Vợ chồng chị sống ly thân đã 5 năm. Nay chị Tuyết xác định tình cảm vợ chồng không còn nên xin được ly hôn.
Về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Nguyễn Quốc Thái sinh ngày 15/2/1986 và cháu Nguyễn Kiều
Ngân sinh ngày 08/04/1990. Khi ly hôn các cháu ở với ai chị Tuyết cũng đồng ý, nếu ở với chị thì chị không yêu cầu
anh Bình cấp dưỡng nuôi con, nếu các cháu ở với anh Bình thì chị cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 200.000 đồng.
Về tài sản chung: Vợ chồng có 01 ti vi sony, 1tủ, 1 đầu video. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị được cấp đất dãn
dân với diện tích là 220m
2
đất tại xã H, huyện B, tỉnh Hải Dương. Anh Bình, chị Tuyết đóng gạch xây một nhà cấp 4,
bếp, công trình phụ. Diện tích đất này đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên anh Bình. Năm 1998
vợ chồng anh chị đã bán cho vợ chồng anh Tính 55m
2
đất được 37.000.000đ, cả hai vợ chồng ký giấy bán, hợp đồng
chuyển nhượng không qua công chứng chứng thực, khi ly hôn chị không tranh chấp gì với hợp đồng này. Vợ chồng
không nợ nần gì ai và cũng không cho ai nợ nần gì. Ngoài ra vợ chồng và cháu Thái, cháu Minh còn được cấp 2100m
2
đất cấy lúa tại xã H, huyện B, Hải Dương. Nhà nước đã lấy hơn 300m
2
đất cấy lúa vào các dự án. Tiền đền bù anh
Bình cầm hết, nay còn hơn 1000m
2
đất cấy lúa. Chị Tuyết đề nghị Toà chia cho chị để chị có ruộng cấy lúa. Khi ly
hôn các đồ dùng sinh hoạt đã cũ nên chị Tuyết để anh Bình sử dụng. Chị Tuyết chỉ đề nghị Toà chia phần đất để chị
làm nhà ở và chia đất để chị cùng các con cấy lúa.
Câu hỏi 1: (1 điểm)Anh (chị) hãy xác định Tòa án có thẩm quyền thụ lý giải quyết yêu cầu của chị Tuyết.

Câu hỏi 4: (1,5 điểm)
Anh (chị) hãy xác định tư cách đương sự trong vụ án.
Tình tiết bổ sung
Qua xác minh tại chính quyền địa phương thì cuối năm 1985 xã có chủ trương cấp đất dãn dân cho các hộ gia
đình. Thời điểm này anh Bình mới xây dựng gia đình với chị Tuyết, do anh Bình là thương binh nên được ưu tiên
được gắp thăm nhận đất trước. Khi làm ăn thua lỗ cả hai vợ chồng cùng thỏa thuận chuyển nhượng đất cho vợ chồng
anh Tính 55m
2
. Đất cấy lúa gia đình anh Bình có 4 nhân khẩu gồm anh Bình, chị Tuyết, cháu Thái, cháu Ngân được
cấp 2.100m
2
. Sau đó Nhà nước lấy đất làm các công trình phúc lợi, gia đình anh Bình cũng bị thu hồi 281m
2
đất và
được đền bù, tiền do anh Bình đại diện hộ gia đình nhận. Riêng 170m
2
đất cũng nằm trong diện giải toả và đã có
phương án đền bù nhưng chưa nhận tiền, do vậy vẫn còn 1.725m
2
là tiêu chuẩn của 4 nhân khẩu.
Anh Bình khẳng định đất ở cấp cho riêng anh, nhà do mẹ anh bỏ tiền ra xây, về ngôi nhà cấp 4 chị Tuyết có
công đóng gạch để xây nhà, và từ khi hai vợ chồng ra ở riêng có làm các công trình phụ như xây bếp, láng sân.
Câu hỏi 5: (1,5 điểm)
Anh (chị) hãy xác định tài sản chung của vợ chồng chị Tuyết.
Câu hỏi 6: (1 điểm)
Xác định những vấn đề cơ bản cần tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm
Tình tiết bổ sung
Tại phiên tòa, các bên vẫn giữ nguyên yêu cầu và quan điểm của mình. Kết quả thẩm vấn tại phiên tòa thể hiện
đất tranh chấp thuộc loại đất dãn dân, cấp cho hộ gia đình anh Bình, chị Tuyết.
Bà Mão khẳng định đất chỉ cấp riêng cho anh Bình, chứng cứ là giấy tờ đất chỉ đứng tên anh Bình. Về nhà ở,

Đơn xin ly hôn: CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA ViỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
……., ngày…tháng…năm…
ĐƠN XIN LY HÔN
Kính gửi: Toà án nhân dân Huyện B, Tỉnh Hải Dương
Nguyên đơn:
- Họ và tên: Nguyễn Thị Tuyết , Ngày sinh…, CMND…;
Địa chỉ: UNND xã H, huyện B, Tỉnh Hải Dương
Bị đơn: Họ và tên:….Bình, Địa chỉ: UNND xã H, huyện B, Tỉnh Hải Dương, CMND:…….
Trình bày nội dung: Tôi kết hôn với anh Bình năm 1995 (có đăng ký kết hôn ngày 07/01/1985 tại UNND xã H,
huyện B, Tỉnh Hải Dương). Vợ chồng tôi sống hòa thuận đến năm 2001 thì phát sinh mâu thuẫn.Kinh tế gia đình khó
khăn, anh Bình không có việc làm lại hay la cà quán xá nhậu nhẹt, say rượu đánh đập và đưổi tôi ra khỏi nhà. Từ năm
2003 đến nay tôi đi thuê nhà ở Thị trấn M huyện B, Tỉnh Hải Dương để mở tiệm gội đầu. Tính đến nay Vợ chồng tôi
đã ly thân 05 năm, xét thấy tình cảm vợ chồng không thể cứu vãn, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích
hôn nhân không đạt được, nay tôi làm đơn này đề nghị tòa án xem xét cho chúng tôi được ly hôn. Chúng tôi có 02 con
chung là háu Nguyễn Quốc Thái – SN: 15/02/1986 và cháu Nguyễn Kiều Ngân – SN: 08/04/1990.
Về Tài sản chung, chúng tôi có:
2
- Vật dụng: 01 Tivi Sony; 01 Tủ Lạnh; 01 đầu video (Phần này C.Tuyết để anh Bình sử dụng).
- Một mảnh đất 220 m2 tại xã H, huyện B, Tỉnh Hải Dương (đất được cấp dãn dân sau khi kết hôn) trên đất có
một căn nhà cấp 4, bếp và công trình phụ do tôi đóng gạch xây dựng. Miếng đất trên được cắt 55m2 bán cho
người khác được sự đồng ý của 2 vợ chồng.
- 2100 m2 đất cấy lúa tại xã H, huyện B, Tỉnh Hải Dương (nhà nước cấp cho 2 vợ chồng tôi và 02 con để gieo
gặt), sau đó nhà nước thu hồi 300 m2 và đã đền bù cho Gia đình tôi (số tiến này do anh Bình giữ).
Hai vợ chồng không nợ nần gì ai.
Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, tôi kính đề nghị TAND Xem xét giải quyết giúp tôi những y/c cụ thể
1) Cho phép chúng tôi được ly hôn
2) Về con chung: tôi không tranh chấp về vấn đề nuôi con và cấp dưỡng, nếu các con ở với anh Bình thì tôi đồng
ý cấp dưỡng 200 ngàn/tháng/cháu.
3) Về tài sản chung: Một mảnh đất 220 m2 tại xã H, huyện B, Tỉnh Hải Dương (đất được cấp dãn dân sau khi kết

1. Mảnh đất ở 220 m2 là tài sản riêng của A.Bình hay tài sản chung của Vc (C.Tuyết & A.Bình) ?
2. Những ai là người xây dựng căn nhà cấp 4 trên mảnh đất nói trên ?
3. Số tiền nhà nước đền bù phần đất ruộng A.Bình đã sử dụng vào mục đích gì ?
Tình tiết bổ sung:
Mẹ anh Bình là bà Mão trình bày: bà xây nhà cấp 04 năm 1986 trên mảnh đất anh Bình được cấp, sau đó cho 2 vợ
chồng anh Bình ra đó ở riêng. Vì vậy khi ly hôn, vợ chồng anh Bình phải trả lại giá trị căn nhà cho bà.
Anh Tính, C.Nguyệt (người mua 55m2 của vợ chồng anh Bình) có văn bản gửi tòa yêu cầu tòa bảo vệ quyền lợi cho
mình khi vợ chồng anh Bình ly hôn (hai đương sự này xin được vắng mặt tại tòa).
Câu 4: Xác định tư cách đương sự trong vụ án ?
- Căn cứ khoản 2 điều 56 BLTTDS và tình tiết của vụ án thì Nguyên Đơn trong vụ án này là C.Tuyết (vì
C.Tuyết là người đã làm đơn yêu cầu tòa án giải quyết…)
- Căn cứ khoản 3 điều 56 BLTTDS và tình tiết của vụ án thì Bị đơn trong vụ án này là A.Bình (vì anh Bình là
người mà C.Tuyết yêu cầu tòa án xem xét cho ly hôn với mình và giải quyết các vấn đề về con chung và tài
sản…)
- Căn cứ khoản 4 điều 56 BLTTDS và tình tiết của vụ án thì người có quyền và nghĩa vụ liên quan đến vụ án
này là Bà Mão và Vc A.Tính & C.Nguyệt (vì việc giải quyết vụ án này liên quan đến quyền và lợi ích của họ).
3
Tình tiết bổ sung:Qua xác minh tại chính quyền địa phương thì: cuối năm 1985 xã có chủ trương cấp đất dãn dân cho
dân, do anh Bình là thương binh nên được ưu tiên cấp trước. Hai vợ chồng cùng chuyển nhượng 55 m2 cho anh Tính.
Đất cấy lúa được cấp cho 04 nhân khẩu của gia đình anh Bình, sau đó nhà nước thu hồi 281 m2 và đã thực hiện đền bù
(tiền đền bù do anh bình đại diện hộ gia đình nhận), và trong đó còn có 170 m2 đất cũng nằm trong diện giải tỏa đã có
phương án đền bù nhưng chưa nhận tiền, còn lại là 1725 m2 cho 04 nhân khẩu.
Anh Bình khẳng định đất ở cấp cho riêng anh, nhà do mẹ anh xây dựng, C.Tuyết có công đóng gạch và cùng anh xây
dựng các công trình phụ.
Câu 5: Xác định tài sản chung của vợ chồng C.Tuyết ?
Căn cứ khoản 1, khoản 3 điều 27 Luật HNGĐ thì tài sản chung của Vc C.Tuyết bao gồm:
- Phần đất ở được nhà nước cấp đất dãn dân 1985 còn lại 165 m (sau khi đã bán 55 m2).
- Phần đất ruộng nhà nước cấp cho 04 nhân khẩu trong gia đình để canh tác.
- Một phần căn nhà cấp 4 (phần hai Vc bỏ tiền ra xây dựng).
Câu 6: Xác định những vấn đề cơ bản cần tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm ?

cấp dưỡng, nếu các con ở với A.Bình thì thân chủ tôi đồng ý cấp dưỡng 200 ngàn/tháng/cháu.
Thứ ba, về phần chia tài thì căn cứ vào các quy định của pháp luật, căn cứ vào xác minh trên thực tế và các giấy tờ
hiện hữu thì tôi xin xác định tài sản chung của Vc C.Tuyết bao gồm:
- Phần đất ở được nhà nước cấp đất dãn dân 1985 còn lại 165 m (sau khi đã bán 55 m2).
- Phần đất ruộng nhà nước cấp cho 04 nhân khẩu trong gia đình để canh tác.
- Một phần căn nhà cấp 4 (phần hai Vc bỏ tiền ra xây dựng).
Trên cơ sở những phân tích nêu trên, để có một bản án thấu tình đạt lý, vì vậy sau khi ly hôn thì tôi xin đề nghị HĐXX
tuyên chia đôi hai phần đất nói trên để C.Tuyết có điều kiện làm nhà ở và canh tác, ổn định cuộc sống…và nếu A.Bình
4
lấy phần đất có căn nhà cấp 4 thì phải hoàn trả cho C.Tuyết một khoản tiền xác định theo công sức đóng góp của
chị…
Đề 13: Mã số: LS.DS/TN-13/240
*
Theo lời trình bày của bà Nguyễn Thị Xuân: Bà là chủ sở hữu ngôi nhà hai tầng trên diện tích đất 90m
2
tại
thửa số 95 tờ bản đồ số 32 (bản đồ năm 1994) ở khu T, xã X, huyện Đ, Hà Nội. Nhà và đất này hiện do vợ chồng con
trai bà là anh Đoàn và chị Huyền quản lý sử dụng. Nguồn gốc đất do bố mẹ bà để lại, còn nhà do bà bỏ tiền ra xây
dựng. Diện tích đất này, năm 1987 bà Xuân đã được đứng tên trong sổ địa chính xã. Bà Xuân xuất trình trích lục bản
đồ thửa đất năm 1987 đứng tên chủ sử dụng đất bà Nguyễn Thị Xuân, diện tích đất 273m
2
loại đất thổ cư. Sau đó bà
Xuân đã bán đi 183 m
2
đất, nay còn 90m
2
. Năm 2004 bà Xuân đã làm đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
và được UBND huyện Đ, Hà nội cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích đất là 90m
2
đất tại khu T, xã X,

Đoàn, chị Hiền nhà đất nói trên. Quá trình ở trên mảnh đất này, vợ chồng anh chị đã xây dựng và cải tạo lại nhà, bà
Xuân thỉnh thoảng vẫn về quê, bà biết mà không có ý kiến gì. Vợ chồng anh chị cũng đã làm thủ tục gửi UBND xã X,
huyện Đ, Hà nội xin chuyển quyền sử dụng đất nhưng chưa hoàn tất. Anh Đoàn, chị Huyền đề nghị Toà án xử bác yêu
cầu của nguyên đơn.
Câu hỏi 5: (1 điểm)Yêu cầu của anh Đoàn, chị Huyền có phải là yêu cầu phản tố không?
Tình tiết bổ sung
Chứng cứ do bị đơn xuất trình gồm có:
- Bản “Di chúc thư” ngày 05/05/2001 của bà Xuân;
- Biên bản họp gia đình ngày 05/05/2001 và “Giấy giao quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở” cùng lập ngày
05/05/2001 với nội dung “bà Xuân giao quyền sử dụng đất, sở hữu nhà và đất ở cho vợ chồng con trai cả là anh
Đoàn”.
Tất cả các chứng cứ này đều được viết bằng tay, có chữ ký của bà Xuân, anh Đoàn và chị Ngọc. Di chúc thư
và giấy giao quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở đều không qua Cơ quan nhà nước có thẩm quyền công chứng hoặc
chứng thực. Nội dung giấy thể hiện bà Xuân giao cho con trai quyền sử dụng đất và nhà ở tại khu T, xã X, huyện Đ,
Hà Nội.
Các giấy tờ trên do anh Đoàn xuất trình, bà Xuân đều thừa nhận chữ ký của mình, nhưng do bà ký trong lúc
bị ốm, tinh thần không minh mẫn không nhận thức được, toàn bộ nội dung viết như thế nào là do anh Đoàn viết bà
5
cũng không nghe đọc lại. Bà đề nghị Tòa án hủy Bản “Di chúc” ngày 5/5/2001 của bà và đề nghị Tòa án tuyên bố
“Giấy giao quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở” được lập cùng ngày 05/05/2001 là vô hiệu.
Có ý kiến cho rằng, Tòa án sẽ ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án này (căn cứ theo quy định tại khoản 2
Điều 192 BLTTDS) vì yêu cầu Tòa án tuyên bố “Giấy giao quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở” đã hết thời hiệu yêu cầu
Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu, căn cứ theo quy định tại Điều 143 và khoản 1 Điều 145 BLDS 1995.
Câu hỏi 6: (1 điểm)Ý kiến của anh (chị) về vấn đề này như thế nào?
Câu hỏi 7: (1,5 điểm)Xác định trọng tâm vấn đề cần chứng minh trong vụ án
Tình tiết bổ sung
Qua xác minh ở địa chính xã thì các giấy tờ về nhà đất đang tranh chấp vẫn đứng tên bà Xuân không hề có sự
chuyển dịch nào. Tại phiên tòa các bên vẫn giữ nguyên yêu cầu và quan điểm của mình. Anh Đoàn khẳng định bà
Xuân không xuất trình được chứng cứ nào để chứng minh khi ký giấy giao quyền sử dụng đất và sở hữu nhà ở bà đã bị
lừa dối, không nhận thức được hành vi của mình. Vì vậy, đề nghị Tòa án bác yêu cầu khởi kiện của bà Xuân.

- Yêu cầu tòa xác định nhà, đất nói trên thuộc quyền sở hữu của bà.
- Buộc Vc anh Đoàn trả lại phần nhà, đất nói trên và bà Xuân sẽ trả lại chi phí và công sức cải tạo nhà của Vc
anh Đoàn và tự nguyện tạo điều kiện về chỗ ở cho Vc anh Đoàn là 80 triệu đồng.
Câu 3: Hãy giúp bà Xuân soạn thảo đơn khởi kiện ?
Đơn khởi kiện:
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA ViỆT NAM
__Độc lập – Tự do – Hạnh phúc__
Tp.Hà Nội, ngày 02 tháng 04 năm 2007
ĐƠN KHỞI KIỆN
(V/v tranh chấp quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà)
Kính gửi: Toà án nhân dân Đ, Tp.Hà Nội
Nguyên đơn: Bị đơn:
- Họ và tên: ….Xuân, Ngày sinh…, CMND…;
Địa chỉ….
Nội dung vụ việc như sau:
Tôi là CSH ngôi nhà 2 tầng S: 90 m2 (tại tờ bản đồ số 32 ( năm 1994) thửa 95) ở khu T, xã X, huyện Đ, Hà Nội. Hiện
nhà đất này do Vc con trai tôi là anh Đoàn và C.Huyền quản lý & sử dụng.
6
Nguồn gốc nhà đất: Đất do cha mẹ tôi để lại, còn nhà do tôi bỏ tiền ra xây (diện tích đất này tôi đứng tên trong sổ địa
chính năm 1987 sau đó tôi bán đi 183 m2 nay còn lại 90 m2 đã được UNND xã X, huyện Đ, Hà Nội cấp GCNQSDĐ.
Đến 12/2004 con gái tôi là Ngọc sinh con ở Hải Dương, tôi xuống ở cùng để chăm sóc con gái. Lúc đi tôi có viết giấy
giao cho Vc anh Đoàn ở trên mảnh đất này để trông nom nhà cửa. Cuối tháng 03/2007 tôi về nhà thì thấy Vc anh Đoàn
đã tự ý sửa chữa kết cấu nhà và không cho tôi vào nhà vì cho rằng tôi đã cho anh chị căn nhà, đất này và đối xử rất
thậm tệ với tôi.
Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, tôi kính đề nghị Toà án nhân dân
Xem xét giải quyết tranh chấp trên theo những yêu cầu cụ thể sau:
1) Yêu cầu tòa xác định nhà, đất nói trên thuộc quyền sở hữu của tôi.
2) Buộc Vc anh Đoàn trả lại phần nhà, đất nói trên và tôi sẽ trả lại chi phí và công sức cải tạo nhà của Vc anh
Đoàn và tự nguyện tạo điều kiện về chỗ ở cho Vc anh Đoàn là 80 triệu đồng.
Tôi xin nộp tạm ứng án phí đầy đủ và theo đúng thời gian qui định của pháp luật.

Bà đề nghị tòa hủy bản Bản “di chúc thư của bà” ngày 05/05/2001 và tuyên giấy giao quyền sử dụng, sở hữu đất cho
Vc anh Đoàn ngày 05/05/2001 vô hiệu.
Có ý kiến cho rằng tòa sẽ tuyên bố đình chỉ vụ án này vì cho rằng “yêu cầu tòa án tuyên giấy giao quyền sử dụng, sở
hữu đất ở” đã hết thời hiệu yêu cầu tòa tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu căn cứ theo đ143, k1đ145 BLDS 1995.
Câu 6: ý kiến của anh chị như thế nào về vấn đề này ?
Ý kiến này là không đúng, vì đây không phải là một trong những trường hợp phải đình chỉ giải quyết vụ án theo quy
định tại điều 192 của BLTTDS.
Câu 7: Xác định trọng tâm vấn đề cần chứng minh trong vụ án ?
Những vấn đề cần chứng minh trong vụ án này là:
- Giấy giao quyền sử dụng nhà đất mà bà Xuân viết cho Vc anh Đoàn trước khi đi nuôi con gái là giấy giao sử
dụng hay giấy tặng cho ?
- Việc Vc anh Đoàn cải tạo, sửa chữa nhà cửa bà Xuân có biết hay không, có phản đối không ?
- Ý chí của bà Xuân khi ký vào các văn bản như “bản chúc thư”, giấy giao quyền sư dụng đất, nhà…?
Tình tiết bổ sung:
Qua xác minh ở chính quyền xã thì các giấy tờ về nhà đất tranh chấp vẫn đứng tên bà Xuân, tại phiên tòa anh Đoàn
khẳng định bà Xuân không xuất trình được chứng cứ nào chứng minh khi ký các giấy tờ trên bà đã bị lừa dối, không
7
nhận thức được hành vi của mình. Bà Xuân vẫn khẳngđịnh năm 2001 bà chỉ giao cho Vc anh đoàn quản lý nhà đất
giúp khi đi vắng chứ không phải cho QSD nhà đất.
Đề 14: Mã số: LS.DS/TN-14/240
*
Năm 1989 chị Nga và anh Hạnh kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn. Quá trình chung
sống anh, chị có tạo lập được một số tài sản và có với nhau 2 con chung là cháu Quý (sinh năm 1990) và cháu Hằng
(sinh năm 1997). Do mâu thuẫn vợ chồng và bất đồng quan điểm sống ngày càng gay gắt, vì vậy tháng 4/2005 chị Nga
đã làm đơn khởi kiện ra Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh V (nơi gia đình anh chị cư trú) yêu cầu xin ly hôn.
Tòa án nhân dân huyện M đã xét xử sơ thẩm vụ án xin ly hôn giữa chị Nga với anh Hạnh. Các đương sự
không đồng ý với kết quả của bản án sơ thẩm và kháng cáo lên cấp phúc thẩm. Tại bản án số 115/HNGĐ- PT ngày 27
tháng 10 năm 2005 của Toà án nhân dân tỉnh V đã quyết định :
1/ Xử cho chị Nguyễn Thu Nga được ly hôn anh Chu Văn Hạnh.
2/ Về con: Giao chị Nga trực tiếp nuôi dưỡng con là Chu Xuân Quý. Anh Hạnh trực tiếp nuôi dưỡng con là

Câu hỏi 3: (1 điểm)
Xác định Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp này?
Tình tiết bổ sung
Qua trao đổi, chị Nga cho biết ngày 18/12/1989 nhà máy X thuộc Cục hậu cần Phòng không - không quân có
quyết định số 17/QĐ cấp đất cho vợ chồng anh chị diện tích 201m
2
. Sau khi kết hôn, chị và anh Hạnh đã về đất này để
làm nhà ở ổn định, năm 1991 vợ chồng chị đã làm thủ tục kê khai và có tên trong sổ địa chính huyện M. Đến ngày
31/1/2002 UBND huyện M, Tỉnh V đã cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, sử dụng đất cho anh Hạnh và chị Nga
với diện tích 201m
2
.
Quá trình sử dụng anh chị đã xây dựng được 1 ngôi nhà cấp IV, 3 gian trên diện tích đất 201m
2
.
Câu hỏi 4: (1,5 điểm)
Anh (chị) hãy giúp chị Nga soạn thảo đơn khởi kiện và chuẩn bị hồ sơ khởi kiện cho nguyên đơn.
Câu hỏi 5 (1 điểm)
Anh (chị) hãy xác định tư cách đương sự trong vụ án?
Tình tiết bổ sung
Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, theo lời trình bày của anh Hạnh, anh không đồng ý chia nhà, đất theo yêu cầu
của chị Nga vì anh cho rằng đây là khối tài sản riêng của anh. Diện tích đất 201m
2
này Nhà nước cấp cho riêng anh,
anh không đồng ý chia. Anh Hạnh khẳng định đây là tài sản riêng của anh nên anh có quyền bán cho anh Cương mà
không cần sự tham gia của chị Nga. Vì vậy anh đề nghị vẫn giữ nguyên giao dịch với anh Cương.
Theo lời trình bày của anh Cương, tháng 5/2001 anh có mua của anh Hạnh diện tích đất 71m
2
tại tổ 10, thị trấn
T, huyện M, tỉnh V. Việc mua bán không qua cơ quan có thẩm quyền công chứng, chứng thực. Khi lập giao dịch

sử dụng đất 568.000.000đ = 583.608.900đồng.
Chị Nga yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng đất giữa anh Hạnh và anh Cương. Đề nghị Tòa án chia tài sản
chung của chị và anh Hạnh bằng tiền mặt.
Câu hỏi 8: (1,5 điểm)
Trên cơ sở tất cả các tình tiết của vụ án, anh (chị) hãy viết bản Luận cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
nguyên đơn tại phiên tòa sơ thẩm.
Tóm tắt: Năm 1089 C.Nga và A.Hạnh kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn,trong quá trình chung sống hai người
có 02 con là cháu Quý (1990) và cháu Hằng (sinh năm 1997). Do có mâu thuẫn nên bất đồng quan điểm, đời sống
ngày càng gay gắt. Tháng 04/2005 C.Nga làm dơn khởi kiện ra tòa án nhân dân Huyện M, tỉnh V (nơi gia đình anh chị
cư trú) yêu cầu xin ly hôn.
Tòa án M xét xử vụ án ly hôn giữa C.Nga và A.Hạnh. Các đương sự không đồng ý với bản án sơ thẩm nên kháng cáo
lên phúc thẩm. Tại bản án 115/HNGĐ-PT ngày 27/10/2005 của tòa án tỉnh V quyết định:
1/ Xử cho C.Nga được ly hôn với A.Hạnh
2/ Giao C.Nga trực tiếp nuôi dưỡng cháu Quý và anh Hạnh trực tiếp nôi dưỡng cháu Hằng. Không bên nào phải cấp
dưỡng cho bên nào.
3/ Tài sản chung: các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, C.Nga & A.Hạnh thỏa thuận phân chia tài sản chung nhưng không thành, vì vậy
ngày 08/5/2007 C.Nga muốn làm đơn khởi kiện ra tòa án đề nghị xác định toàn bộ nhà đất hiện A.Hạnh đang quản lý
gồm: một nhà cấp 4 trên diện tích 201 m2 tọa lạc tại Thị trấn T Huyện M, tỉnh V là tài sản chung của Vc anh chị và
chia theo pháp luật.
Có ý kiến cho rằng C.Nga không được khởi kiện nữa vì quan hệ hôn nhân đã chấm dứt. Yêu cầu của C.Nga đã được
giải quyết bằng một bản án có hiệu lực pháp luật.
Câu 1: Các bạn có đồng ý với ý kiến này hay không ?
Tôi không đồng ý với ý kiến này, bởi vì mặc dù quan hệ hôn nhân của C.Nga và anh Hạnh đã chấm dứt nhưng quan hệ
sở hữu tài sản chung vẫn còn. Hơn nữa trong vụ án ly hôn thì C.Nga và anh Hạnh không yêu cầu xem xét về phân chia
tài sản nên tòa án không xem xét vì vậy không thể nói yêu cầu của này đã được giải quyết bằng một bản án có hiệu lực
pháp luật vì vậy C.Nga hoàn toàn có thể khởi kiện yêu cầu tòa án xem xét giải quyết (đây là một vụ án khác).
Tình tiết bổ sung:
C.Nga trình bày, năm 1988 khi anh chị kết hôn, anh chị đã xin nhà máy X (nơi anh chị cùng công tác) cấp đất. Sau đó
nhà máy X đã cấp 201 m2 đất tại số 2, tổ 10, thị trấn T Huyện M, tỉnh V. Sau khi kết hôn anh chị đã xây căn nhà cấp 4

ĐƠN KHỞI KIỆN
(V/v tranh chấp quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà)
Kính gửi: Toà án nhân dân Đ, Tp.Hà Nội
Nguyên đơn:
- Họ và tên: Nguyễn Thu Nga, Ngày sinh…, CMND…;
Địa chỉ….
Bị đơn:
- Họ và tên: Chu Văn Hạnh
- Địa chỉ……… ;
Nội dung vụ việc như sau:
Tôi và A.Hạnh kết hôn kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn, trong thời gian sống chung chúng tôi có nhiều mâu
thuẫn vì vậy chúng tôi đã xin ly hôn và được tòa án giải quyết cho ly hôn bằng bản án 115/HNGĐ-PT ngày
27/10/2005 của tòa án tỉnh V (trong quá trìn giải quyết việc ly hôn chúng tôi không yêu cầu tòa án xem xét việc phân
chia tài sản). Năm 1988 khi chúng tôi kết hôn, chúng tôi đã xin nhà máy X (nơi chúng tôi cùng công tác) cấp đất. Sau
đó nhà máy X đã cấp 201 m2 đất tại số 2, tổ 10, thị trấn T Huyện M, tỉnh V. Sau khi kết hôn chúng tôi đã xây căn nhà
cấp 4 và ở trên mảnh đất này. Năm 2001 anh Hạnh tự ý bán cho anh Cương mảnh 71 m2 (C.Ntoi hoàn toàn không biết
và không tham gia).
Sau khi ly hôn tôi và cháu quý về sống với ông bà ngoại ở Phố Liễu Giai, Ba Đình, Hà Nội. Mảnh đất thuộc tài sản
chung của vợ chồng tôi, anh Hạnh vẫn đang ở.
Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, tôi kính đề nghị Toà án nhân dân
Xem xét giải quyết tranh chấp trên theo những yêu cầu cụ thể sau:
1) Yều cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh Hạnh với anh Cường
2) Đề nghị: Tòa xác định toàn bộ nhà đất 201 m2 hiện anh Cương và anh Hạnh đang quản lý tài sản chung vợ
chồng tôi và đề nghị Tòa chia theo quy định của pháp luật.
Tôi xin nộp tạm ứng án phí đầy đủ và theo đúng thời gian qui định của pháp luật.
Tôi xin gửi kèm theo đơn này các tài liệu làm căn cứ cho yêu cầu khởi kiện.
Kính đơn. Đính kèm:……………Nguyễn Thu Nga
Hồ sơ khởi kiện bao gồm:
- Đơn khởi kiện;
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và các giấy tờ tương tự;

A.Cương có hiệu lực hay không thì không thể không xác định được giá trị khối tài sản và cũng không thể chia tài sản
chung cho Vc C.Nga…vì vậy việc giải quyết 02 yêu cầu này trong cùng một vụ án là liên hệ mật thiết với nhau và hỗ
trợ cho nhau.
Câu hỏi 7: Xác định vấn đề trọng tâm cần chứng minh trong vụ án này ?
- Nguồn gốc nhà đất nói trên ?
- Nhà đất nói trên là tài sản chung hay tài sản riêng ?
- Việc mua bán giữa A.Hạnh và A.Cương C.Nga có biết và phản ứng thái độ ?
Tình tiết bổ sung
Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử, tại phiên tòa các bên vẫn giữ nguyên yêu cầu và quan điểm của mình. Anh
Hạnh không xác định được chứng cứ chứng minh đất cấp cho cá nhân anh. Tuy nhiên, anh Hạnh vẫn cho rằng nhà
máy X không phải là cơ quan có thẩm quyền giao đất cho cá nhân, tổ chức sử dụng vì vậy đất này không phải là tài
sản chung hai vợ chồng.
Chị Nga xuất trình chứng cứ là văn bản xác nhận địa chính tỉnh T, xác nhận nguồn gốc đất là của nhà máy X phân cho
các cán bộ công nhân viên nhà máy. Mặc dù việc nhà máy X cấp đất là không đúng thẩm quyền nhưng vợ chồng anh
Hạnh, chị Nga đã ổn định trên đất từ năm 1989, đất không có tranh chấp, đất sử dụng đúng mục đích. Địa chính M
cũng xác nhận thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chính xác.
Kết quả định giá tài sản theo yêu cầu của nguyên đơn xác định giá trị nhà đất:
+ Nhà và các công trình khác anh Hạnh đang quản lý: Giá trị nhà , các công trình là 19.399.000 đ và giá trị sử dụng
đất (130 m2 đất là 8 tr/1m2 = 1.040.000 đ). Tổng giá trị tài sản là 1.059.000 đ.
+ Nhà và các công trình khác trên 71 m2 đất có giá trị sử dụng là: Nhà, các công trình khác: 16.608.000 + giá trị sử
dụng đất 568.000.000 đ + 583.608.900 đ.
Chị Nga yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng đất giữa anh Hạnh và anh Cương. Đề nghị Tòa án chia tài sản chung
của chị và anh Hạnh là tiền mặt.
Câu hỏi 8: Trên cơ sở tất cả các tình tiết vụ án, anh (chị) hãy viết bản luận cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
nguyên đơn tại phiên tòa sơ thẩm.
Bản luận cứ có cấu trúc tương tự như câu 7 của đề 12, bám vào các vấn đề cần chứng minh để lập luận và đưa ra các
cơ sở pháp lý liên quan (vì không có nhiều thời gian nên mình không thể làm chi tiết câu này – mong các bạn thông
cảm)
11


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status