Giải đề thi tốt nghiệp môn Dân Sự các bài 19 – 23 và bài 32
DSTN 19
Mã số: LS.DS/TN-19/240
*
Theo lời trình bày của ông Hiếu: Cha mẹ của ông là ông Nguyễn Văn Dinh, bà Phan
Thị Sáu có 03 người con: Bà Nguyễn Thị Xuyến; ông Nguyễn Văn Hiếu; ông Nguyễn Phú
Trọng.
Sinh thời, ông Dinh và bà Sáu tạo lập được căn nhà số 106C phố Q, phường 3, quận 11,
TP. HCM và có tên trong bằng khoán điền thổ thửa đất trên từ năm 1955. Ngày 20.2.1993
ông Dinh mất, có để lại di chúc cho bà Sáu toàn quyền định đoạt ½ giá trị căn nhà số 106C
phố Q phần di sản của ông.
Tháng 1/1994, bà Sáu được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà theo
giấy phép hợp thức hóa nhà tự xây cất và tờ khai thừa hưởng di sản số 79/GP.UB ngày
04/07/1993 trên cơ sở di chúc của ông Dinh.
Tháng 11/2004, bà Sáu xuất cảnh hợp pháp định cư tại Hoa kỳ cùng con gái là bà
Xuyến. Trước khi đi bà Sáu giao lại căn nhà 106C phố Q, phường 3, quận 11, TP. HCM cho
hai con là ông Hiếu và ông Trọng. Việc giao nhà này thể hiện qua“Giấy ưng thuận” với nội
dung: Đồng ý để cho ông Trọng đại diện ông Hiếu đứng tên căn nhà 106C phố Q, phường 3,
quận 11, TP. HCM. Nếu căn nhà có bán hoặc sang nhượng cho ai phải có sự đồng ý của các
anh em là bà Xuyến, ông Hiếu. “Giấy ưng thuận” được tất cả ký tên và được Uỷ ban nhân dân
phường 3, quận 11 xác nhận chữ ký. Nay ông Hiếu được biết ông Trọng đang thỏa thuận
chuyển nhượng căn nhà này cho bà Hải. Ông Hiếu đã nhiều lần can ngăn vì nguyện vọng của
bà Sáu, bà Xuyến và các thành viên trong gia đình đều muốn để căn nhà này làm nơi thờ
cúng.
Ông Trọng cho rằng ông đã được mẹ là bà Sáu tặng cho căn nhà số 106C phố Q,
phường 3, quận 11, TP. HCM, nhà này thuộc sở hữu của ông, vì vậy ông phải được toàn
quyền định đoạt. Ông Hiếu không có quyền gì để can thiệp việc ông muốn chuyển nhượng lại
nhà ở cho ai. Ngày 23/5/X ông Hiếu muốn làm đơn khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho
nhà của bà Sáu với ông Trọng thể hiện qua giấy ưng thuận.
Ông Hiếu nhờ anh (chị) là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông.
cho nhà do vẫn nhầm tưởng là hợp đồng ủy quyền đứng tên. Thực chất, bà Sáu chỉ để chuyển
tên trong giấy tờ nhà cho ông Trọng vì bà đi xuất cảnh chứ không phải cho hẳn ông Trọng căn
nhà đó. Sau khi ký hợp đồng tặng cho nhà, bà Sáu đã yêu cầu ông Trọng xác nhận lại cho
đúng sự thật là ông Trọng chỉ đứng tên chứ không sở hữu toàn bộ căn nhà và ông Trọng đã
đồng ý làm giấy xác nhận tại “Giấy xác nhận” đề ngày 02/02/2005.
Ông Trọng cho rằng ông đã được mẹ là bà Sáu tặng cho căn nhà số 106C phố Q,
phường 3, quận 11, TP. HCM, nhà này thuộc sở hữu của ông. Ông Trọng không đồng ý yêu
cầu khởi kiện của ông Hiếu, đề nghị Tòa án bác yêu cầu của ông Hiếu.
Câu hỏi 5: (1 điểm)
Yêu cầu của ông Trọng có phải là yêu cầu phản tố không ?
Câu hỏi 6: (1 điểm)
Anh (chị) hãy xác định vấn đề trọng tâm cần chứng minh trong vụ án này?
Tình tiết bổ sung
Tại “Giấy xác nhận” ngày 02.02.2005 ông Trọng đã xác nhận phần sở hữu của từng
người trong căn nhà mà ông đứng tên theo hợp đồng tặng cho mà ông và bà Sáu đã ký tại
Phòng Công chứng ngày 16.9.2004 trong đó phần sở hữu của ông là 1/4 căn nhà đang tranh
chấp. Nay ông Trọng phủ nhận chữ ký và viết tên trong “Giấy xác nhận” ngày 02.02.2005 và
yêu cầu giám định.
Theo “Bản kết luận giám định” ngày 23/8/2006 của Phân Viện KHHS, Tổng Cục Cảnh
sát, Bộ Công an, kết luận:
“Chữ viết tên “Ng Phú Trọng” dưới chữ ký trên “Giấy xác nhận” đề ngày 02.02.1999
đứng tên Nguyễn Phú Trọng (Ký hiệu A1) với mẫu chữ viết tên của Nguyễn Phú Trọng dưới
mục “Người chứng thứ 1” trên “Đơn cớ mất” đề ngày 20.4.2001 (Ký hiệu M1); “Bản tự
khai” đề ngày 09.5.2006 (Ký hiệu M2); Mẫu chữ ký ngày 05.6.2006 (Ký hiệu M3); “Hợp
đồng tặng cho nhà” đề ngày 16.9.1994 (Ký hiệu M4); “Bản tự khai” đề ngày 25.4.2006 (Ký
hiệu M5) là do cùng một người viết ra.”
Câu hỏi 7: (1 điểm)
Anh (chị) hãy đánh giá về giá trị chứng cứ của ‘Giấy xác nhận’ lập ngày 02/02/2005
đối với việc xác định sự thật khách quan của vụ án?
Câu hỏi 8: (1 điểm)
- sau khi ký giấy ưng thuận, có làm thêm giấy tờ, thủ tục nào không ?
2/Hãy xác đònh Quan hệ pháp luật tranh chấp : tranh chấp do việc ông Trọng
đang thỏa thuận chuyển nhượng căn nhà được bà Sáu (mẹ của Trọng, Hiếu và
Xuyến) giao lại cho ông trước khi xuất cảnh, trái với nội dung Giấy ưng thuận
đã ký , hành động của ông Trọng đã vi phạm điều 169 BLDS nên đây là quan
hệ tranh chấp về quyền sở hửu tài sản (theo khoản 2 điều 25 BLTTDS )
3/Xác định Tòa án có thẩm quyền giải quyết :
- khoản 2 điều 25 BLTTDS số 24/2004/QH11 ngày 15/6/2004: vụ tranh chấp nầy
(về quyền sở hửu tài sản ) thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
- điểm a khoản 1 điều 33 Bộ luật TTDS số 24/2004/QH11 ngày 15/6/2004: vụ
tranh chấp nầy (tranh chấp về quyền sở hửu tài sản /dân sự , quy đònh tại điều
25)Tòa án ND quận có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm
- điểm c khoản 1 điều 35 Bộ luật TTDS số 24/2004/QH11 ngày 15/6/2004: vụ
tranh chấp nầy thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án ND quận 11 –TP HCM
( nơi căn nhà tọa lạc )
4/ Giúp ông Hiếu soạn thảo đơn khởi kiện và chuẩn bò hồ sơ KK cho
nguyên đơn :
soạn thảo đơn khởi kiện
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
…….ngày tháng năm
ĐƠN KHỞI KIỆN
( v/v giải quyết tranh chấp về quyền sở hửu tài sản)
Kính gửi : Tòa án nhân dân huyện K – Hà tây
Nguyên đơn : - Họ và tên : Nguyễn văn Hiếu
Ngày sinh :……
Chứng minh nhân dân : ….
Đòa chỉ :….
Bò đơn : - Họ và tên : Nguyễn phú Trọng
Đòa chỉ :….
5/ Yêu cầu của ông Trọng có phải là yêu cầu phản tố không ?
là yêu cầu phản tố theo điểm b khoản 2 điều 176 BLTTDS
6/Xác định vấn đề Trọng tâm cần chứng minh trong vụ án :
- Hợp đồng tặng cho nhà số 3110/HĐ-TCN bò vô hiệu , vì :
+ do bà Sáu bò ông Trọng lừa dối (điều 132 BLDS)
+ do lổi cố ý của ông Trọng làm bà Sáu bò nhầm lẩn (điều 131 BLDS)
+ vi phạm khoản 2 điều 389 BLDS : không trung thực và ngay thẳng
- do trên (HĐ tặng cho bò vô hiệu ) nên Bà Sáu vẫn là sở hửu chủ căn nhà
trên theo giấy chứng nhận đã cấp
- Giấy ưng thuận của Trọng , Hiếu và Xuyến có xác nhận của UBND phường 3,
Q.11 là hợp pháp , có giá trò pháp lý
- Giấy xác nhận của ông Trọng ngày 02/02/2005 và giấy cam kết của ông Trọng
: có giá trò pháp lý
- hành động chiếm trọn căn nhà bất hợp pháp và thỏa thuận chuyển nhượng cho
bà Hải là trái pháp luật và đạo đức xã hội vi phạm khoản 2 điều 389 BLDS
7 / Hãy đánh giá về giá trò chứng cứ của “Giấy xác nhận” lập ngày
02/02/2005:
- giấy nầy do ông Trọng tự viết ra sau khi bò bà Sáu khám phá ra sự lừa dối
của ông từ ý muốn ủy quyền của bà Sáu để ông quản lý tài sản bò biến
thành tặng cho tài sản
- ông Trọng không thể phủ nhận giấy nầy được vì đã có kết luận giám đònh
- giấy nầy còn là bằng chứng cho thấy Hợp đồng tặng cho là do bò lừa dối mà
xác lập nên hợp đồng nầy bò vô hiệu
8/ Xác định tư cách đương sự trong vụ án :
Nguyên đơn : ông Nguyễn văn Hiếu ( căn cứ khoản 2 điều 56 BLTTDS)
Ngụ tại : phố Láng hạ, quận Đống đa - Hà nội
Bò đơn : ông Nguyễn Phú Trọng (căn cứ khoản 3 điều 56 BLTTDS)
Ngụ tại : quận X – TP H
Người có quyền lợi,nghĩa vụ liên quan:bà Sáu,bà Xuyến (căn cứ khoản 4 điều
56 BLTTDS)
16H-3477 bị hư hỏng nặng.
Sau khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, ơng Xn u cầu Cơng ty P thực hiện hợp đồng bảo
hiểm số 04236300/OTO ngày 8/12/2005 vì hợp đồng này phát sinh hiệu lực kể từ ngày
8/12/2005. Tuy nhiên, phía cơng ty P đã từ chối chi trả bảo hiểm với lý do hợp đồng bảo hiểm
số 04236300/OTO ghi vào hồi 8h ngày 8/12/2005 nhưng thực chất được giao kết vào hồi
9h30phút ngày 09/12/2005 (sau khi xe ơtơ 16H-3477 đã xảy ra tai nạn tại xã G, huyện Q, tỉnh
Quảng Bình).
Ngày 1/6/X ơng Xn muốn làm đơn khởi kiện Cơng ty P u cầu bồi thường thiệt hại
theo hợp đồng bảo hiểm số 04236300/OTO đối với xe ơtơ BKS 16H-3477 do ơng đứng tên
chủ sở hữu.
Ơng Xn nhờ anh (chị) là người bảovệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơng ty.
Câu hỏi 1: (1 điểm)
Anh (chị) hãy xác định quan hệ pháp luật tranh chấp?
Câu hỏi 2: (1 điểm)
Anh (chị) hãy xác định Tòa án có thẩm quyền thụ lý giải quyết vụ án này?
Tình tiết bổ sung
Tòa án thụ lý giải quyết vụ án theo u cầu khởi kiện của ơng Xn tại đơn khởi kiện
đề ngày 23/11/2006.
Theo bản tự khai và các lời khai tiếp theo trong hồ sơ vụ án của ơng Xn: Ngày
8/12/2005 ơng Xn đến cửa hàng xăng dầu 43 Lê Lai, Hải Phòng tìm gặp vợ là bà Loan để
đưa tiền mua bảo hiểm xe ơtơ BKS 16H-3477 nhưng khơng gặp được. Khi biết ơng Hạnh (là
nhân viên cửa hàng xăng dầu 43 Lê Lai) đồng thời là người bán bảo hiểm xe máy của đại lý
cơng ty P. Ơng Xn đã nhờ ơng Hanh mua hộ bảo hiểm tài sản cho xe ơtơ kéo mc 16H
5
-3477 và đưa cho ông Hạnh 10 triệu đồng để đóng phí bảo hiểm. Khoảng 9h ngày 9/12/2005
ông Hạnh gọi điện đến công ty P đề nghị mua bảo hiểm xe ôtô theo thỏa thuận với ông Xuân.
Công ty P đã cử bà Vân - nhân viên phòng tổng hợp thị trường đến gặp ông Hạnh để tiến hành
giao kết hợp đồng. Trước khi đi bà Vân có đề nghị với lãnh đạo công ty cấp 1 giấy chứng
nhận bảo hiểm ôtô có ký, đóng dấu trước và được lãnh đạo công ty chấp nhận.
Trong khi ghi giấy chứng nhận bảo hiểm số 04236300/OTO ông Hạnh đã đề nghị bà
Câu hỏi 6: (1 điểm)
Bằng các quy định của BLDS, anh chị hãy nêu đánh giá của mình đối với tính hợp
pháp về hình thức của hợp đồng bảo hiểm này?
Tình tiết bổ sung
Tòa án tiến hành hòa giải nhưng không thành. Vì vậy, Tòa án đã quyết định đưa vụ án
ra xét xử. Tại phiên tòa, các bên vẫn giữ nguyên yêu cầu và quan điểm của mình.
Lời trình bày của đại diện Công ty P và ông Hạnh đều thừa nhận hợp đồng bảo hiểm tài
sản số 04236300/OTO ghi hồi 08h ngày 8/12/2005 được 2 bên giao kết vào khoảng 9h30’
ngày 9/12/2005.
Phía ông Xuân đề nghị Tòa án công bố công văn số 11/CV ngày 4/12/2006 của cơ quan
cảnh sát điều tra – công an TP. Hải Phòng trong hồ sơ vụ án : ‘Không đủ căn cứ để xác định
ông Hạnh và bà Loan (vợ ông Xuân) thông đồng với bà Vân nhằm mục đích vụ lợi nên chưa
có dấu hiệu của vụ án hình sự.’
Luật sư của công ty P khẳng định rằng: Hợp đồng bảo hiểm được giao kết vào 9h30’
ngày 9/12/2005. Tai nạn đối với xe ôtô kéo móc BKS 16H-3477 vào 6h cùng ngày trước thời
điểm ký hợp đồng bảo hiểm. Như vậy, đối tượng bảo hiểm không tồn tại vào thời điểm giao
kết hợp đồng. Phía công ty P đề nghị Tòa án áp dụng Điều 15 Luật kinh doanh bảo hiểm
“Trách nhiệm bảo hiểm phát sinh khi hợp đồng bảo hiểm đã được giao kết hoặc khi có bằng
6
chứng doanh nghiệp bảo hiểm đã chấp nhận bảo hiểm và bên mua bảo hiểm đã đóng phí bảo
hiểm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm”. Cơng ty P Đề nghị tun
bác u cầu khởi kiện của ơng Xn.
Câu hỏi 7: (1 điểm)
Anh (chị) hãy nêu những lập luận để phản bác lại quan điểm của Luật sư phía cơng ty P?
Câu hỏi 8: ( 1,5 điểm)
Trên cơ sở tất cả các tình tiết của vụ án, anh (chị) hãy viết bản Luận cứ để bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của ơng Xn tại phiên tòa sơ thẩm.
Tình tiết bổ sung
Bản án số 03/2007/DSST ngày 21/12/X của Tòa án cấp sơ thẩm đã tun :
“Bác u cầu khởi kiện của ơng Xn. Tun bố hợp đồng bảo hiểm số 04236300/OTO
Bò đơn : Công ty CP Bảo hiểm P (căn cứ khoản 3 điều 56 BLTTDS)
Trụ sở : quận H, TP Hải phòng
Người có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan: (căn cứ khoản 4 điều 56 BLTTDS)
Người làm chứùng: ông Hạnh, bà Vân (căn cứ điều 65 BLTTDS)
5/ Có cần trưng cầu giám đònh HĐ bảo hiểm :không cần thiết vì hợp đồng ghi
ngày 08/12/2005 là có lợi cho ông Xuân
6/Nêu đánh giá đối với tính hợp pháp về hình thức của HĐBH :- hợp đồng
được lập thành văn bản (điều 570 BLDS 2005), do người có thẩm quyền của Cty
P ký kết và có đóng dấu nên hợp pháp
7/Nêu lập luận phản bác quan điểm LS của Cty P :
7
- hóa đơn của Cty P ghi ngày 08/12/2005 là bằng chứng Cty P đã chấp nhận BH
và bên mua BH đã đóng phí BH , như vậy đã phát sinh trách nhiệm bảo hiểm
(điều 15 Luật kinh doanh bảo hiểm trên)
8/ Luận cứ bảo vệ ông Xuân :
Kính thưa Hội đồng xét xử
Thưa vò đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa
Thưa các Luật sư đồng nghiệp
Tôi, Luật sư …. thuộc văn phòng Luật sư …. - Đoàn luật sư …., hôm nay
tham dự phiên tòa với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
nguyên đơn là ông Xuân, ngụ tại …. khởi kiện Công ty CP Bảo hiểm P Trụ sở :
quận H, TP Hải phòng ,đề nghò Tòa án buộc Công ty P phải …
Kính thưa Hội đồng xét xử,
Về vấn đề nầy , tôi xin trình bày quan điểm như sau :
Vì các lẽ đó, tôi đề nghị Hội đổng xét xử tuyên :
…………………
Rất mong sự xem xét công minh của Hội đồng xét xử .
Xin trân trọng và hết sức cám ơn Hội đồng xét xử đã lắng nghe luận cứ bảo vệ
của tôi.
Nội dung :
Mã số: LS.DS/TN-21/240
*
8
Năm 1976 ông Đình và vợ là bà Nghiêm mua một mảnh đất thổ cư thửa đất số 65 tờ bản
đồ 49, diện tích 480m
2
của bà Ba tại xóm Hạnh, xã T, huyện K, Hà Tây. Khi mua có lập hợp
đồng, không có chứng thực của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nhưng có 2 người làm
chứng là anh Hào (con bà Ba) và bà Liên (nhà hàng xóm liền kề mảnh đất chuyển nhượng).
Sau khi mua đất vợ chồng ông Đình, bà Nghiêm và vợ chồng anh Chung, chị Thu (con trai,
con dâu ông Đình, bà Nghiêm) cùng ở trên mảnh đất này.
Tháng 7 năm 1993 ông Đình và bà Nghiêm lập một bản di chúc chung, di chúc không
có người làm chứng nhưng có xác nhận của UBND xã T, huyện K, Hà Tây. Bản di chúc có
nội dung phân chia mảnh đất số thửa số 65 tờ bản đồ 49 cho con gái là chị Hoa 200m
2
, con
trai là anh Chung 280m
2
.
Ngày 4/9/1993 bà Nghiêm chết. Tháng 10/1994 ông Đình do bệnh tật nên về ở nhà vợ
chồng con gái là chị Hoa ở quận Đ, TP. Hà nội - nhà gần bệnh viện để tiện đi lại điều trị. Vợ
chồng anh Chung vẫn ở trên mảnh đất của ông Đình, bà Nghiêm tại xóm Hạnh, xã T, huyện
K, Hà Tây. Năm 2000, anh Chung phá dỡ toàn bộ nhà cũ, xây dựng nhà mới, bếp hiện trạng
như hiện nay. Việc phá dỡ nhà này anh Chung không hề hỏi ý kiến gì của ông Đình. Năm
2005, chị Thu tiến hành làm thủ tục đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất diện tích 480m
2
(mảnh đất có nguồn gốc của ông Đình, bà Nghiêm
mua năm 1976). Tháng 4/2006 ông Đình mới biết việc chị Thu đang tiến hành xin cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất của vợ chồng ông. Ông đã làm đơn lên UBND xã đề nghị giải
chị Thu hiện cư trú trên mảnh đất đang tranh chấp tại xóm Hạnh, xã T, huyện K, Hà Tây. Qua
trao đổi, ông Đình cung cấp các chứng cứ sau cho Luật sư: Trích lục bản đồ thửa đất năm
1960 số thửa số 65 tờ bản đồ 49 diện tích 534m
2
đứng tên chủ sử dụng đất là bà Ba; Văn bản
nhượng lại đất ngày 1/11/1976 của bà Ba cho vợ chồng ông Đình; Trích lục bản đồ thửa đất
năm 1960 số thửa số 65 tờ bản đồ 49 diện tích 534m
2
đứng tên chủ sử dụng đất là vợ chồng
ông Đình, bà Nghiêm; Bản di chúc chung của vợ chồng ông Đình lập ngày 22/7/1993; Giấy
chứng tử của bà Nghiêm ngày 4/9/1993.
Câu hỏi 4: (1 điểm)
Anh (chị) hãy xác định Tòa án có thẩm quyền thụ lý giải quyết vụ án này?
9
Câu hỏi 5: (1,5 điểm)
Anh (chị) hãy giúp ơng Đình soạn thảo đơn khởi kiện và chuẩn bị hồ sơ khởi kiện cho
ngun đơn.
Tình tiết bổ sung
Trong q trình Tòa án chuẩn bị xét xử, anh Chung và chị Thu trình bày: Nhà, đất đang
tranh chấp là do vợ chồng anh chị bỏ ra mua năm 1976 của bà Ba. Khi giao dịch mua bán nhờ
bố mẹ anh Chung là ơng Đình, bà Nghiêm đứng tên mua bán. Việc mua bán này có sự chứng
kiến của anh Hào và bà Liên. Anh Chung, chị Thu khơng cơng nhận “văn bản nhượng lại đất
ngày 1/11/1976” do ơng Đình cung cấp. Mảnh đất ghi trong di chúc năm 1993 của ơng Đình,
bà Nghiêm khơng phải là mảnh đất vợ chồng anh Chung đang quản lý. Anh Chung, chị Thu
khơng đồng ý với u cầu khởi kiện của ơng Đình.
Câu hỏi 6: (1 điểm)
Anh (chị) hãy xác định tư cách những người tham gia tố tụng trong vụ án này?
Câu hỏi 7: (1 điểm)
Xác định những vấn đề trọng tâm cần chứng minh trong vụ án?
Tình tiết bổ sung
- có phải từ lúc mua đất nầy (năm 1976), 2 vợ chồng ông vẩn ở và sử dụng
mảnh đất nầy liên tục không ? và có phải việc nầy mọi người xung quanh ai
cũng biết.
- có phải sau khi mua mảnh đất nầy ông đã xây nhà trên đó hay đất đã có
sẳn nhà khi mua?
- trước khi mua đất nầy, vợ chồng Chung , Thu ở đâu?
- trường hợp nào vợ chồng ông cho vợ chồng Chung , Thu về ở chung
10
- khi ông về ở nhà con gái để tiện cho việc chửa bệnh , ông có trao đổi gì với
vợ chồng Chung , Thu không ? và họ có liên lạc , thăm viếng và cho biết tình
hình mảnh đất nầy ra sao không ?
- trong thời gian ở nhà con gái, ông có bao giờ về thăm nhà củ của ông không
?
2 / Vấn đề cần trao đổi với ông Đình về các yêu cầu khởi kiện của phía
nguyên đơn :
- hợp đồng mua đất thổ cư của 2 vợ chồng ông :
+ bò vi phạm khoản 2 điều 689 BLDS : không có chứng thực
+ việc chuyển quyền sử dụng đất có hiệu lực kể từ thời điểm ø đăng ký
quyền sử dụng đất nầy theo điều 692 BLDS
+ tuy nhiên quyền sở hửu của vợ chồng ông Đình vẫn được xác lập , vì :
- theo khoản 2 điều 170 BLDS 2005 và việc nầy có 2 người làm chứng là
anh Hào (con người bán đất) và bà Liên( hàng xóm liền kề)
- theo điều 190 BLDS (chiếm hửu liên tục), điều 191 BLDS (chiếm hửu
công khai)
- Việc hủy toàn bộ di chúc chung của vợ chồng:
+ khoản 2 điều 638 BLDS 2005: Ông Đình là người quản lý di sản của bà
Nghiêm (vợ của ông)
+ khoản 4 điều 650 BLDS : di chúc chung của ông Đình , bà Nghiêm là hợp
pháp
+ khoản 2 điều 664 BLDS : do bà Nghiêm đã chết nên ông Đình chỉ có thể
Kính gửi : Tòa án nhân dân huyện K – Hà tây
Nguyên đơn :
11
- Họ và tên : ………ĐÌNH
Ngày sinh :……
Chứng minh nhân dân : ….
Đòa chỉ :….
Bò đơn :
- Họ và tên : …….Chung và … Thu
Đòa chỉ :….
Người có quyền lợi , nghóa vụ liên quan
- Họ và tên :……. Hoa
Đòa chỉ :….
Trình bày nội dung vụ kiện :……
Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình , phía nguyên đơn kính đề nghò
Tòa án ND huyện K – Hà tây
Xem xét giải quyết tranh chấp theo những yêu cầu cụ thể sau :
1/ Đề nghò Tòa án tuyên di chúc chung của 2 vợ chồng ông hiện giờ chưa có
hiệu lực theo điều 668 BLDS
2/ Buộc vợ chồng Chung , Thu trả lại toàn bộ diện tích đất của ông ĐÌNH và
bà Nghiêm mà vợ chồng Chung ,Thu đang chiếm giử bất hợp pháp
Tôi xin nộp tạm ứng án phí đầy đủ và theo đúng thời gian quy đònh của pháp
luật .
Tôi xin gửi kèm theo đơn nầy các tài liệu làm căn cứ cho yêu cầu khởi kiện
Kinh đơn
Người khởi kiện
Ký tên
…….Đình
chuẩn bò hồ sơ KK :
- Đơn khởi kiện
- vợ chồng anh Chung , chò Thu đã vi phạm pháp luật khi biết và vẫn cố tình trong
việc tiến hành xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của người khác
8/ Luận cứ bảo vệ nguyên đơn (ông Đình) :theo các vấn đề đã nêu trên câu
2, 7
Kính thưa Hội đồng xét xử
Thưa vò đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa
Thưa các Luật sư đồng nghiệp
Tôi, Luật sư …. thuộc văn phòng Luật sư …. - Đoàn luật sư …., hôm nay
tham dự phiên tòa với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
nguyên đơn là ông Đình, ngụ tại xóm Hạnh , xã T, huyện K- Hà tây khởi kiện
ông Chung, bà Thu ngụ tại xóm Hạnh , xã T, huyện K- Hà tây ,đề nghò Tòa án
buộc ông Chung, bà Thu phải …
Kính thưa Hội đồng xét xử,
Về vấn đề nầy , tôi xin trình bày quan điểm như sau :
Vì các lẽ đó, tôi đề nghị Hội đổng xét xử tuyên :
…………………
Rất mong sự xem xét công minh của Hội đồng xét xử .
Xin trân trọng và hết sức cám ơn Hội đồng xét xử đã lắng nghe luận cứ bảo vệ
của tôi.
DSTN 22
Mã số: LS.DS/TN-22/240
*
Do có quan hệ hàng xóm với nhau nên ơng Nguyễn Văn Xn đã cho vợ chồng ơng
Trần Văn Huệ và bà Nguyễn Thị Thuận vay số tiền là 73.000.000 đồng (bảy ba triệu đồng).
Đến ngày 4/12/X-5 ơng Xn cho vay thêm 55.000.000 đồng, tổng cộng số tiền vay là
128.000.000 đồng. Để đảm bảo nghĩa vụ thanh tốn, vợ chồng ơng Huệ, bà Thuận có thế chấp
căn nhà do ơng bà đứng tên sở hữu được Sở xây dựng cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà
và quyền sử dụng đất ngày 8/8/1989 với tổng diện tích là 328m
2
, diện tích chính là 50m
Tình tiết bổ sung
Trong thực tế, sau khi có bản án của Tòa án, ông Xuân cũng không tiến hành được thủ
tục sang tên đối với căn nhà trên.
Tháng 3/X+1 qua người quen, ông Xuân xác định được địa chỉ hiện tại vợ chồng ông
Huệ, bà Thuận đang sống. Ông Xuân làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố hủy bỏ quyết định
tuyên bố mất tích đối với vợ chồng ông Huệ, bà Thuận mà Tòa án đã tuyên tháng 2/năm X.
Có ý kiến cho rằng, ông Xuân không cần phải yêu cầu Tòa án tuyên bố hủy bỏ quyết
định tuyên bố mất tích đối với vợ chồng ông Huệ, bà Thuận. Mục đích của ông Xuân là vợ
chồng ông Huệ, bà Thuận thanh toán tiền nợ nên ông Xuân chỉ cần khởi kiện đòi nợ đối với
ông Huệ, bà Thuận khi có địa chỉ của ông Huệ, bà Thuận. Còn việc yêu cầu hủy bỏ quyết định
tuyên bố mất tích đối với vợ chồng ông Huệ, bà Thuận cần do chính ông Huệ, bà Thuận yêu
cầu.
Câu hỏi 3: (1 điểm)
Quan điểm của anh (chị) đối với vấn đề trên?
Câu hỏi 4: (1 điểm)
Anh (chị) cần trao đổi với ông Xuân vấn đề gì trước khi khởi kiện?
Tình tiết bổ sung
Sau khi nhận được đơn yêu cầu của ông Xuân, Tòa án căn cứ vào địa chi ghi trong
đơn yêu cầu, đã triệu tập vợ chồng ông Huệ, bà Thuận lên làm việc thì vợ chồng ông Huệ, bà
Thuận cũng đồng ý hủy quyết định tuyên bố vợ chồng ông bà mất tích. Trên cơ sở đó, Tòa án
đã thụ lý đơn yêu cầu của ông Xuân.
Câu hỏi 5: (1 điểm)
Anh (chị) có đồng ý với việc làm của Tòa án hay không?
Tình tiết bổ sung
Tòa án tiến hành thụ lý vụ án.
Câu hỏi 6: (1 điểm)
Anh (chị) hãy giúp ông Xuân chuẩn bị những giấy tờ cần thiết gửi kèm theo đơn yêu
cầu.
Tình tiết bổ sung
Cùng với yêu cầu xin hủy quyết định tuyên bố mất tích đối với ông Trần Văn Huệ và
hỗn phiên họp.
Nội dung cơng văn có đoạn: “Đây là loại việc mới tại địa bàn TP. H nên chưa có sự
thống nhất về trình tự giải quyết. Vì vậy, VKSNDTPH đề nghị TANDTP.H hỗn phiên họp
vào lúc 7h30 ngày 1/6/X+1 để VKSNDTP.H có thời gian báo cáo, xin ý kiến chỉ đạo của
VKSND cấp trên.”
TAND TP. H đã quyết định hỗn phiên họp đồng thời ra quyết định tạm đình chỉ giải
quyết vụ án với căn cứ là “Cần đợi hướng dẫn về đường lối giải quyết vụ án của cơ quan có
thẩm quyền ở Trung ương”.
Câu hỏi 9: (1 điểm)
Anh (chị) đề xuất quan điểm của mình với tư cách là luật sư của ơng Xn trước các
quyết định trên của Tòa án?
Tình tiết bổ sung
Sau khi đã tiến hành những cơng việc cần thiết cho việc giải quyết u cầu của ơng
Xn, Tòa án đã mở phiên họp giải quyết u cầu của ơng Xn theo đúng quy định của pháp
luật.
Câu hỏi 10: (1 điểm)
Anh (chị) hãy giúp ơng Xn chuẩn bị các căn cứ pháp lý để Tòa án chấp nhận u
cầu của ơng Xn.
Do có quan hệ hàng xóm với nhau nên ông Nguyễn văn Xuân đã cho vợ
chồng ông Trần văn Huệ và bà Nguyễn thò Thuận vay số tiền là 73 triệu đồng
.Đến ngày 4/2/x-5, ông Xuân cho vay thêm 55 triệu đồng, tổng cộng số tiền vay
là 128 triệu đồng
1/ Yêu cầu tuyên bố mất tích trong trường hợp nầy có cần thiết không ?
- có cần thiết , vì :
+ theo khoản 1 điều 78 : ông Xuân là người có quyền và lợi ích liên quan (vợ
chồng bà Thuận đã vay tiền của ông Xuân và họ đã thế chấp căn nhà do họ
làm sở hửu chủ cho ông Xuân trong hợp đồng vay tiền nầy)
2 / Anh nhận xét gì về cách giải quyết của tòa án ?
ng Xuân có các quyền sau đây:
+ theo khoản 5 điều 351 BLDS 2005: ông Xuân có quyền yêu cầu bên thế
bà Thuận không trả được nợ
- có phải vợ chồng bà Thuận vẫn ở tại căn nhà đó sau khi thế chấp không
?
- tại sao ông Xuân lại cho rằng vợ chồng bà Thuận đã bỏ trốn ?
5 / Anh có đồng ý với việc làm của tòa án hay không ?
- đồng ý vì tòa án đã căn cứ vào khoản 1 điều 80 BLDS 2005
6 / Hãy giúp ông Xuân chuẩn bò những giấy tờ cần thiết gửi kèm theo đơn
yêu cầu
- Hợp đồng vay tiền ký giửa ông Xuân và vợ chồng bà Thuận
- Giấy tờ chứng nhận QSHNƠ và QSDĐ ngày 8/8/1989 của vợ chồng bà Thuận
- Đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố mất tích đối với vợ chồng bà Thuận
- Quyết đònh giải quyết việc dân sự số 20/DSST ngày 4/2/x+1 của TAND TP H-
tỉnh N
7 / Quan điểm của Anh đối với yêu cầu của ông Xuân ?
- ông Xuân yêu cầu các việc như trên là hợp lý , vì :
+ toàn bộ các việc nầy đều có liên quan với nhau và cùng một chủ thể là
vợ chồng bà Thuận
+ Hợp đồng vay tiền ( điều 471 BLDS 2005)ký giửa ông Xuân và vợ chồng
bà Thuận hợp pháp , tuân thủ các quy đònh của pháp luật, được làm thành văn
bản và có công chứng
+ và tài sản (căn nhà) mà vợ chồng bà Thuận đã thế chấp trong hợp đồng
vay tiền trên phải được xử lý để thanh toán khoản nợ của vợ chồng bà Thuận
cho ông Xuân (điều 355 BLDS 2005)
8 / Hãy nhận xét về quyết đònh đưa vụ án ra xét xử ( nhận xét về phần
nội dung nói trên) ?
- về nội dung của Quyết đònh : tuân thủ đầy dủ các quy đònh theo khoản 1 điều
195 BLDS
- tuy nhiên về yêu cầu của ông Xuân : chỉ ghi một yêu cầu , còn thiếu hai yêu
cầu kia của ông Xuân theo Đơn yêu cầu
9 / Anh đề xuất quan điểm của mình với tư cách là LS của ông Xuân trước
Phương và ơng Hải được Uỷ ban nhân dân quận Đống Đa cấp giấy phép số 993 và số 995 xây
dựng mới các căn nhà trên.
Ngày 04/07/X-2, bà Phương (bên A) và Cơng ty trách nhiệm hữu hạn K (gọi tắt là
cơng ty K) (bên B) ký kết hợp đồng với các nội dung chính như sau:
- Cơng ty nhận thực hiện việc thiết kế cơng trình xây dựng nhà ở gồm một hầm, một
trệt và hai lầu tại số nhà 12, 13, 14 phố M, phường Láng Hạ, quận Đống Đa, Thành phố Hà
nội. Hồ sơ thiết kế bao gồm: Bản vẽ kiến trúc, bản vẽ kết cấu, bản vẽ điện nước và phối cảnh
màu.
- Giá trị hợp đồng mà bà Phương phải thanh tốn là 28.000.000 đồng.
- Thời gian thực hiện hợp đồng là 04 tháng (từ ngày 04/07/X-2 đến ngày 04/11/X-2).
Thực hiện hợp đồng kể trên, ngay sau ký kết bên bà Phương đã giao trước cho Cơng ty
K số tiền 10.000.000 đồng. Trong q trình thực hiện tiếp theo thì hai bên xảy ra tranh chấp.
Theo lời trình bày của phía đại diện cơng ty K: Đến ngày 12/12/X-2 (chậm hơn thoả thuận 01
tháng) Cơng ty mới giao bản vẽ thi cơng và phối cảnh. Lý do là bên bà Phương có sự thay đổi
u cầu trong q trình thực hiện (u cầu thiết kế tăng thêm 01 tầng thay vì làm tầng lửng).
Tiếp sau đó, do bà Phương thay đổi u cầu nên cơng ty đã thiết kế bản vẽ mới và giao vào
ngày 17/02/X-1. Đến ngày 01/04/X-1, Cơng ty giao tiếp bản vẽ thống kê thép tầng trệt và
móng. Trong thời gian này, Cơng ty có nhận thêm 5.000.000 đồng của bà Phương.
Ngày 20/1/X cơng ty K muốn làm đơn khởi kiện đòi tiền thiết kế bản vẽ, phía cơng ty
u cầu bà Phương phải trả 53.000.000 đồng (năm ba triệu đồng chẵn) gồm: 13.000.000 đồng
tiền còn lại của hợp đồng ngày 04/07/2004; 6.000.000 đồng do phải thiết kế thêm 01 tầng và
34.000.000 đồng do thiết kế lại tồn bộ bản vẽ mới.
Giả sử anh (chị) là luật sư của cơng ty K.
Câu hỏi 1: (1,5 điểm)
Anh (chị) cần trao đổi với khách hàng của mình những vấn đề gì trước khi khởi kiện?
Câu hỏi 2: (1,5 điểm)
Anh (chị) hãy xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án?
Tình tiết bổ sung
Sau khi cơng ty K ký hợp đồng thiết kế xây dựng cơng trình nhà ở với bà Phương.
Cơng ty K ký tiếp hợp đồng dịch vụ với cơng ty cổ phần tư vấn, thiết kế, xây dựng P (gọi tắt
thuận trước nên không đồng ý trả khoản tiền này.
Câu hỏi 6: (1,5 điểm)
Anh (chị) hãy xác định trọng tâm vấn đề cần chứng minh trong vụ án này?
Tình tiết bổ sung
Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không thành. Vì vậy, Tòa án đã quyết định đưa vụ
án ra xét xử. Tại phiên tòa, bà Phương đề nghị hoãn phiên tòa để đề nghị Tòa án xem xét
thẩm định tại chỗ làm căn cứ xác định bản vẽ thiết kế của công ty K không sử dụng được về
mặt kỹ thuật thiết kế, thực tế việc xây dựng nhà của bà Phương không hề sử dụng phần thiết
kế phát sinh của công ty K.
Câu hỏi 7: (1 điểm)
Anh (chị) hãy nêu các lập luận để đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận hoãn
phiên tòa theo yêu cầu của bà Phương?
Tình tiết bổ sung
Qua thẩm vấn tại phiên tòa: Trong quá trình thực hiện hợp đồng bên Công ty K đã
giao các bản vẽ thiết kế chậm hơn so với sự thoả thuận. Lý do của sự chậm trễ này được hai
bên nêu ra khác nhau:
- Phía bà Phương cho rằng: Do nguyên đơn chậm trễ thực hiện hợp đồng. Hai bên
không có văn bản nào thể hiện sự thoả thuận cụ thể về việc thực hiện bản vẽ mới, về chi phí
phải thanh toán cho nhau do việc thực hiện bản vẽ mới…
- Phía công ty K cho rằng: Do bà Phương thường xuyên thay đổi yêu cầu thiết kế.
Công ty K xuất trình các chứng cứ chứng minh công ty thực hiện hợp đồng trễ được sự đồng
ý của bà Phương. Bà Phương đã ký nhận các bản vẽ mà Công ty thực hiện, như vậy bà
Phương đã đồng ý với chất lượng các bản vẽ đã thực hiện. Đối với bản vẽ thiết kế mới mặc dù
không có văn bản thể hiện sự thỏa thuận của công ty và bà Phương nhưng thực tế bà Phương
đã ký nhận với công ty bản vẽ thiết kế mới vào ngày 17/2/2005 nên bà Phương phải trả thêm
cho công ty tiền làm lại bản vẽ thiết kế mới.
Câu hỏi 8: (1,5 điểm)
18
Trên cơ sở tất cả các tình tiết của vụ án. Anh (chị) trình bày bản luận cứ bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của cơng ty K tại phiên tòa sơ thẩm.
…….ngày tháng năm
ĐƠN KHỞI KIỆN
( v/v giải quyết tranh chấp về hợp đồng thiết kế XD CT nhà ở)
Kính gửi : Tòa án nhân dân ………huyện T – TP Hà nội
Nguyên đơn :
- Công ty TNHH K
Quyết đònh thành lập số….nợi cấp….ngày ….
Số tài khoản … tại ….
Do ông …….làm đại diện
Đòa chỉ :….
- Theo ủy quyền số :… ( trường hợp nguyên đơn ủy quyền cho người đại diện
theo ủy quyền
Đòa chỉ :….
Bò đơn :
- Họ và tên : bà…… Phương
Đòa chỉ :….
Người có quyền lợi , nghóa vụ liên quan
- Công ty CP tư vấn , thiết kế, xây dựng P , đòa chỉ :….
- Công ty TNHH xây dựng thương mại H , đòa chỉ :….
19
Trình bày nội dung vụ kiện :……
Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình , phía nguyên đơn kính đề nghò
Tòa án ND huyện T – TP Hà nội
Xem xét giải quyết tranh chấp theo những yêu cầu cụ thể sau :
Đề nghò Tòa án buộc bà Phương phải thanh toán tiền thiết kế bản vẽ bao
gồm:
- tiền còn lại chưa thanh toán của hợp đồng ngày 04/7/2004 : 13 triệu đồng
- tiền thiết kế thêm 01 tầng : 6 triệu đồng
- tiền thiết kế lại toàn bộ bản vẽ mới: 34 triệu đồng
- Theo khoản 4 điều 56 BLTTDS 2004, Công ty CP tư vấn , thiết kế, xây dựng P và
Công ty TNHH xây dựng thương mại H là người có quyền lợi , nghóa vụ liên
quan trong vụ tranh chấp nầy
- Vì vậy cần triệu tập Cty P và Cty H tham gia tố tụng với tư cách là người có
quyền lợi và nghóa vụ liên quan vì tranh chấp giửa bà Phương và Cty K có liên
quan đến 2 Cty nầy : 2 Cty nầy đã ký hợp đồng với Cty K để thực hiện một số
công việc theo hợp đồng Cty K đã ký với bà Phương
5 / Quan điểm của anh đối với vấn đề trên
- ông Hải (chồng bà Phương) không hề tham gia trong quan hệ hợp đồng giửa bà
Phương và Cty K , vì vậy không cần thiết phải triệu tập ông Hải tham gia với tư
cách bò đơn trong vụ án , vì bà Phương chính là người Cty K khởi kiện
6 / Xác định Trọng tâm vấn đề cần chứng minh trong vụ án nầy ? :
- phải chứng minh việc Cty giao bản vẽ chậm hơn 01 tháng là do bà Phương có
thay đổi yêu cầu : thiết kế tăng thêm 1 tầng thay vì làm tầng lửng
- sau đó bà Phương lại thay đổi yêu cầu nên Cty phải thiết kế bản vẽ mới
20
- như vậy việc chậm trể của Cty do từ sự thay đổi yêu cầu của bà Phương
- giá trò đã ký trong hợp đòng ngày 04/7/2004 là giá trò của công việc đã thỏa
thuận theo thiết kế củ , chưa thay đổi nên khi thay đổi thì tiền thiết kế phải tăng
thêm
7/ Hãy lập luận để đề nghò Hội đồng xét xử không chấp nhận hoãn
phiên tòa theo yêu cầu của bà Phương :
- việc bà Phương có yêu cầu thay đổi thiết kế làm Cty K phải thiết kế lại và
phải thực hiện bản vẽ mới là đã có thực hiện
- việc bà Phương có sử dụng thiết kế phát sinh nầy hay không , không liên quan
gì đến nghóa vụ của bà Phương đối với Cty K trong hợp đồng đã ký.
_ về phía mình, Cty K đã làm xong nghóa vụ, thì ngược lại, bà Phương phải thực
hiện nghóa vụ của mình , bà Phương không thể đưa ra yêu cầu thẩm đònh lại để
xin hoản phiên tòa vì luật pháp không quy đònh trong trường hợp nầy và phiên
tòa cũng đã tiến hành hợp lệ.
gia đình chị (Cơng ty trách nhiệm hữu hạn M ở Thanh Hố)
Cơng ty L cho rằng việc làm của chị T (tự ý chuyển nhiều đơn hàng xuất khẩu cho
cơng ty của gia đình) đã gây thiệt hại cho cơng ty về kinh tế, vi phạm nội quy và quy chế kinh
doanh của cơng ty. Ngày 7/6/X, giám đốc cơng ty đã ra Quyết định số 303/QĐ đình chỉ cơng
tác Trưởng phòng KD xuất nhập khẩu 6 đối với chị T và u cầu chị làm kiểm điểm.
21
Ngày 1/7/X và ngày 30/7/X, chị T đã làm bản kiểm kiểm xác nhận: Tháng 1/X, chị đã
chuyển một đơn hàng xuất khẩu trị giá 6.782 USD cho 1 công ty của em rể chị tại Thanh Hóa
mà không báo cáo giám đốc công ty. Sở dĩ chị làm việc đó là do chị hiểu công ty đã khoán
doanh số cho phòng tự tìm khách hàng, nghĩa là hoàn thành kế hoạch nộp về công ty. Trong
bản kiểm điểm chị T đã nhận lỗi và xin chịu hình thức kỷ luật tương ứng.
Ngày 6/8/X, giám đốc Công ty L ra Quyết định số 417/QĐ kỷ luật chị T với hình thức
kỷ luật là chuyển làm việc khác có mức lương thấp hơn trong thời hạn tối đa là 6 tháng. Lý do
công ty đưa ra là chị T đã vi phạm điểm a khoản 1 Điều 85 Bộ luật lao động và Quy chế quản
lý hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.
Ngày 27/8/X, Giám đốc công ty L lại ra Quyết định số 473/QĐ kỷ luật chị T theo hình
thức sa thải với lý do: Mức kỷ luật chuyển làm công việc khác là quá nhẹ, do chị T đã vi
phạm điểm a khoản 1 Điều 85 Bộ luật lao động và vi phạm nội quy lao động, quy chế quản lý
hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.
Cho rằng Quyết định kỷ luật sa thải số 473/QĐ của Giám đốc Công ty L đối với mình
là trái pháp luật. Ngày 10/1/X+1, chị T đã đến Văn phòng luật sư Q và cộng sự yêu cầu luật
sư giúp chị khởi kiện vụ tranh chấp tại tòa án.
Câu hỏi 1 (1 điểm)
Xác định tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp giữa chị T và Công ty L trong
trường hợp chị T quyết định khởi kiện. Lý giải cho sự lựa chọn của anh (chị)?
Tình tiết bổ sung
Khi trao đổi với luật sư, chị T cho biết: tranh chấp giữa chị và công ty L đã được
Thanh tra lao động quận Đống Đa giải quyết. Tại cuộc họp giải quyết, giám đốc công ty L đã
đồng ý hủy Quyết định số 473/QĐ kỷ luật sa thải chị, bồi thường cho chị tiền lương trong
những ngày không được làm việc. Thanh tra lao động quận đã lập Biên bản hòa giải thành.
Anh (chị) có đồng ý với quan điểm trên khơng? vì sao?
Tình tiết bổ sung
Tại Bản tự khai, chị T cho rằng: việc cơng ty ra QĐ số 473/QĐ kỷ luật sa thải chị là
trái pháp luật vì: ngày 7/8/X, chị đã có đơn xin nghỉ phép vì người mệt mỏi và nộp cho
Trưởng phòng Tổ chức. Chiều ngày 7/8/X, chị bị rối loạn tuần hỗn não chóng mặt khơng đi
lại được, chị phải đi cấp cứu tại Bệnh viện E và ngày 8/8/X chị vẫn vào viện khám lại. Ngày
12/8/X, chị đã khám bệnh tại khoa Bảo hiểm y tế và được chuyển đến Bệnh viện Y học dân
tộc Hà Nội để điều trị và được nằm viện đến ngày 9/9/X. Trong thời gian chị nằm viện, gia
đình chị đã đem Sổ y bạ đến nộp cho Phòng Tổ chức của Cơng ty. Ngày 20/8/X, chị Yến –
bác sỹ, chủ tịch cơng đồn cơng ty và một số chị em đã đến thăm chị tại Bệnh viện Y học dân
tộc Hà Nội.
Đại diện Cơng ty L cho rằng: Sau khi Giám đốc Cơng ty ra Quyết định kỷ luật số
417/QĐ chuyển chị T làm cơng việc khác có mức lương thấp hơn trong thời hạn tối đa là 6
tháng do cán bộ nhân viên trong cơng ty phản đối quyết định như vậy là q nhẹ, mặt khác chị
T đã tự ý nghỉ việc từ ngày 7/8/X khơng có lý do chính đáng cho nên Cơng ty đã họp lại hội
đồng kỷ luật. Cơng ty đã 3 lần mời chị T bằng giấy mời đưa đến nhà chị và cho người nhà chị
T nhận, song chị T khơng đến. Do đó ngày 27/8/X, Cơng ty đã họp Hội đồng kỷ luật vắng mặt
chị T. Tại cuộc họp này, Cơng ty đã quyết định sa thải chị T vì vi phạm Nội quy cơng ty và vi
phạm điểm a khoản 1 Điều 85 BLLĐ.
Việc chị T tự ý đi khám bệnh ngày 7 và ngày 8/8/X và nằm viện từ ngày 12/8/X đến
ngày 9/9/X cơng ty có đi thăm nhưng khơng chấp nhận việc nằm viện. Vì Nội quy cơng ty
quy định: cán bộ trong cơ quan phải khám bệnh tại y tế cơ quan, chỉ khi y tế cơ quan khơng
chữa được mới đi khám bệnh ở ngồi và phải được y tế cơ quan giới thiệu (trừ trường hợp
bệnh hiểm nghèo và cấp cứu). Trường hợp bệnh của chị T khơng phải là bệnh hiểm nghèo.
Do đó việc chị T khơng đến họp hội đồng kỷ luật là cố tình khơng đến.
Câu hỏi 7: (2 điểm)
Là luật sư bảo vệ quyền lợi cho chị T, anh (chị) cần làm rõ vấn đề gì trong q trình
nghiên cứu hồ sơ để khẳng định Quyết định kỷ luật sa thải số 473/QĐ của Cơng ty L đối với
chị T là trái pháp luật
Câu hỏi 8: ( 2 điểm)
3/ Xác đònh quan hệ pháp luật có tranh chấp trong vụ kiện trên ?
- quan hệ pháp luật có tranh chấp trong vụ kiện trên : tranh chấp về xử lý kỷ
luật lao động theo hình thức sa thải theo điểm a khoản 1 điều 31 BLTTDS
4/ LS hãy giúp chị T xác định những tài liệu , chứng cứ gửi kèm theo đơn khởi kiện để
chứng minh cho u cầu KK của chị T là có căn cứ hợp pháp :
- Quyết định chuyển cơng tác về Cty XNK L
- Quyết định bổ nhiệm của chị T làm Trưởng phòng KD XNK 6
- hợp đồng lao động khơng xác định thời hạn ngày 05/7/x-9 giửa chị T và Công ty L
- Đơn hàng xuất khẩu trực tiếp trị giá 6.782 USD
- Quyết định số 303/QĐ đình chỉ cơng tác Trưởng phòng KD của chị T
- Bản kiểm điểm việc sai phạm của chị T
- Quyết định số 417/QĐ ngày 6/8/x kỷ luật chị T với hình thức là chuyển làm cơng việc khác
có mức lương thấp hơn
- Quyết định số 473/QĐ ngày 27/8/x kỷ luật chị T theo hình thức sa thải
- Biên bản hòa giải thành của Thanh tra lao động quạn Đống đa
5/ Anh có đồng ý với cách xác định tư cách đương sự của Tòa án khơng ? tại sao?
Xác đònh của Tòa án :
Nguyên đơn : chị T :đồng ý
Bò đơn : Cty L : đồng ý
Người có quyền và nghóa vụ liên quan : Cty TNHH M (tại Thanh hóa):không
đồng ý
Vì : theo khoản 4 điều 56 BLTTDS : việc giải quyết vụ tranh chấp nầy khơng liên quan đến
quyền lợi , nghĩa vụ của Cty M nầy
6/ Anh có dồng ý với quan điểm trên khơng ? vì sao?
Khơng đồng ý với quan điểm trên , vì : giám đốc Cty phát hiện vi phạm của chị vào tháng
6/x thì đến ngày 2/8/x và ngày 27/8/x (2 tháng) Cty mới họp hội đồng kỷ luật và ra quyết
định kỷ kuật sa thải chị T là vẫn còn thời hiệu xử lý kỷ luật lao động theo điều 86 BLLĐ,
mục 1 khoản 3 điều 1 Nghị định của CP số 33/2003/NĐ-CP ngày 2/4/2003(tối đa 6 tháng)
7/ Là LS bảo vệ quyền lợi cho chị T,anh cần làm rỏ vấn đề gì trong q trình nghiên
cứu hồ sơ để khẳng định QĐ kỷ luật sa thải số 473/QĐ của Cty L đối với chị T là trái