Phân tích nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn tại Ngân hàng Phát triển nhà ĐBSCL – Chi nhánh An Giang
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU
1.1 Lý do chọn đề tài
Trong thực tế, nhu cầu vay vốn của xã hội đã có từ lâu và trở thành một vấn đề có thật
đòi hỏi cần được quan tâm hợp lý hơn trong xã hội ngày nay, từ những người nông dân,
những người mua bán nhỏ, đến những nhà kinh doanh hay những nhà đầu tư đều có nhu
cầu về vốn. Tuy nhiên, xã hội vẫn tồn tại một thực trạng đó là có người thừa vốn, nhưng
cũng có người thiếu vốn dẫn đến một sự mất cân đối.
Xuất phát từ thực tiễn trên, ngân hàng ra đời và đã cung cấp những hoạt động như là:
tiết kiệm, cho vay,… từ đó tình trạng trên được giải quyết nhanh chóng, một mặt nhằm
tập trung nguồn vốn từ trong dân, mặt khác dùng nguồn vốn huy động được để cho vay
lại, đây cũng là một trong những chức năng quan trọng của ngân hàng.
Từ những đặc điểm, vị trí địa lý và tiềm năng của vùng ĐBSCL, Ngân hàng PTN
ĐBSCL ra đời, góp phần cải thiện đời sống của người dân ĐBSCL nói chung và người
dân AG nói riêng.
Ngân hàng PTN ĐBSCL – Chi Nhánh An Giang hoạt động với mục tiêu cho vay
XDSCN không chỉ phù hợp với quan niệm của người dân đó là “an cư lạc nghiệp”, mà
bên cạnh đó Ngân hàng còn mở rộng cơ cấu cho vay để đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh
doanh… của người dân trong trong ngắn hạn, giúp người dân phát triển kinh tế gia đình,
tạo tiền đề phát triển nền kinh tế của tỉnh AG. Với cơ cấu cho vay đa dạng, phù hợp với
nhu cầu của người dân tại TPLX nên Ngân hàng PTN ĐBSCL – Chi Nhánh An Giang
được ưu tiên lựa chọn để thực hiện đề tài “Phân tích nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn tại
Ngân hàng PTN ĐBSCL – Chi Nhánh An Giang” để có thể hiểu rõ hơn hoạt động cho
vay của ngân hàng.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Lĩnh vực Tài chính - Ngân hàng của VN trong thời kỳ hậu WTO sẽ phải cạnh tranh
gay gắt hơn, đòi hỏi những tổ chức tín dụng phải có những bước đổi mới phù hợp.
Với lý do trên, đề tài được thực hiện nhằm mục tiêu tìm hiểu về hoạt động của Ngân
hàng PTN ĐBSCL – Chi Nhánh An Giang, đặc biệt phân tích hoạt động tín dụng ngắn
hạn. Qua đó, đề ra những biện pháp góp phần nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân
hàng.
DN là chỉ tiêu phản ánh một thời điểm xác định nào đó ngân hàng hiện còn cho
vay bao nhiêu, và đây cũng là khoản ngân hàng cần phải thu về.
2.1.5 Nợ quá hạn
NQH là chỉ tiêu phản ánh các khoản nợ khi đến hạn mà khách hàng không trả
được cho ngân hàng, nếu không có nguyên nhân chính đáng thì ngân hàng sẽ chuyển
từ tài khoản dư nợ sang tài khoản quản lý khác gọi là NQH.
2.2 Vấn đề chung về tín dụng
2.2.1 Bản chất, chức năng và vai trò của tín dụng
Bản chất tín dụng
Tín dụng là mối quan hệ giữa người cho vay và người đi vay tạo nên mối
quan hệ chặt chẽ với nhau qua việc vận động giá vốn tín dụng được biểu hiện
dưới hình thức tiền tệ hay hàng hóa
2
.
1
Ngân hàng Nhà Nước. 2001. Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 về việc ban hành
quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng. Hà Nội.
SVTH: Trần Thị Khánh An
Trang 2
Phân tích nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn tại Ngân hàng Phát triển nhà ĐBSCL – Chi nhánh An Giang
Chức năng tín dụng
Gồm 3 chức năng như sau:
- Chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ:
Đây là chức năng cơ bản, nhờ chức năng này mà nguồn vốn tiền tệ được
điều hoà từ nơi “thừa” sang nơi “thiếu” để nhằm phát triển kinh tế xã hội. Tập
trung và phân phối lại vốn tiền tệ là hai mặt hợp thành chức năng cốt lõi của
tín dụng.
+ Tập trung lại vốn tiền tệ: nhờ vào sự hoạt động của hệ thống các tổ chức
tín dụng và của các cá nhân, doanh nghiệp, các tổ chức đoàn thể xã hội được
tập hợp hình thành nên một nguồn vốn đủ lớn sẵn sàng phục vụ cho hoạt động
,
4
,
5
Hồ Diệu. 2001. “Bản chất, chức năng và vai trò của tín dụng” trong Hồ Diệu (Chủ biên). Tín Dụng
Ngân Hàng. TP Hồ Chí Minh: NXB Thống kê.
4
SVTH: Trần Thị Khánh An
Trang 3
Phân tích nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn tại Ngân hàng Phát triển nhà ĐBSCL – Chi nhánh An Giang
việc kiểm soát các hoạt động ấy nhằm ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực lãng
phí, vi phạm pháp luật… trong hoạt động sản xuất kinh doanh
5
.
Vai trò của tín dụng
Nói đến vai trò của tín dụng là nói đến sự tác động của nó đối với nền kinh tế
- xã hội, tín dụng có vai trò đặc biệt to lớn:
Góp phần thúc đẩy sản xuất - lưu thông hàng hoá phát triển: trước hết là
nguồn cung ứng vốn cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, là công cụ để tập
trung vốn và thúc đẩy tích cực vốn cho các xí nghiệp, tổ chức kinh tế.
Góp phần ổn định tiền tệ, ổn định giá cả, khi thực hiện chức năng tập trung và
phân phối lại vốn tiền tệ, tín dụng góp phần làm giảm khối lượng tiền lưu hành
trong nền kinh tế, đặc biệt là tiền mặt trong tay các tầng lớp dân cư, làm giảm áp
lực lạm phát, góp phần ổn định tiền tệ. Mặt khác, do cung ứng vốn tín dụng cho
sản xuất ngày càng tăng của xã hội, nhờ đó góp phần làm ổn định thị trường giá
cả trong nước.
Góp phần ổn định đời sống, tạo công ăn việc làm và ổn định trật tự xã hội:
thúc đẩy kinh tế phát triển, sản xuất hàng hoá và dịch vụ ngày càng gia tăng thoả
mãn nhu cầu người lao động; tạo khả năng khai thác các tiềm năng sẵn có trong
xã hội về tài nguyên thiên nhiên, lao động, đất rừng… thu hút nhiều lực lượng lao
Phân tích nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn tại Ngân hàng Phát triển nhà ĐBSCL – Chi nhánh An Giang
- Người vay vốn có mục đích sử dụng vốn hợp pháp.
- Có phương án sản xuất kinh doanh, dự án đầu tư khả thi có hiệu quả.
- Thực hiện các quy định về đảm bảo tiền vay theo quy định của Chính phủ và
hướng dẫn của Thống đốc NHNN Việt Nam
8
.
2.2.3 Một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng ngắn hạn
• Hệ số thu nợ ngắn hạn
Chỉ tiêu này dùng để đánh giá hiệu quả thu nợ của ngân hàng. Phản ánh
trong một thời kỳ nào đó, với doanh số cho vay nhất định ngân hàng sẽ thu
được bao nhiêu đồng vốn, tỷ lệ này càng cao càng tốt.
• Tỷ lệ dư nợ/ Tổng vốn huy động
Phản ánh ngân hàng cho vay được bao nhiêu so với nguồn vốn huy động.
Chỉ tiêu này cho thấy hiệu quả sử dụng vốn huy động của ngân hàng.
• Tỷ lệ dư nợ/ Tổng tài sản
Chỉ tiêu này dùng để đánh giá mức độ tập trung vốn ngân hàng, chỉ tiêu
này càng lớn thì khả năng thu được lợi nhuận càng cao, đồng thời cũng tiềm
ẩn rủi ro.
• Vòng quay vốn tín dụng
Vòng quay vốn tín dụng đo lường tốc độ luân chuyển vốn tín dụng của
ngân hàng, thời gian thu hồi nợ của ngân hàng. Vòng quay vốn tín dụng càng
nhanh được coi là tốt và việc đầu tư càng an toàn.
88
Nguyễn Đăng Dờn. 2004. “Tín dụng ngắn hạn tài trợ cho kinh doanh” trong Nguyễn Đăng Dờn (Chủ
biên). Tín Dụng Ngân Hàng. TP Hồ Chí Minh: NXB Thống kê.
SVTH: Trần Thị Khánh An
Trang 5
( Doanh số thu nợ / Doanh số cho vay )
( Dư nợ /
Cho vay trung hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 12 tháng đến 60
tháng. Cho vay dài hạn là các khoản có thời hạn cho vay từ trên 60 tháng trở lên
10
.
2.4 Trả nợ gốc và lãi
·Căn cứ vào đặc điểm sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, khả năng tài chính, thu nhập và
nguồn trả nợ của khách hàng, chi nhánh Ngân hàng PTN ĐBSCL nơi cho vay và khách
hàng thoả thuận về việc trả nợ gốc và lãi tiền vay như sau:
Các kỳ hạn trả nợ gốc, nợ lãi với số tiền phải trả mỗi kỳ bằng nhau. Được áp dụng
cho các khách hàng có thu nhập thường xuyên, đều đặn.
Tính theo phương pháp trả góp:
9
Ngân hàng PTN ĐBSCL. 2005. Quyết định số 43/2005/QĐ-NHN-HĐQT ngày 17/5/2005 về việc ban
hành quy định chung về cho vay đối với khách hàng. TP Hồ Chí Minh.
10
Ngân hàng PTN ĐBSCL. 2005. Quyết định số 43/2005/QĐ-NHN-HĐQT ngày 17/5/2005 về việc ban
hành quy định chung về cho vay đối với khách hàng . TP Hồ Chí Minh.
SVTH: Trần Thị Khánh An
Trang 6
( NQH /
∑
Dư nợ ) x 100
Phân tích nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn tại Ngân hàng Phát triển nhà ĐBSCL – Chi nhánh An Giang
NV: Tổng nợ vay ban đầu.
A: số tiền phải trả mỗi kỳ bằng nhau, bao gồm nợ gốc và lãi.
i: lãi suất cho vay.
n: số kỳ trả nợ.
Các kỳ hạn trả nợ gốc, nợ lãi tiền vay theo định kỳ hàng tháng, quý, vụ, chu kỳ
SXKD hoặc trả lãi cùng với kỳ trả nợ gốc (phương pháp tích lãi theo tích số trên số dư nợ
vay của từng giấy nhận nợ).
Ngân hàng PTN ĐBSCL. 2005. Quyết định số 43/2005/QĐ-NHN-HĐQT ngày 17/5/2005 về việc ban
hành quy định chung về cho vay đối với khách hàng. TP Hồ Chí Minh.
SVTH: Trần Thị Khánh An
Trang 7
A = NV x [ i / ( 1 - (1+i)ˉⁿ ) ]
Phân tích nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn tại Ngân hàng Phát triển nhà ĐBSCL – Chi nhánh An Giang
- Nhóm 1: Nợ đủ tiêu chuẩn
Các khoản nợ trong hạn mà các tổ chức tín dụng đánh giá là có đủ khả năng thu hồi
đầy đủ cả gốc và lãi đúng thời hạn;
Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 1 theo quy định tại khoản 2 Điều 21
theo quyết định số 43/2005/QĐ-NHN-HĐQT ngày 17/5/2005 của Ngân hàng PTN
ĐBSCL.
- Nhóm 2: Nợ cần chú ý
Các khoản nợ quá hạn dưới 90 ngày;
Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ trong hạn theo thời hạn nợ đã cơ cấu lại;
Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 2 theo quy định tại khoản 3 và khoản 4
Điều 21 theo quyết định số 43/2005/QĐ-NHN-HĐQT ngày 17/5/2005 của Ngân hàng
PTN ĐBSCL.
- Nhóm 3: Nợ dưới tiêu chuẩn
Các khoản nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày;
Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn đã cơ
cấu lại;
Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 3 theo quy định tại khoản 3 và khoản 4
Điều 21 theo quyết định số 43/2005/QĐ-NHN-HĐQT ngày 17/5/2005 của Ngân hàng
PTN ĐBSCL.
- Nhóm 4: Nợ nghi ngờ
Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày;
Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày theo thời
hạn đã cơ cấu lại;
Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 4 theo quy định tại khoản 3 và khoản 4
ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay. Trường hợp trả nợ vay trước hạn,
chi nhánh thoả thuận với khách hàng số lãi tiền vay phải trả cho phù hợp nhưng không
được thấp hơn mức lãi tiền vay của cùng loại cho vay tại thời điểm trả nợ.
- Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng:
+ Căn cứ nhu cầu của khách hàng, chi nhánh Ngân hàng PTN ĐBSCL nơi cho
vay và khách hàng thoả thuận trong hợp đồng tín dụng: hạn mức tín dụng dự phòng,
thời hạn hiệu lực của hạn mức dự phòng. Chi nhánh Ngân hàng PTN ĐBSCL nơi cho
vay cam kết đáp ứng nguồn vốn cho khách hàng bằng đồng Việt Nam hoặc ngoại tệ,
trong thời gian hiệu lực của hợp đồng, nếu khách hàng không sử dụng hoặc sử dụng
không hết hạn mức tín dụng dự phòng, khách hàng vẫn phải trả phí cam kết cho hạn
mức tín dụng dự phòng đó.
+ Chi nhánh có nhu cầu mở hạn mức tín dụng dự phòng vượt khả năng cân đối
về nguồn vốn và quyền phán quyết, phải trình Tổng Giám đốc Ngân hàng PTN
ĐBSCL quyết định.
- Phương thức cho vay khác: Ngân hàng PTN ĐBSCL cho vay xây dựng, sửa chữa
mua nhà ở, cho vay tiêu dùng, cho vay có bảo đảm bằng chứng từ có giá, cho vay cầm cố
vàng, xe ôtô, xe gắn máy và các phương thức cho vay khác thực hiện theo hướng dẫn của
Tổng Giám đốc Ngân hàng PTN ĐBSCL và quy định hiện hành của Thống đốc NHNN
12
.
2.6 Rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín
dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của
mình theo cam kết
13
.
12
Ngân hàng PTN ĐBSCL. 2005. Quyết định số 43/2005/QĐ-NHN-HĐQT ngày 17/5/2005 về việc ban
hành quy định chung về cho vay đối với khách hàng. TP Hồ Chí Minh.
13
chưa đầy đủ, hệ thống pháp lý chưa đồng bộ, thường xuyên thay đổi. Vai trò của các cơ
quan thanh tra, kiểm toán chưa được phát huy.
- Từ khách hàng: Do ảnh hưởng bởi các nguyên nhân như thiên tai, lạm phát tiền tệ,
chi phí tăng, thay đổi bất thường về giá cả sản phẩm, thị hiếu tiêu dùng thay đổi… dẫn
đến tình trạng khó khăn cho doanh nghiệp, nông dân, các hộ kinh doanh cá thể và các cá
nhân khác.
SVTH: Trần Thị Khánh An
Trang 10
Phân tích nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn tại Ngân hàng Phát triển nhà ĐBSCL – Chi nhánh An Giang
CHƯƠNG 3: GIỚI THIỆU NGÂN HÀNG PTN ĐBSCL
CHI NHÁNH AN GIANG
3.1 Khái quát Ngân hàng Phát triển nhà ĐBSCL – Chi nhánh An Giang
Ngân hàng PTN ĐBSCL ra đời theo quyết định 769/TTG (18/09/97) của Thủ tướng
Chính phủ. Từ đó đã làm thay đổi diện mạo của những ngôi nhà nơi đây, từ những ngôi
nhà tranh tre được thay thế dần bằng những ngôi nhà khang trang, vững chắc để người
nông dân yên tâm làm kinh tế.
Ngân hàng PTN ĐBSCL được thống đốc NHNN Việt Nam phê chuẩn điều lệ về tổ
chức và hoạt động theo quyết định 408/QĐ – NHNN 5 (08/12/97). Ngân hàng khai
trương và chính thức đi vào hoạt động đầu tháng 04/1998.
Để mở rộng quy mô hoạt động, Ngân hàng PTN ĐBSCL đã thành lập chi nhánh theo
công văn số 390/CV – NHNN 5 ( 07/05/98) của Thống đốc NHNN và quyết định 18/QĐ
– HĐQT (27/05/99) của Hội đồng quản trị Ngân hàng PTN ĐBSCL.
Ngân hàng PTN ĐBSCL – Chi Nhánh An Giang là đơn vị kinh tế cấp I trực thuộc
Hội sở tại TP Hồ Chí Minh, hoạt động theo điều lệ của tổ chức và Ngân hàng PTN
ĐBSCL, theo sự phân cấp uỷ quyền của Tổng Giám đốc Ngân hàng PTN ĐBSCL.
SVTH: Trần Thị Khánh An
Trang 11
Phân tích nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn tại Ngân hàng Phát triển nhà ĐBSCL – Chi nhánh An Giang
Chi nhánh chính thức khai trương ngày 17/12/1999.
Tên chi nhánh: Ngân hàng Phát Triển Nhà Đồng Bằng Sông Cửu Long – Chi Nhánh
(Châu Đốc) (1)
Chi nhánh cấp II
(Châu Phú) (2)
Chi nhánh cấp II
(Tân Châu) (3)
Ban Giám Đốc
Phòng
TC - HC
Phòng
KT - NQ
Phòng
TD
Phòng
KTNB
Phân tích nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn tại Ngân hàng Phát triển nhà ĐBSCL – Chi nhánh An Giang
3.2.2 Nhiệm vụ các phòng ban
Ban Giám đốc
Giám đốc: được Hội sở bổ nhiệm, Giám đốc tổ chức và điều hành mọi hoạt
động chi nhánh.
Phó Giám đốc: được ủy quyền giải quyết công việc của đơn vị khi Giám đốc
đi vắng.
Phòng hành chính – nhân sự
- Quản lý toàn bộ mọi hoạt động liên quan đến cán bộ nhân viên trong hoạt
động của Ngân hàng.
- Sắp xếp bố trí công nhân viên phù hợp với trình độ chuyên môn.
- Cung cấp trang thiết bị, văn phòng phẩm cho hoạt động của Ngân hàng.
- Trực tiếp giải quyết các vấn đề có liên quan đến mức lương, hưu trí.
Phòng kế toán – ngân quỹ
- Thực hiện các dịch vụ thanh toán, chuyển tiền trong và ngoài nước.
Phòng kiểm tra nội bộ
- Kiểm tra, kiểm toán nội bộ các hoạt động của chi nhánh.
- Thực hiện kiểm tra, theo dõi, phát hiện sai phạm, phúc tra việc sửa chữa
những sai phạm của chi nhánh.
- Thực hiện kiến nghị của các đoàn thanh tra, kiến nghị của kiểm tra bộ nội bộ
tài chính chi nhánh, và kiểm tra việc thực hiện.
- Phối hợp với đoàn thanh tra, kiểm tra của Nhà nước, NHNN và Hội sở Ngân
hàng PTN ĐBSCL trong việc kiểm tra tại chi nhánh.
- Báo cáo kết quả công tác kiểm tra nội bộ.
- Thực hiện nhiệm vụ khác do Giám đốc giao.
3.3 Phương hướng hoạt động năm 2007
Từ những kết quả của năm 2006, theo định hướng của Hội đồng quản trị, Ban Tổng
giám đốc. Ngân hàng PTN ĐBSCL – Chi Nhánh An Giang sẽ có biện pháp cụ thể để
khắc phục những tồn tại, phấn đấu thực hiện các mục tiêu, kế hoạch năm 2007.
● Ngân hàng PTN ĐBSCL – Chi Nhánh An Giang đề ra những mục tiêu sau
- Nguồn vốn huy động tại chỗ: 270.000 triệu đồng.
- Tổng dư nợ: 910 tỉ đồng, mức tăng trưởng: 15,19%.
- Nợ xấu (nhóm 3-5): <2%/tổng dư nợ.
- Lợi nhuận trước thuế: 21.950 triệu đồng.
● Những giải pháp thực hiện trong năm 2007
- Công tác nguồn vốn:
Tập trung công tác huy động vốn, triển khai khuyến mãi phù hợp với thực tế trên
địa bàn. Phấn đấu nâng dần tỷ lệ huy động vốn tại chỗ tối thiểu trên 30%/tổng dư nợ
cho vay hiện hữu.
SVTH: Trần Thị Khánh An
Trang 14